Sinh và diệt

Một vị phàm tăng không trân trọng câu trả lời của bốn vị A La Hán vì không hiểu gì về các hiện tượng có điều kiện (saṅkhāra dhamma). Nếu biết rằng các hiện tượng có điều kiện là vô thường thì các vấn đề đã không xuất hiện với vị tỳ khưu ấy. Hiểu về các hiện tượng có điều kiện là rất quan trọng, thân tâm ở đây đều là các hiện tượng có điều kiện. Tất cả chúng đang kết thúc bằng cách diệt đi. Sinh khởi bởi các điều kiện là saṅkhāra dhamma. Kết quả của các hiện tượng sinh khởi có điều kiện cũng là saṅkhāra dhamma.

Do mùi của thức ăn nên tỷ thức (ghānaviññāṇa) sinh khởi. Mùi thức ăn là nguyên nhân và nhận biết mùi là kết quả. Thực hành tuệ quán là quan sát tiến trình nguyên nhân và kết quả. Không thấy sự diệt đi của các hiện tượng sinh khởi thì đừng mong giải thoát khỏi vòng luân hồi khổ đau (saṃsāra dukkha). Sinh khởi do nguyên nhân và các điều kiện là bản chất của sự sinh, không còn tồn tại là bản chất của sự diệt. Nếu bạn quan sát và bắt kịp với cái không tồn tại của pháp vừa sinh khởi thì đây là trí tuệ thực sự. Bằng cách nhìn thấy sinh và diệt của các hiện tượng, bạn đang phát triển trí tuệ minh sát.

Không thấy các hiện tượng sinh khởi thì bạn không thể thấy các hiện tượng diệt đi, vì đây là điểm quan trọng cần phân tích cẩn thận. Bạn phải nhìn thấy sinh khởi và diệt đi bằng quan sát, khi bạn biết sự sinh khởi thì đã sẵn sàng để biết sự diệt đi. Ngoại trừ bản chất của sinh và diệt, chúng còn lại gì? Không biết cách thực hành tuệ quán thì bạn sẽ gặp nhiều đau khổ.

Nếu bạn tìm kiếm theo cách thông thường sẽ không thể thấy chúng, chỉ khi biết điểm bắt đầu của sự sinh mới biết điểm bắt đầu của sự diệt. Những  phàm tăng chưa biết những điều này trở nên bối rối. Khi  đối tượng tiếp xúc với cơ thể, thân thức (kāyaviññāṇa) sinh khởi. Đây là pháp hữu vi, saṅkhāra dhamma. Nó sẽ kết thúc ở đâu? Nó sẽ kết thúc bằng cách diệt đi. Do đó đừng bao giờ quên rằng mọi hiện tượng sinh khởi đều diệt đi.

Sắc pháp (rupa) sinh khởi do nguyên nhân từ nghiệp (kamma), tâm (citta), nhiệt độ (utu) và thức ăn (ahara). Vì vậy sắc pháp là pháp có điều kiện nên nó phải kết thúc theo cách diệt đi. Tâm (citta) và tâm sở (cetasika) được điều kiện bởi sắc pháp(rupa), nên chúng là pháp có điều kiện, vì vậy chúng cũng phải kết thúc theo cách diệt đi. Bất cứ thân (rupa) hay tâm (nama) nào bạn có đều phải diệt đi, vì vậy đừng cầu xin bằng những lời cầu nguyện. Nếu bạn cầu nguyện cho thân này, bất cứ cuộc sống nào bạn bước vào sẽ có sẵn một cái chết đau đớn. Các uẩn của bạn chỉ tồn tại bằng sự hỗ trợ của những yếu tố khác, sau khi hết sự hỗ trợ sẽ phải chết.

Anicca vata saṅkhāra

Tất cả các hành là vô thường

Các hành chắc chắn vô thường, hành là thân và tâm của bạn, là các hiện tượng có điều kiện, chúng sẽ kết thúc ở đâu? Kết thúc bằng vô thường, anicca. Vata có nghĩa là chắc chắn, thực sự, nó thực sự có thật chứ không phải nói dối bạn. Câu kệ này cần được áp dụng vào thực hành mà không phải để tụng đọc. Nếu bạn vẫn làm điều gì đó cho pháp diệt đi thì chúng sẽ tiếp tục diễn ra như cũ. Vì vậy hãy thực hành để pháp không diệt đi, pháp vô vi (asaṅkhata dhamma) là pháp không bị diệt đi.

Bạn khóc lóc khi các hiện tượng diệt đi, bạn yêu quý các hành và rơi nước mắt vì chúng. Đó có phải là điều may mắn cho bạn không? Các bạn đang di chuyển trong khu rừng của các hành và vô thường nhưng không nhìn thấy điều đó, vì đôi mắt của bạn bị che phủ bởi những đám mây vô minh. Thậm chí bạn đã bị mù từ trước khi được sinh ra  vì ở trong bóng tối của tử cung người mẹ. Bây giờ tôi đang điều trị cho sự mù loà của bạn bằng nước thánh magga.

Mỗi ngày bạn nói bao nhiêu từ? Không thể đếm được, mặc dù vậy bạn vẫn không nhìn thấy vô thường. Bạn không chắc mọi từ sẽ biến mất sau khi nói? Nếu tôi nói rằng tất cả đều bị mù từ khi lọt lòng, sẽ không ai tin điều đó. Giờ thì bạn đã tin chưa?

Bạn nói và ngay sau đó lời nói biến mất, diệt đi. Nếu sinh và diệt kết thúc, thì đó là Niết Bàn, bạn phải đi theo chúng bằng cách lấy vô thường làm nền tảng. Bạn nhìn thấy saṅkhāra, hãy theo sau chúng một cách khăng khít rồi chúng sẽ kết thúc. Nếu không nhìn thấy nơi bắt đầu của con đường đến thành phố May Myo thì bạn không thể đến được đó. Trong cách tương tự nhìn thấy điểm bắt đầu của saṅkhāra sẽ nhìn thấy điểm kết thúc nó. Bây giờ bạn đã biết rõ ràng tại sao không thể chạm tới Niết Bàn, vì bạn chưa nhìn thấy saṅkhāra. Các pháp có điều kiện chắc chắn là vô thường.

Bạn đang thực hành để kết thúc cái mà người khác nói và trân trọng. Không có chánh niệm nên mọi người đang di chuyển mà không có định hướng. Một con giun đất không nhìn thấy gì và di chuyển theo cách nó mong muốn. Bây giờ bạn chắc chắn nhìn thấy sự kết thúc của các hiện tượng bằng cách nhìn thấy điểm khởi đầu của chúng.

Uppada vaya dhammino, các pháp sinh và diệt, không có đàn ông hay đàn bà, không có con người hay chúng sinh nào tồn tại.

Uppajjitava nirujjhanti, sinh khởi trong chính mình và đoạn diệt trong chính mình. Chắc chắn là thân và tâm không bao giờ tồn tại mãi mãi.

Tesam vupmasamo sukkho, sự tĩnh lặng hoàn toàn là Niết Bàn bình an. Không còn sự vô thường của thân tâm thì sẽ nhận ra Niết Bàn.

Sư Chân Thiện dịch

Tâm bất thiện

Cho rằng sầu muộn giống như lòng bi mẫn (karuṇā). 

Nhiều người bị đánh lừa rằng sầu muộn giống như lòng bi mẫn (karuṇā). Lo lắng, bận tâm, phiền muộn và buồn bã không phải là lòng bi mẫn. Sầu muộn giống như một người bị đâm bởi cái gai mà không rút ra được hoặc tương tự như không thể quên những người thân yêu đã mất. Tâm bi mẫn (karuṇā) kết nối với sự bình an và xả ly (upekkha). Từ bi, xả ly và trí tuệ kết nối với nhau, điều này rất vi tế và không dễ dàng để nhận ra. Nếu sầu muộn xuất hiện, nó sẽ kết nối với pháp Duyên Sinh. Bất cứ trạng thái tâm nào sinh khởi, nỗ lực hay biết thì bạn sẽ không bị lừa dối bởi sự xảo quyệt của chúng.

Bất cứ tâm nào sinh khởi, hãy quan sát về tính vô thường của tâm đó. Nếu bạn không quan sát về tâm bi mẫn (karuṇā) khi nó sinh khởi thì cũng không sao, nhưng nếu bạn quán sát thì bạn sẽ phát triển trí tuệ. Khi quan sát bạn cần phải phân biệt được sự khác nhau của các trạng thái tâm, nhận biết khi tâm sinh lên và diệt đi.

Các khái niệm cũng hữu ích theo cách riêng của chúng. Bạn có biết về lợi ích của việc gán tên? Nếu bạn từ chối sự thật thông thường, bạn sẽ không biết quan sát như thế nào. Do đó trong Satipatthana đưa ra một từ là pajanati, có nghĩa là biết rõ đối tượng. Biết cách phân biệt đối tượng sẽ biết đối tượng nào đang xuất hiện, biết chúng xuất hiện bạn sẽ biết chúng biến mất. Biết chúng biến mất là bạn thấy được tính vô thường.

Tham ái lừa gạt giống như tâm hỷ.

Tham ái và tâm hỷ (mudita) giống nhau về bản chất tươi vui. Nhưng đối tượng của chúng thì khác biệt. Vui mừng đối với tất cả mọi người là tâm hỷ còn vui mừng cho một ai đó là tham ái. Tâm hỷ đến từ chánh niệm, hoan hỷ đối với tất cả mọi người. Nói chung nếu chỉ cho một người, tham ái sẽ sinh khởi. Hãy quyết định bất cứ tâm nào sinh khởi, tôi sẽ quan sát tâm đó, thì sau đó bạn có thể làm được. Nghiệp trở nên vô hiệu nếu tham ái bị tiêu diệt, chúng bị thổi bay đi như một sợi bông. Tham ái đang bám vào các uẩn, do đó nếu bạn có thể quan sát bản chất của các uẩn là khổ thì tham ái sẽ bị tiêu diệt.

Ích kỷ đánh lừa như tâm xả

Một số người sử dụng ngôn ngữ giống như tâm xả (upekkha), nhưng chứa đựng ích kỷ và giận dữ bên trong. Tâm xả có nghĩa là nhìn mọi chúng sinh bình đẳng, hiểu rằng họ đi theo nghiệp riêng của họ. Bằng cách kiểm tra ngôn từ và giọng nói có thể biết được người đó có bình tĩnh thực sự hay không. Đố kỵ (issa), ích kỷ (macchariya), giận dữ (dosa), lo lắng và hối hận (kukkucca) kết hợp với nhau. Trong cái nhìn chỉ có cái nhìn, trong cái nghe chỉ có cái nghe sẽ trở thành tâm quân bình, xả ly (upekkha). Bất cứ tâm nào sinh khởi, chỉ cần biết tâm đó sinh khởi và quán tưởng tính vô thường của chúng. Ngược lại, nếu bạn không biết thì sẽ trở thành vô minh (avijja).

Lười biếng và sân hận

Sự cám dỗ thứ hai của ma vương (mara) là bất mãn (arati), lười biếng và chán nản, bởi vì lười biếng và chán nản ngăn cản thực hành giáo pháp. Lười biếng và chán nản là tâm sân vi tế, chúng không thích thú và bất mãn với việc thực hành nên không hài lòng, không muốn thực hành, thậm chí có thể làm cho một tỳ khưu xả y. Chúng là kẻ thù của  nỗ lực, chúng vượt qua tứ chánh cần (sammappadhana) và cản trở sự phát triển trí tuệ hiệp thế (lokiya) cũng như  trí tuệ siêu thế (lokuttara).

Lười biếng cũng dẫn tới hôn trầm (thīna) và thuỵ miên (middha). Làm phiền tới chính bản thân mình là lười biếng (kosajja) còn gây hại tới người khác là sân (dosa). Chúng rơi vào dòng chảy của luân hồi bởi vì lười biếng nên không bao giờ vượt qua được đau khổ. Lười biếng không phạm tội giống như sân. Sân thì dễ dàng biết và có thể được sửa chữa nhưng lười biếng thì khó nhận ra để thay đổi.

Đôi khi sân biến thành cảm giác cấp bách (samvega) sẽ hướng đến trí tuệ còn lười biếng phá huỷ toàn bộ cuộc sống. Lười biếng làm sao nhãng bên trong, sân làm sao nhãng bên ngoài. Lười biếng làm hãm hại tới chính bản thân người đó, sân làm hãm hại tới người khác. Với lười biếng không ai có thể sửa cho bạn, với sân người ngoài có thể sửa cho bạn. Lười biếng thì không ai biết cả, còn sân thì nhiều người biết, bởi vì người lười biếng sẽ đưa ra nhiều lý do để xa lánh sự thực hành. Nếu lười biếng được tinh luyện thì đó là một điều khủng khiếp, đây là lời cảnh báo của Đức Phật. Bạn không thể nhận ra Niết Bàn với nỗ lực bình thường. Do đó lười biếng thì không thể nhận ra được Niết Bàn.

Hoài nghi

Có 8 dạng hoài nghi (vicikiccha) sinh khởi:

  • (1) Hoài nghi về Đức Phật.
  • (2) Hoài nghi về giáo pháp.
  • (3) Hoài nghi về chư thánh tăng.
  • (4) Hoài nghi về sự thực hành của mình.
  • (5) Hoài nghi về tiền kiếp với tự ngã.
  • (6) Hoài nghi về cuộc sống tương lai.
  • (7) Hoài nghi về quá khứ và vị lai.
  • (8) Hoài nghi về pháp Duyên Sinh.

Cả trí tuệ và hoài nghi đều có cùng bản chất là điều tra và xem xét các hiện tượng. Trí tuệ có thể đưa ra quyết định nhưng hoài nghi thì không. Hoài nghi nên tâm trở nên bối rối, như một người đứng ở ngã ba đường. Khi hoài nghi (vicikiccha) xuất hiện sẽ cản trở việc quan sát tính vô thường, vì vậy ngay khi hoài nghi sinh khởi, hãy quan sát và phá huỷ chúng bằng trí tuệ.

Hoài nghi (vicikiccha) là vô minh (avijja), là chướng ngại trong việc thực hành giáo pháp. Có sự khác biệt giữa “thực hành với xem xét cẩn thận” và “không thực hành”. Người hiểu biết sẽ thực hành sau khi xem xét cẩn thận và không còn hoài nghi. Nếu bạn có điểm nào hoài nghi, hãy đến hỏi vị thầy để làm sáng tỏ điều hoài nghi đó. Nếu chúng ta không có niềm tin vào lời dạy thì những vị thầy sẽ biến mất đầu tiên.

“Tôi đã thực hành trong thời gian khá dài, tại sao tôi vẫn chưa nhận ra được giáo pháp?” Phiền não thực sự đến nhưng thiền sinh không biết điều đó và hoài nghi sinh khởi. Chỉ mình bạn mới có thể làm sáng tỏ tất cả các phiền não bên trong và nhận ra giáo pháp thật sự.

Một vài người có hoài nghi về kiếp sống quá khứ “tôi từ đâu đến?”, “điều gì diễn ra với tôi trong kiếp quá khứ?”, đó là sự điều tra về quá khứ nhưng họ không có khả năng nhận ra rằng “tâm đang suy nghĩ với tà kiến”. Thực sự chỉ có thân và tâm diễn ra trước đó, điều này không bao giờ sai. Bất cứ dạng suy nghĩ nào về con người hay chúng sinh đều dẫn tới hoài nghi. Chỉ có suy nghĩ đúng đắn mới dẫn tới hiểu biết. Những đức tin khác đang hướng suy nghĩ theo cách dẫn tới tà kiến và hoài nghi, nên sau khi chết sẽ rơi xuống cõi khổ. Điều này rất khủng khiếp, thậm chí nhiều phật tử cũng chết với tà kiến và hoài nghi. Nếu bạn biết rằng chỉ có thân và tâm tồn tại, đó là kiến thức Trung Đạo và bạn đang đi trên con đường Trung Đạo.

Cái gì diễn ra với tôi sau khi chết? Nếu bạn chưa tới được Niết Bàn, chỉ có thân và tâm sinh khởi và chỉ có thân tâm chết đi. Nếu trí tuệ tới và trở thành Đạo tuệ, nếu trí tuệ chưa tới thì sẽ có hoài nghi.

Hoài nghi về tôi từ đâu tới và tôi đi về đâu là của những người không chịu thực hành. Nếu bạn trở thành Sotapana, chỉ còn tái sinh không quá bảy kiếp sống. Nếu trở thành một vị thánh Arahant, bạn sẽ không còn tái sinh nữa. Tất cả họ đều không còn chút hoài nghi nào.

Hoài nghi về lời dạy của pháp Duyên Sinh. Đức Phật khám phá ra pháp Duyên Sinh và đặt cho nó một cái tên. Đây là một quá trình tự nhiên (sabhava niyama), sinh khởi trong tất cả đời sống chúng sinh. Do đó hãy hoài nghi rằng pháp Duyên Sinh không phải là lý thuyết, mà là tiến trình thật sự của các uẩn trong mỗi chúng sinh.

Bồn chồn (uddhacca)

Trạng thái bồn chồn, bất an (uddhacca) nghĩa là tâm không trụ trên đối tượng vô thường. Đó là sự can thiệp vào tâm trí. Ví dụ trong khi quan sát tính vô thường của cảm thọ, ngay khi cảm thọ chấm dứt và bồn chồn xuất hiện như một đốm sáng. Thay vì an trú trên đối tượng của sự quan sát thì tâm hướng tới các đối tượng giác quan bên ngoài thay thế cho vị trí của vô thường. Điều này chỉ những người hành thiền mới biết, nếu không hành thiền bạn sẽ không biết điều đó. Khi đó, bạn không biết được trạng thái của tâm vì tâm đang trôi nổi trong trạng thái lừa dối.

Nếu bạn biết cách quan sát về các cảm thọ, hãy quan sát về tâm bồn chồn như thọ trung tính (upekkha) hoặc xem rằng bồn chồn chỉ là bồn chồn. Đây là điều rất quan trọng vì khi quan sát bạn có thể gặp phải rất nhiều xáo trộn khiến bạn từ bỏ việc thực hành. Đừng coi đó là sự xáo trộn, hãy coi đó như Ehipassiko, chúng đang mời bạn đến quan sát và chiêm nghiệm. Đừng quên điểm này, chúng đến như một đối tượng cho sự quan sát. Trong khi ngồi thiền bạn nên quyết định rằng tôi sẽ quan sát bất cứ điều gì đến với tôi. Mọi thứ đều tốt cho việc quan sát.

Bồn chồn, bất an là si mê (moha). Chúng tới để nói với bạn rằng chúng sẽ bắt đầu vòng tròn duyên sinh mới. Đó là sự thiếu hiểu biết tạo điều kiện để hình thành nghiệp hữu và hướng đến thế giới vật chất. Nếu không có Tứ Niệm Xứ (satipaṭṭhāna) thì không còn pháp nào khác đến Niết Bàn, satipaṭṭhāna là chánh niệm (sati) và tỉnh giác (sampajāna). Chánh niệm và trí tuệ đang đi cùng nhau để trở thành các chi đạo (maggaṅga). Chúng sẽ trở thành trí tuệ bằng sự quan sát về vô minh. Tâm si (moha) chết và sau đó hoài nghi (vicikicchā) cũng chết, hoài nghi chết nên tà kiến (ditthi) cũng chết theo.

Thậm chí bạn có thể quán tưởng về Niết Bàn, mọi thứ đều có thể được quán tưởng. Lợi ích của việc quan sát tâm bồn chồn là gì? Là để cắt đứt sự khởi đầu của vòng luân hồi (samsara), bởi vì bồn chồn (uddhacca) kết nối với tâm si, mà tâm si (avijja) sinh ra các hành (saṅkhārā). Nếu để bồn chồn tiếp tục thì đó là tâm trí của sự si mê, ngược lại coi chúng như là cảm thọ, thì chỉ là một cảm thọ trung tính.

Vô thường

Vị A La Hán đầu tiên thực hành quan sát trên sáu xúc (phassa). Khi mắt tiếp xúc với cảnh sắc cảm thọ sinh khởi. Xúc là phassa và cảm thọ là vedana, vị ấy quan sát tính vô thường, trở nên nhàm chán và nhìn thấy sự kết thúc. Ba trí tuệ này phát triển lần lượt từng bước một.

Vị A La Hán thứ hai thực hành quan sát trên năm uẩn (khandha) và nhìn thấy tính vô thường. Vị A La Hán thứ ba thực hành quan sát trên tứ đại (maharupa) và nhận ra Niết Bàn. Vị A La Hán thứ tư quán tưởng bất cứ hiện tượng nào sinh khởi cũng là vô thường. Nhìn thấy vô thường là tuệ giác yathā-bhūta-ñāna-dassana, nhàm chán là tuệ giác nibbidanana và sau đó thâm nhập vào năm uẩn giống như Khổ Đế (dukkha sacca), cuối cùng Đạo tuệ sinh khởi và nhìn thấy Niết Bàn.

Một tỳ khưu đến gặp vị A La Hán đầu tiên và hỏi thực hành như thế nào để nhận ra Niết Bàn. Quan sát tính vô thường của 6 xúc sẽ nhận ra Niết Bàn. Tỳ khưu ấy đến hỏi vị A La Hán thứ hai với cùng câu hỏi và nhận được câu trả lời “Bạn có chánh kiến, chánh kiến là Niết Bàn, nói cho tôi cái gì cần quan sát để có được chánh kiến Niết Bàn”. Vị thánh tăng ấy đưa ra câu trả lời dựa trên kinh nghiệm của mình, sự khác nhau giữa vị hai vị A La Hán này là số lượng đối tượng của sự quan sát là sáu và năm. Vì vậy, làm cho tỳ khưu kia bất mãn, cả hai đều nói về quan sát tính vô thường, vị tỳ khưu này không nhận lấy điểm chính ở đây là tính vô thường mà chỉ nhận thức về sự khác biệt giữa hai con số sáu và năm.

Sau đó tỳ khưu ấy đi đến vị A La Hán thứ ba và hỏi tương tự. Giống như nói chuyện với một nhà toán học, sau khi đến vị A La Hán thứ ba, tỳ khưu ấy tiếp tục đến vị A La Hán thứ tư đưa ra câu hỏi tương tự, Vị tỳ khưu ấy cho rằng vị A La Hán thứ tư còn tệ hơn vì chỉ nói về vô thường. Vị phàm tăng ấy không hài lòng với tất cả các câu trả lời vì không nắm bắt được điểm chính. Cả bốn vị Thánh tăng đều đang nói về tầm quan trọng của việc nhìn thấy tính vô thường (anicca) chứ không phải là các con số sáu, năm, bốn hay một. Sự không hài lòng đến từ việc chạy theo các con số, điểm chính ở đây là vô thường (anicca). Điểm chính trong thực hành phải là vô thường, khổ, vô ngã và sự thật về khổ (dukkha sacca). Niết Bàn chỉ có một, đừng có nhầm lẫn. Có mười hai liên kết trong pháp Duyên Sinh nhưng ở cuối mỗi liên kết chỉ tồn tại vô thường, hãy nắm giữ điểm này. Sinh khởi và hoại diệt là con đường dẫn đến Niết Bàn.

Bất cứ phương pháp nào mà các thiền sư hướng dẫn đến Niết Bàn thì không thể không nhìn thấy vô thường. Vì vậy đừng buộc tội bất kỳ ai, những lời dạy của họ đều đúng. Có những điểm khác biệt nhưng cần nắm giữ điểm chính là vô thường, giáo pháp không có vô thường sẽ không đến được Niết Bàn. Nhìn thấy tính vô thường thì đó là pháp đúng, hãy bắt đầu từ vô thường, các bậc thầy về Tam Tạng cũng phải bắt đầu từ vô thường.

Cuối cùng vị tỳ khưu ấy đến hỏi Đức Phật, sự khác biệt chỉ là ở cách thực hành, Đức Phật giải thích một cách ví von. Tuỳ thuộc vào các mùa khác nhau mà cây kiṃsuka có dạng khác nhau. Trong mùa hoa nó có màu đỏ, khi ra quả như cây keo. Có năm uẩn, phải quan sát về năm uẩn hay bản chất vô thường của chúng. Đức Phật thì không bao giờ nói sai.

Điều quan trọng là phải nắm bắt yếu tố cốt lõi chứ không phải chạy theo các con số. Quan sát bất cứ pháp nào sinh khởi rồi chúng sẽ dạy cho bạn, chúng sẽ nói cho bạn sự thật ‘tôi không còn ở đây nữa’, ‘tôi không còn ở đây nữa’. Khi chúng thông báo rằng ‘không có ở đó’ bằng cái gật đầu theo sau, khi đó tham ái, ngã mạn, tà kiến hoặc các pháp sinh sôi nảy nở khác không thể đi vào (papanca dhamma).

Vô thường đang gọi bạn, Ehipassiko hãy đến và quan sát tôi. Sanditthiko bạn phải làm theo nó bằng kinh nghiệm trực tiếp. Pháp sinh khởi là Ehipassiko, tâm quan sát là Sanditthiko. Mọi người phải chịu đựng đau khổ vì không nghe theo lời kêu gọi của pháp. Pháp đang gọi bạn và cũng biến mất. Nó giống như ai đó đang bị chết đuối và đồng thời đang tìm kiếm dưới nước.

Ở đây cũng vậy, bạn có các uẩn và chúng là vô thường, bạn phải tự trách mình vì không có con mắt thấy. Người thầy cần chữa mắt cho bạn. Đừng tìm kiếm pháp mà hãy tìm kiếm một người thầy có thể chữa mắt cho bạn. Mọi người đang hỏi về pháp, điều này là khá khó với tôi bởi vì cơ thể cũng là pháp. Năm uẩn được chia làm bốn nhóm trong Satipatthana, sáu căn hay bốn đại đều được bao gồm trong bốn nhóm đó. Đây là pháp được dạy bởi tất cả các Đức Phật.

Tương tự như chia thức ăn cho bốn con bò. Sắc, thọ hay bất cứ tâm nào đang được quan sát, hãy nhận biết tính vô thường. Tất cả đều hội tụ tại vô thường. Do đó đừng có quá nhiều pháp. Mặc dù Đức Phật đã nhập Niết Bàn, nhưng Ngài đã để lại ba chén thuốc, thuốc vô thường, thuốc khổ và thuốc vô ngã. Hãy quan sát tính vô thường nhiều hơn, trưởng thành hơn rồi sau đó vô thường trở thành sự thật của khổ.

Ban đầu bạn nhìn thấy tính vô thường của các hiện tượng, sau đó trí tuệ phát triển sẽ nhàm chán với các hiện tượng. Đến giai đoạn trưởng thành nhất, bạn đưa ra quyết định rằng chúng thật sự là khổ, dukkha sacca. Cuối cùng tất cả đều kết thúc và từ đó không còn sự thay đổi nào nữa. Tâm trí trở nên sắc bén, tại sao tâm trí trở nên sắc bén? Giống như mài dao theo ba giai đoạn: giai đoạn đầu, giai đoạn giữa và giai đoạn cuối. Giai đoạn nào sắc bén hơn? Chỉ cần quan sát, sự đầy đủ ba la mật (parami) không giống như một xô nước đầy tràn mà chỉ cần trí tuệ trở nên sắc bén.

Vì vậy nhiệm vụ của bạn giống như mài dao, hãy nỗ lực rèn giũa tâm trí. Mài giũa lần đầu tiên giết chết phiền não đang hoạt động, giai đoạn giữa giết chết phiền não phát sinh từ tâm, giai đoạn sắc bén nhất nhổ sạch gốc phiền não tiềm ẩn (anusaya). Đây là con dao có thể giết chết cả ba loại phiền não. Quan sát bất cứ cái gì, điều quan trọng là nhìn thấy tính vô thường.

Nghiệp cũ và nghiệp mới

Đức Phật dạy rằng có bốn điều liên quan tới nghiệp, đó là:

(1). Nghiệp cũ

(2). Nghiệp mới

(3). Nơi nghiệp bị chấm dứt.

(4). Thực hành dẫn tới chấm dứt nghiệp.

Đây là những pháp dành cho thực hành, không có pháp nào là không liên hệ với thực hành. Nhưng mọi người không biết làm thế nào để áp dụng vào thực hành, vì vậy đừng để chúng chỉ là lý thuyết.

Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý là do các nghiệp cũ tạo thành. Hiện tại các bạn lắng nghe giáo pháp với kết quả của nghiệp cũ. Nghiệp mới là những gì bạn đang làm với thân, với lời nói và kế hoạch trên tâm. Tất cả những điều này sinh khởi liên tục trong đời sống hàng ngày. Bạn đang ngồi ở đây nhưng không thoát khỏi cả nghiệp cũ và nghiệp mới. Bạn đang sống với tất cả những nghiệp này.

Suy nghĩ và lập kế hoạch tức là bạn đang sống với tâm, hoạt động và di chuyển là bạn đang sống với thân, khi nói chuyện là sống với lời nói. Thở vào thở ra là sống với nghiệp cũ, nhìn bằng mắt là sống với nghiệp cũ. Khi càng già thì khả năng nhìn càng kém đi. Bạn có thể nói tất cả những thứ này là tập hợp của nghiệp lực, điều đó không sai. Còn ở rất xa Niết Bàn nếu các nghiệp hiện tại không được chấm dứt và thân tâm vẫn tiếp tục sinh khởi.

Đức Phật dạy rằng nghiệp luôn luôn cho ra kết quả. Nghiệp đến vào buổi sáng khi bạn vừa thức dậy và nghiệp hiện tại đang mọc lên nhiều như những cây nấm. Nếu không chấm dứt nghiệp thì không thể nhận ra Niết Bàn. Nơi chấm dứt nghiệp hiện tại chính là Niết Bàn. Hãy để chúng chỉ là các nghiệp cũ. Cho đến khi các nghiệp mới không bị chấm dứt thì kết quả của hiện tại và tương lai vẫn tiếp tục diễn ra.

Nghiệp mới không được cắt bỏ thì Niết Bàn sẽ không xuất hiện. Mọi người không biết gì về điều này và tin rằng tiếp tục những nghiệp mới là tốt, vì vậy họ tích cực làm phước. Đức Phật đã cắt bỏ nghiệp còn các bạn đang kết nối với nghiệp, và kết quả bạn nhận được là đau khổ. Thiếu hiểu biết về giáo pháp nên con người đang đi lạc đường, thậm chí đang mong đợi những nghiệp tốt cũ. Cắt bỏ nghiệp là Niết Bàn, nếu không chỉ kết nối với đau khổ. Trong pháp thoại hôm nay, những điểm này đang trở nên rõ ràng.

Con người không biết cách làm cho nghiệp chấm dứt nên đi chệch khỏi con đường. Họ không làm việc cần phải làm, và sợ hãi về sự chấm dứt của nghiệp. Mong muốn kết nối với các nghiệp tốt, vì vậy họ trân trọng sự sinh khởi của khổ! Mọi người muốn Niết Bàn nhưng những gì họ làm là khổ đau. Thay vì sống dựa vào trí tuệ như cha mẹ thì họ dựa vào nghiệp, vì vậy tất cả đang bơi trong đại dương đau khổ. Chỉ có hiểu biết về sự thật mới nhận ra được bản chất của đau khổ, ngược lại bạn sẽ không thể hiểu chúng.

Thực hành để chấm dứt nghiệp bằng cách quan sát các pháp sinh khởi từ sáu giác quan do nhân từ nghiệp quá khứ. Đây là những điều tôi hướng dẫn hàng ngày. Bằng cách này những hành động trên thân, lời nói và suy nghĩ không sinh khởi và kết thúc. Nghiệp không sinh khởi là Thánh Đạo, do đó Thánh Đạo đang cắt đứt nghiệp.

Tuy nhiên điều này không có nghĩa là bạn không làm những việc tốt hay nghiệp thiện như bố thí, trì giới, nhưng bạn phải làm với sự dẫn dắt của trí tuệ. Nghiệp theo sau và trí tuệ đi trước, chúng trở thành nghiệp dẫn đến Niết Bàn. Trong kinh Tứ Niệm Xứ (Satipatthana sutta) cũng yêu cầu bạn quan sát cả khi trạng thái tâm thiện sinh khởi. Không thực hành vipassanā, bất cứ điều gì bạn đang làm đều đi lạc khỏi điểm chính. Tất nhiên Đạo lộ cũng gọi là nghiệp, nhưng nó được dẫn dắt bởi trí tuệ.

Thường nghiệp

Vào thời Đức Phật có tỳ khưu Assajji bị bệnh nặng, Đức Phật tới thăm và hướng dẫn vị ấy thực hành vipassanā. Do cảm thấy đau đớn nên tỳ khưu Assajji không thể phát triển định tâm và sức mạnh tinh thần yếu đi. Đức Phật dạy rằng trong giáo pháp của Ngài, thiền định không được coi là giáo lý cốt lõi, cốt lõi là thực hành thiền quán. Có thể bạn đã thực hành trong khoảng thời gian khá dài mà vẫn chưa có định lực, nhưng đừng bao giờ để tâm yếu đuối. Thiền định không phải là bản chất thực sự trong giáo pháp của Đức Phật. Thiền định chỉ là pháp hỗ trợ và trí tuệ mới là pháp chính, hãy chú ý điều ta nói, rồi Đức Phật yêu cầu vị ấy thực hành vipassanā. Sau khi nghe lời hướng dẫn và khích lệ của Đức Phật, tâm tỳ khưu Assaji trở nên phấn chấn trở lại.

Đây là thọ (vedana), đây là tâm (citta), đây là năm uẩn (khandha). Tôi hỏi và ông hãy trả lời, rồi Đức Phật hướng tâm vị ấy đến các đối tượng cần quan sát. Do định lực của vị ấy không ổn định và đang bị ốm, nên Đức Phật hướng dẫn vị ấy thực hành chánh niệm dựa trên năm uẩn.

Ngay từ bây giờ, tất cả các bạn nên phát triển thường nghiệp, tức là tạo các nghiệp theo thói quen (āciṇṇakamma). Bất cứ cảm thọ nào sinh khởi, hãy quan sát tính vô thường của cảm thọ đó. Người có nhiều tà kiến nên quan sát tâm (cittānupassanā) và người có nhiều tham ái nên quán sát thọ (vedanānupassanā). Quan sát chúng bất cứ lúc nào và biến điều này trở thành thường nghiệp. Thường nghiệp có nghĩa là sự thực hành liên tục. Tôi thực sự nhắc nhở bạn về điều này. Tại sao? Bạn đang ước ao tìm kiếm sự giàu có cũng như không muốn rời xa những đứa con của mình. Của cải bạn làm ra sẽ để lại phía sau, kể cả gia đình và những đứa trẻ, điều này thật khó khăn cho cái chết. Tất cả những thứ đó đều không quan trọng, việc quan trọng là phát triển thường nghiệp được dạy bởi Đức Phật, trí tuệ (ñāṇa) nghĩa là thực hành liên tục.

Hãy quan sát nhiều lần trên tâm và cảm thọ. Vô thường và trí tuệ về vô thường (anicca ñāṇa) phải diễn ra khăng khít, đồng thời. Thực hành hàng ngày tạo nên thường nghiệp, với sự thực hành nhiều, thường xuyên sẽ tạo thành thói quen.

Tại thời điểm hấp hối, tâm không muốn rời xa các thành viên trong gia đình và cũng không muốn để mất của cải tài sản, tất cả những điều này xuất hiện trong tâm của bạn khi đó. Thường nghiệp (āciṇṇakamma) là một dòng nước chảy mạnh. Tâm không muốn rời xa gia đình giống như một khúc gỗ trôi ngang qua dòng nước, dòng chảy quá mạnh đã kéo khúc gỗ đi. Bạn cần thực hành vipassanā đều đặn hàng ngày giống như dòng nước chảy mạnh để khi hấp hối nghiệp lành theo thói quen sẽ cho kết quả và các cận tử nghiệp bất thiện (maraṇāsanna kamma) tránh xa. Để chết đúng cách, cần phải khẩn trương chuẩn bị ngay từ lúc này.

Thường nghiệp cần phải được thực hành mỗi ngày. Cận tử nghiệp (maraṇāsanna kamma) là nghiệp đến vào lúc gần chết. Nếu bạn không thực hành vipassanā, cận tử nghiệp sẽ cho ra kết quả, điều này rất khủng khiếp. Dính mắc với người thân trong gia đình là nguyên nhân dẫn đến tái sinh trong cảnh khổ. Dính mắc là tham ái. Theo pháp Duyên Sinh, tiến trình này là:

… → tham ái → thủ → nghiệp hữu → tái sinh trong cảnh khổ →…

Cận tử nghiệp ném bạn xuống các cõi khổ. Tất cả các bạn đều có nghiệp thiện và phước đức nhưng không phải lúc nào bạn cũng làm được những điều này, vì vậy bạn phải tiếp tục thực hành trên một trong bốn xứ Satipaṭṭhāna. Ô tô, tài sản, nhà cửa là những tên trộm, chúng sẽ tới khi bạn gần chết. Đây là những điều đáng sợ. Cận tử nghiệp gần với khoảnh khắc của cái chết, chúng sinh khởi gần với tâm tử. Một số đệ tử cư sĩ và tỳ khưu tái sinh trong các cõi khổ do những cận tử nghiệp này. Cận tử nghiệp xảy ra bởi vì họ đã không thực hành vipassanā hàng ngày. Với Đạo tuệ thì nghiệp không thể làm gì được bạn. Vì vậy bạn phải phát triển thường nghiệp vipassanā.

Hoàng hậu Mallika tại thời điểm hấp hối, nghiệp cận tử tới và rơi vào cõi địa ngục. Bà ấy đã cúng dường rất lớn trong thời Đức Phật. Nhưng bên ngoài Đạo tuệ thì không có gì là chắc chắn. Bắt buộc phải có Đạo tuệ hoặc phát triển thường nghiệp. Bạn cần ghi nhớ hai điểm này. Khi gần chết các vấn đề về gia đình và kinh doanh buôn bán có thể đến. Nếu không thực hành, đến lúc chia tay thì không dễ dàng.

Cận tử nghiệp cũng có thể đưa bạn đến tái sinh tốt đẹp hoặc thậm chí gửi bạn đến Niết Bàn. Chớ có lười biếng. Khi gần chết phải dồn toàn lực vào quan sát. Tại sao bạn dồn toàn lực vào quan sát? Đó là bởi vì thường nghiệp. Nếu không làm điều đó, nhìn thấy hình ảnh địa ngục trong tâm sẽ dẫn dắt bạn đến nơi giống như bạn thấy. Nhìn thấy súc sinh thì sẽ tái sinh giống như súc sinh. Một người đã đã phát triển thường nghiệp có thể thay đổi được tất cả hình ảnh cận tử (maraṇāsanna nimitta). Nếu nhìn thấy lửa địa ngục, anh ta biết rằng anh ấy phải đến đó hoặc anh ta cũng có thể nghe về những việc trước đó. Tại thời gian đó bạn phải nỗ lực thực hành quan sát.

Nhìn thấy tính vô thường dẫn tới thất vọng về vô thường và kết thúc của vô thường sẽ nhận ra Niết Bàn thực sự. Không có gì gọi là tinh thần yếu, một số người bằng thường nghiệp thậm chí có thể đắc quả Arahan khi gần chết. Nếu không có thường nghiệp một người có thể tái sinh dựa trên nimitta cận tử. Đức Phật giải thích sự khác biệt giữa cầu nguyện bằng tụng kinh và thực hành vipassanā. Người cầu nguyện dựa trên đức tin và sự nương tựa dẫn tới tái sinh hạnh phúc, còn người thực hành vipassanā dẫn đến Niết Bàn. Hãy cầu nguyện và tụng kinh ít đi và thực hành nhiều hơn. Nếu bạn thực hành nhiều, sẽ trở thành thường nghiệp. Đừng nghe những pháp thoại chỉ để lấy phước thiện, hãy nghe và áp dụng vào thực hành.

Đức Phật khuyến khích sự thực hành dẫn tới nhổ tận gốc dễ nghiệp thiện, nghiệp bất thiện cũng như nghiệp vừa thiện vừa bất thiện. Thực hành rồi dừng lại không thể trở thành thường nghiệp. Cần phải duy trì thực hành liên tục ngày này qua ngày khác. Nếu vô thường và Đạo trở nên khăng khít, thì bạn sẽ thành công. Ngài Assaji đã thực hành theo lời dạy của Đức Phật và trở thành vị thánh A La Hán trước khi chết. Thiền định chỉ hỗ trợ cho việc quan sát, đừng nghĩ rằng không có định thì không có đủ ba la mật. Thiền vipassanā được dẫn dắt bởi các yếu tố trí tuệ. Nếu bạn nhận ra được tính vô thường, định (samādhi) đã được bao gồm trong đó. Điều này cũng bao gồm giới (sīla) trong suốt quá trình thực hành.

Sư Chân Thiện dịch

Bảy tâm đổng lực

Tôi mong các bạn, những người phật tử, hãy thực hành thiền vipassanā vì đây là điều vô cùng lợi ích trong hiện tại cũng như trong vòng sinh tử luân hồi. Khi một tâm sinh khởi, đó có thể là tâm đi kèm với tham, sân, si hoặc nghi ngờ, bồn chồn, lo lắng hoặc suy nghĩ…chúng cần phải được quan sát ngay lập tức. Đạo lộ biết rằng tâm này sinh lên rồi diệt đi. Trong tiến trình sinh diệt của tâm này, Đạo lộ biết tâm này bao nhiêu lần? Tâm đầu tiên biết, rồi tâm biết đầu tiên này qua đi. Sau đó biết lần thứ hai, lần thứ ba và cuối cùng biết lần thứ bảy. Khi tiến trình sinh và diệt được quan sát một lần, sự hay biết diễn ra bảy lần. Bất cứ tâm nào được quan sát, bảy tâm đổng lực (javana) phát sinh.

Trong mỗi lần quan sát, Đạo lộ bao gồm năm chi đạo (maggaṅga), là chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Mỗi tâm đổng lực trong bảy tâm đổng lực của mỗi lần quan sát, đều có năm yếu tố này. Trong javana thứ nhất có năm yếu tố, trong javana thứ hai có năm yếu tố, cho đến javana thứ bảy cũng vậy.

Trong thực hành thiền minh sát có bảy tâm đổng lực phát sinh (magga javana), với mỗi lần sinh diệt được quan sát, bảy javana khởi lên. Khi bảy javana khởi lên, bạn nhận biết về sự sinh diệt bảy lần. Bây giờ tôi sẽ giải thích điều này.

Trong tâm đổng lực đầu tiên có năm chi đạo của Đạo lộ và chứa tâm sở ý định (cetana). Ý định trong javana đầu tiên này sẽ cho kết quả trong cuộc sống này. Khi nào thì nó bắt đầu cho kết quả? Đạo lộ trong javana đầu tiên sẽ cho kết quả trong vòng bảy ngày, bảy tháng hoặc bảy năm kể từ bây giờ. Đây là Đạo lộ nên chỉ có kết quả tốt, do đó thực hành như thế này mang lại kết quả nhanh chóng, javana đầu tiên cho kết quả tức thì (ditthadhamma). Kết quả tức thì là gì? Kể từ khi vipassanā được thực hành, nó cho kết quả trong bảy ngày, nếu không sẽ cho kết quả trong bảy tháng, hoặc sẽ cho kết quả trong bảy năm.  Đó là khoảng thời gian mà Đạo lộ trong javana thứ nhất mang lại kết quả và cũng là tiềm năng của tâm đổng lực thứ nhất.

Tôi liên tục thúc giục bạn quan sát về sự sinh diệt của thân tâm, vì vậy một số lượng lớn tâm đổng lực đầu tiên khởi lên trong bạn. Tại sao tôi muốn số lượng lớn javana đầu tiên khởi lên trong bạn? Tâm đổng lực đầu tiên này là javana vipassanā đầu tiên, là tâm đổng lực đầu tiên cao quý nhất trong tất cả các tâm đổng lực đầu tiên khác. Nó cao hơn javana đầu tiên trong khi thực hiện bố thí (dana), nó cao hơn cả javana đầu tiên trong khi giữ giới (sila) và cao hơn javana đầu tiên khi thực hành thiền định (samatha). Tâm đổng lực đầu tiên của thiền minh sát là cao quý nhất, do đó kết quả nó mang lại là tốt đẹp nhất. Vì vậy hãy thực hành vipassanā, hãy thực hành thiền minh sát.

Tâm đổng lực đầu tiên nhìn thấy sinh diệt của các uẩn, đó là javana đầu tiên thấy sinh diệt. Chỉ sau khi javana thứ nhất diệt đi, javana thứ hai mới thấy sự sinh diệt của các uẩn. Chỉ sau khi javana thứ hai diệt đi, javana thứ ba mới thấy sự sinh diệt của các uẩn. Cứ tiếp tục như vậy cho đến javana cuối cùng, chỉ sau khi javana thứ sáu diệt đi, javana thứ bảy mới thấy sự sinh diệt của các uẩn.

Tôi đã đề cập đến khoảng thời gian mà các javana đầu tiên cho kết quả. Nếu không may trong khoảng thời gian này, dịch bệnh, nguy hiểm…bất ngờ phát sinh, javana đầu tiên sẽ cho kết quả và bảo vệ bạn khỏi những dịch bệnh, nguy hiểm này. Tâm đổng lực đầu tiên mang lại kết quả tốt nên những điều nguy hiểm và xấu xa không thể đến với bạn. Chăm sóc để cho javana đầu tiên khởi lên, nếu javana đầu tiên khởi lên, năm javana ở giữa cũng sẽ khởi lên. Javana thứ bảy cho kết quả ở kiếp thứ hai, ngay sau kiếp hiện tại này. Năm javana ở giữa sẽ bắt đầu cho kết quả từ kiếp thứ ba trở đi, và theo bạn như những cái bóng, cho đến kiếp cuối cùng khi Niết Bàn được chứng đắc.

Liệu rằng bạn không phải đối mặt với những nguy hiểm khác nhau như chiến tranh, trộm cắp, cướp giật, thiên tai, dịch bệnh hay các vấn đề về sức khoẻ như cảm cúm, đau đầu…? Tâm đổng lực nào sẽ bảo vệ bạn khỏi những điều này? Tâm đổng lực nào có lợi cho bạn trong hiện tại nhất? Đó là tâm đổng lực đầu tiên. Nếu tâm đổng lực đầu tiên xuất hiện, hãy nhớ rằng năm tâm đổng lực ở giữa cũng sẽ đến, và tâm đổng lực thứ bảy cũng sẽ đến. Khi vipassanā được thực hành, bảy javana này sẽ sinh khởi.

Bạn phải cố gắng để vipassanā javana đầu tiên khởi lên. Khi sự sinh và diệt của các uẩn được quan sát, javana đầu tiên khởi lên. Sau đó Đạo lộ về javana đầu tiên cho kết quả ngay từ lúc này. Kết quả sẽ hiển thị sau bảy ngày, bảy tháng hoặc bảy năm kể từ lúc này.  Tâm đổng lực vipassanā đầu tiên này có nhiệm vụ bảo vệ bạn khỏi mọi hiểm nguy trong cuộc sống hiện tại, nó bảo vệ bạn khỏi các dịch bệnh, và khỏi những điều đáng sợ. Vì vậy javana đầu tiên của vipassanā là vũ khí chống lại mọi nguy hiểm.

Tâm đổng lực đầu tiên này không phải là tâm bình thường, nó mạnh mẽ cho ra kết quả, nên được gọi là diṭṭhadhamma vedaniyakamma. Rõ ràng javana đầu tiên là javana cho kết quả tức thì (diṭṭhadhamma).

Javana đầu tiên này sẽ bảo vệ bạn trong khi thực hành vipassanā, ngăn chặn sự phát sinh các trạng thái không mong muốn, như trải nghiệm những điều đáng sợ, nghe thấy âm thanh khó chịu và nhiều thứ khác. Người không có vipassanā javana đầu tiên thì không thể có được sự bảo vệ này, người có vipassanā javana đầu tiên thì những trạng thái không mong muốn không thể đi vào.

Tôi mong các bạn nỗ lực nhiều hơn trước. Tâm đổng lực đầu tiên này là javana hiệu quả và do đó javana đầu tiên là thứ để dựa vào. Javana thứ bảy là thứ để nương tựa trong kiếp thứ hai, năm javana ở giữa sẽ cho kết quả từ kiếp thứ ba trở đi. Javana cho kết quả nhanh nhất là quan trọng nhất. Tại sao javana đầu này có thể giúp bạn vượt qua dịch bệnh? Giải thích một cách tóm tắt, bởi vì javana đầu tiên có một tiềm năng mạnh mẽ.

Bạn dường như không thực hành giáo pháp của Đức Phật (Buddha sāsana) trong những kiếp trước. Trong quá khứ bạn đã làm những việc bất thiện, năm javana ở giữa của những hành động bất thiện từ nhiều kiếp trước đã theo bạn. Bởi vì nghiệp ác đã theo bạn, nên bạn khiếp sợ, chúng giống như quân nổi dậy. Tại sao tâm sợ hãi thường xuyên xuất hiện trong bạn? Bởi vì năm javana ở giữa của ác nghiệp trong tiền kiếp đang theo bạn. Nghiệp ác đi theo bạn để sinh quả ác.

Việc kinh doanh của bạn sẽ thất bại, sẽ bị bệnh tật và cái chết, aparāpariya kamma hay ác nghiệp mà bạn đã làm nhiều kiếp trước trong vòng sinh tử luân hồi đang theo bạn. Các bạn sẽ ngăn chặn những điều này như thế nào?

Trong nhiều năm sinh sống, chúng ta không được nghe nhiều tin tốt lành. Chúng ta bị bao quanh bởi tin tức về những vụ giết người, trộm cắp, chiến tranh, rất nhiều bệnh tật và đủ loại nguy hiểm. Khi chiến tranh kết thúc, chúng ta lại tiếp tục đối mặt với đủ thứ nguy hiểm và dịch bệnh khác. Tại sao các bạn sợ hãi, hoảng hốt và lo lắng? Nghiệp nào theo sau khiến bạn phải sợ? Đó là năm tâm đổng lực ở giữa, năm đổng lực của nghiệp ác đã thực hiện trong vô số kiếp quá khứ đang theo các bạn. Chúng đã theo các bạn từ kiếp thứ ba cho đến tận kiếp cuối cùng, khi đạt được Niết Bàn.

Không có thời gian để nghỉ ngơi thư giãn vì những nghiệp ác này đang theo bạn, bạn phải ngăn chặn chúng bằng nghiệp thiện khác. Điều gì đang theo bạn? Nghiệp ác đang theo sau bạn, nếu nghiệp ác đang theo sau bạn, bạn phải chấm dứt nó bằng nghiệp thiện khác. Khi bạn thực hành vipassanā, khi sinh và diệt được quan sát, năm chi phần của Đạo lộ được sinh khởi.

Ngoài ra với ý muốn (cetanā) thực hành vipassanā, đó cũng là nghiệp và trí tuệ. Trong javana đầu tiên, có cả nghiệp và trí tuệ. Nghiệp ở đó với tư cách là một cộng sự, trí tuệ nhìn thấy sinh và diệt nên cái thấy này là tiềm năng của nó. Với nghiệp và trí tuệ này, nghiệp ác trong quá khứ được chấm dứt. Nếu nghiệp ác trong quá khứ không theo bạn, bạn có thể sống mà không cần lo lắng. Khi bom rơi bạn phải rời bỏ nhà cửa và chạy trốn, bây giờ bạn đã biết chắc chắn rằng những nghiệp ác này vẫn đang theo bạn đúng không?

Những nghiệp quá khứ này là nghiệp gì? Đó là ác nghiệp. Những ác nghiệp này sẽ bị chấm dứt bằng cách nào? Chúng bị dừng lại bởi nghiệp và trí tuệ, là tâm đổng lực đầu tiên của thiền minh sát. Điều này là khẩn cấp, tại sao? Hàng ngày bạn nghe thấy rất nhiều tin tức và phần lớn mọi thứ diễn ra không tốt đẹp. Attahi attano nātho, dựa vào nghiệp thiện vipassanā, tâm đổng lực đầu tiên sẽ bảo vệ bạn trong trường hợp khẩn cấp. Nếu bạn không thực hành thì nghiệp ác quá khứ sẽ cho kết quả mà không gì có thể ngăn cản chúng. Thực hành vipassanā sẽ bảo vệ bạn khỏi ác nghiệp vì vipassanā là nghiệp thiện, và có xu hướng cắt đứt nghiệp bất thiện. Tâm đổng lực vipassanā đầu tiên chắc chắn sẽ cắt đứt những kết quả xấu, vì vậy hãy trang bị vũ khí lợi hại này trong tay bạn. Nếu không những nghiệp đã theo bạn từ vô số kiếp quá khứ sẽ chi phối bạn theo ý muốn của chúng. Tại sao? Bởi vì không gì có thể ngăn cản chúng.

Tâm đổng lực vipassanā đầu tiên cho ra kết quả và tâm đổng lực đầu tiên của nghiệp bất thiện cũng cho ra kết quả. Nếu bạn không thực hành thiền minh sát, vipassanā javana đầu tiên này sẽ không cho ra kết quả. Nếu thực hành thì vipassanā javana đầu tiên là tâm đổng lực mạnh nhất, mạnh hơn cả tâm đổng lực trong bố thí hay trong thiền định. Do đó điều quan trọng là làm cho javana vipassanā đầu tiên liên tục sinh khởi trong tâm.

Thiền vipassanā bắt đầu từ tâm đổng lực đầu tiên này, thiền vipassanā không thể được thực hành nếu không có tâm đổng lực đầu tiên này. Javana đầu tiên này cắt đứt những kết quả tồi tệ đang theo các bạn và sau đó cho kết quả tốt lành. Tâm đổng lực đầu tiên này cho kết quả ngay trong kiếp sống hiện tại, do đó không giúp các bạn trở thành chư thiên hay con người trong kiếp tới, nhưng giúp các bạn vượt qua dịch bệnh và có cuộc sống thịnh vượng. Đây là những điều javana đầu tiên có thể làm.

Nhưng javana đầu tiên không thể cho kết quả trong kiếp sống thứ hai. Đức Phật nói điều này bằng trí tuệ toàn giác của Ngài, chỉ có Đức Phật mới biết kết quả diễn ra như thế nào. Tôi chỉ nói với bạn những gì Đức Phật đã dạy vì chúng ta là đệ tử của Ngài. Làm thế nào các bạn có thể vượt qua được dịch bệnh? Bây giờ bạn đã có câu trả lời.

Các bạn phải thực hành để vipassanā javana đầu tiên này khởi lên nhiều lần, phải quan sát nhiều lần về sự sinh diệt của các uẩn. Đây là javana đầu tiên quan sát về sinh diệt, đó là javana thứ hai thấy sinh diệt lần thứ hai,… Không có javana thứ nhất thì các javana thứ hai, thứ ba cho đến javana thứ bảy không thể khởi lên. Đây là nghiệp, đây là pháp ngăn chặn các nghiệp xấu, javana đầu tiên cắt bỏ những thứ ghê tởm, xấu xa, những thứ đã theo bạn từ những tồn đọng trong quá khứ.

Bây giờ các bạn bắt đầu làm công việc mà bạn thực sự phải dựa vào, đó là javana đầu tiên của nghiệp thiện. Đừng hỏi bạn có ác nghiệp trong quá khứ hay không, mọi người đều có chúng. Hãy nghĩ xem bạn đã sống những năm tháng trong cuộc đời này như thế nào. Bạn đã làm nhiều việc bất thiện, bạn đã chạy trốn, bạn đã sợ hãi, nếu bạn không dừng lại với Đạo lộ javana thì nghiệp ác quá khứ sẽ tự cho ra kết quả theo ý muốn của chúng. Angulimala là kẻ giết người, có nhiều nghiệp đã theo vị ấy từ những kiếp quá khứ, nhưng những nghiệp xấu này đã bị chặn lại bởi Đạo tuệ, và Angulimala đã trở thành một vị thánh A La Hán ngay trong kiếp đó. Đây là bằng chứng quyết định rằng bạn đã tìm thấy điều thực sự mà bạn có thể dựa vào.

Bạn đã sống tệ ở kiếp này, bạn đã từng tệ ở những kiếp trước. Tất cả những nghiệp xấu này đều bị cắt đứt bởi Đạo tuệ nếu bạn có được trong kiếp này. Những nghiệp xấu mà bạn đã làm trong vòng luân hồi cũng bị cắt đứt bởi javana của Đạo lộ đó.

Một số người chết bởi những cái chết do bạo lực, họ bị bắn, bị đâm. Tại sao những điều này xảy ra? Trong bảy tốc hành tâm luôn luôn đi cùng với hậu báo nghiệp (aparāpariya). Trong kiếp hiện tại nhiều người có ác tâm, tâm ác này cũng làm sinh khởi bảy tốc hành tâm. Đây là những javana xấu, nếu tâm sân hận thì javana sân hận, nếu tâm tham lam thì javana tham lam. Tâm đổng lực xấu đầu tiên này tạo điều kiện sinh khởi nghiệp xấu và tăng cường nghiệp xấu khác.

Tâm đổng lực xấu làm cho những điều tồi tệ xảy ra, dẫn đến những cái chết bạo lực. Một số cái chết tồi tệ được hỗ trợ bởi nghiệp lực ngay trong đời sống này. Những nghiệp xấu trong quá khứ đang cho kết quả, chúng đã theo bạn ngay từ khi sinh ra và được hỗ trợ bởi nghiệp xấu tương tự trong đời này. Vì vậy vào một thời điểm nhất định, vào một giờ nhất định, bạn sẽ gặp rắc rối.

Đây là quả xấu được hỗ trợ bởi hành động xấu vì những hành động tốt không ngăn cản chúng đến. Quả tốt cũng được hỗ trợ bởi những việc làm tốt trong đời sống này, đó là javana đầu tiên của hành động tốt trong đời sống này. Kết quả tự nó là kết quả của nghiệp quá khứ.

Những nghiệp bất thiện trong quá khứ cho kết quả với sự hỗ trợ của javana bất thiện đầu tiên trong đời sống này. Rồi chẳng bao lâu nữa những kết quả tồi tệ sẽ đến với người này, điều này có nghĩa là người đó bất lực sao? Bất thiện chỉ hỗ trợ cho bất thiện. Nghiệp ngăn cản bất thiện đã không đến.

Tất nhiên mọi người đều có nghiệp xấu, nhưng bạn phải ngăn chặn nó bằng javana vipassanā đầu tiên. Bạn sai nếu nghĩ rằng bạn không có nghiệp xấu, tất cả đều có nghiệp xấu. Bạn đã sống chung với chiến tranh bao nhiêu năm? Bạn đã phải chịu đựng trong cuộc xâm lược của quân đội nước ngoài. Đây là nghiệp bất thiện trong quá khứ cho ra kết quả, vậy bạn có cần suy nghĩ xem mình có những nghiệp bất thiện trong quá khứ hay không?

“Bạch ngài, chúng con biết chắc chắn về nghiệp bất thiện trong quá khứ. Nhưng tại sao chúng ta vẫn còn sống đến bây giờ? Tại sao chúng ta không chết?”

Bạn có nghiệp tốt trong quá khứ ở mức độ bạn xứng đáng. Bạn có javana đầu tiên tốt ở một mức độ nào đó. Bây giờ tôi sẽ cho bạn một thứ còn mạnh hơn thế, đó là javana của Đạo lộ. Ngay cả javana của nghiệp thiện khác, ở một mức độ nào đó, có thể ngăn chặn những kết quả xấu. Vì vậy nghiệp thiện rất lớn này giúp ích cho bạn rất nhiều.

Attahi attano natho, điều chân chính để dựa vào không phải là thân thể vật chất này, Đức Phật đã khẳng định chắc chắn rằng bạn phải dựa vào nghiệp tốt của mình. Hãy dựa vào javana, javana này sẽ tự động đến hay bạn phải thực hành quan sát? Nếu bạn không quan sát javana vipassanā sẽ không phát sinh, mỗi khi sinh diệt được quan sát, sẽ có javana của Đạo lộ (javana magga), có javana đầu tiên. Những người đang thực hành vipassanā, nếu nghiệp xấu trong quá khứ có cơ hội phát sinh sẽ cho kết quả, nhưng javana vipassanā sẽ ngăn chặn chúng. Mặc dù bạn đã biết điều này, nhưng nếu bạn không cố gắng có được sự bảo vệ này thì bạn là kẻ không thương hại chính mình.

Hiện tại bạn đang ở trong thời kỳ tốt đẹp vì thiền vipassanā được thực hành rộng rãi, nếu lạm dụng thời điểm tốt này bạn sẽ phải nhận lấy hậu quả từ quá khứ. Bạn đang tụng kinh paritta ‘Rājato vā corato vā manussato vā aggito vā udakato vā pisācato vā…’. Bạn đang cầu nguyện để thoát khỏi những khu rừng đau khổ nhưng khu rừng này ở trong chính bạn, làm thế nào bạn có thể trốn thoát. Xin cho tôi thoát khỏi khu rừng rậm này, cầu cho tôi thoát khỏi nguy hiểm từ những kẻ thống trị, mong cho tôi thoát khỏi nguy cơ từ những tên trộm. Bạn đang cầu nguyện như vậy, nhưng những khu rừng này ở bên trong bạn, bạn sẽ làm gì để thoát khỏi những khu rừng này?

Rất hiếm có người thoát khỏi sự nguy hiểm của những kẻ thống trị (rājato vā). Asaddhammato vā, mong cho tôi thoát khỏi những kẻ không có đức hạnh. Asaddhammato vā là gì? Đó là pháp không cao quý, muốn tài sản của người khác bằng cách bất công, thiên vị, thậm chí muốn người khác chết. Thân thiện với người này và ghét người kia, đây là pháp không cao quý tồn tại trong bạn. Lời cầu nguyện của bạn sẽ không hiệu quả vì những mối nguy hiểm đã sẵn bên trong bạn.

Muốn người này sống và người kia chết thì có đạo đức hay không? Chúng đã ở bên trong bạn, tuy nhiên bạn lại cầu nguyện rằng bạn muốn thoát khỏi những điều không có đạo đức. Sau asaddhammato vā  là asandiṭṭhito vā mối nguy hiểm của tà kiến. Các uẩn này của bạn là vô thường, khổ và bất tịnh, nhưng nếu khởi lên sự dính mắc, ưa thích đối các uẩn này thì đó là tà kiến. Pháp thường xuyên ở trong bạn là pháp không có đạo đức cùng với tà kiến, cái mà coi các uẩn này là con người, là chư thiên hay chúng sinh.

Asaddhammato vā là pháp không cao quý, nó chứa đựng mười hành động bất thiện, asandiṭṭhito vā là tà kiến. Có sự sinh diệt của các uẩn thân tâm, nhưng bạn không nhận ra điều đó. Đây là mối nguy hiểm của tà kiến. Mười pháp bất thiện và tà kiến giống như cục nam châm bên trong bạn. Làm các hành động bất thiện, rồi xem thân tâm này như tôi, anh ấy,…thích người này, gét người kia, đây có phải là những quan điểm sai lầm không? Đó chính xác là những quan điểm sai lầm.

Tất cả đều đang sinh và diệt, tất cả đều vô thường, không có gì để yêu, không có gì để gét. Tà kiến asandiṭṭhito vā đang coi cơ thể vật chất này là ‘tôi’, là ‘người khác’, coi những người khác là đàn ông, đàn bà. Vì vậy tà kiến không thấy vô thường, đau khổ, vô ngã và bất tịnh.

Khi hai thứ này ở trong bạn, chúng có từ tính, có xu hướng thu hút. Những kết quả bất thiện giống như gươm, đao, vũ khí chỉ đến khi các pháp không sáng suốt và tà kiến. Gươm đao bị hấp dẫn ngay lập tức, rồi bị hút và dính chặt vào nam châm. Chúng đến bởi vì chúng làm việc cùng nhau.

Hai pháp này là nam châm, chúng thu hút nguy hiểm từ dịch bệnh, nguy hiểm từ cuộc tấn công bằng vũ khí, nguy hiểm từ kẻ thống trị hoặc nguy hiểm từ kẻ trộm cướp. Những nguy hiểm đến từ bên ngoài có đáng sợ không? Hay là yếu tố thu hút nguy hiểm bên ngoài vào mới đáng sợ? Yếu tố nào thu hút nguy hiểm từ bên ngoài? Đó là asaddhammato vā và  asandiṭṭhito vā, đây không phải là pháp của những người cao thượng, chúng là pháp tà kiến, xem vô thường, khổ, vô ngã như đàn ông, đàn bà. Hai pháp bất thiện này là nam châm bên trong. Khi có hai pháp này sẽ có nguy cơ đói kém, nguy cơ thất bại trong làm ăn, nguy hiểm về vũ khí, nguy cơ bị ghét bỏ hay nguy cơ bị hành hạ.

Những nguy hiểm này xuất hiện vì bạn mong muốn hay những điều này xuất hiện vì bị thu hút? Giả sử, nếu ai đó vì quá tức giận mà gây ra sự tàn phá, có thể anh ta sẽ bị đánh bởi những người cảm thấy anh ta quá phiền phức. Đây là kết quả của diṭṭhadhamma. Có bảy tâm đổng lực trong sự tức giận của anh ta và tâm đổng lực đầu tiên cho kết quả ngay tức thì. Pháp sinh khởi trong anh ta lúc đó là pháp bất thiện nên kết quả tồi tệ đến. Những nguy hiểm từ bên ngoài có đáng sợ không? Hay là pháp thu hút sự nguy hiểm mới đáng sợ hãi?

Bạn đang tụng kinh “asaddhammato vā, asandiṭṭhito vā” để mong thoát khỏi nguy hiểm. Nhưng cục nam châm thu hút những nguy hiểm lại ở bên trong nên mọi điều tồi tệ sẽ đến với bạn. Bạn không muốn bị dịch bệnh, thì bạn phải loại bỏ hai pháp này. Quặng sắt không thể đến khi nam châm bên trong bị loại bỏ.

Điều quan trọng là bạn sợ những người bên ngoài hay muốn thoát khỏi cục nam châm bên trong? Các bạn chỉ đang sợ cái bên ngoài. Bây giờ bạn đã hiểu những điều bên ngoài đến vì có nam châm bên trong thu hút chúng. Vì vậy hãy sợ những thứ bên trong, khi bạn sợ nó hãy loại bỏ nó.

Bạn đang lo sợ những điều sai trái, bạn đang sợ hãi từ bên ngoài, nhưng đã không sợ kẻ đang kéo bạn từ bên trong. Bạn không thể ngăn chặn chúng chỉ bằng cách tụng niệm kinh Paritta, nguy hiểm sẽ không đến nếu bạn lấy thứ này ra. Asaddhamma là pháp không đức hạnh chứa đựng mười hành động bất thiện, asandiṭṭhi là sự nguy hiểm của tà kiến. Tà kiến coi thân tâm này có tự ngã, đó là miccha-diṭṭhi. Nguy hiểm và dịch bệnh chỉ biến mất khi mười bất thiện và tà kiến không còn ở bên trong bạn. Những nguy hiểm có tự đến với bạn không hay những pháp bất thiện và tà kiến đang kéo chúng về phía bạn? Bạn phải loại bỏ chúng.

Có năm kẻ thù bên ngoài và hai kẻ thù bên trong, trong số này hai kẻ thù bên trong đáng sợ hơn cả vì chúng là nam châm, chúng kéo năm kẻ thù bên ngoài đến với bạn. Năm kẻ thù bên ngoài là nước, lửa, kẻ thống trị, kẻ trộm hay người mà bạn không thích. Hai mối nguy hiểm bên trong kéo năm kẻ thù bên ngoài xâm nhập vào bên trong, rồi người này chết một cách dữ dội, anh ta trải qua đau khổ cả về thể xác lẫn tinh thần.

Điều này xảy ra có phải do bạn không may mắn? Hay điều này xảy ra do bạn không nhổ được tận gốc dễ của từ tính. Chúng đang ở trên ý môn, dựa trên ý môn những kẻ thù bên trong trú ngụ, bạn phải đưa giáo pháp vào để loại bỏ chúng, nếu không những kẻ thù bên trong này sẽ không chịu rời đi.

Nếu cái này ra đi, cái khác sẽ thay thế, đây chính là mối liên quan giữa chúng. Hai kẻ thù bên trong đang cư ngụ tại ý môn. Bạn sẽ phải làm việc để mang những tâm đổng lực của vipassanā đến đó, khi trí tuệ vipassanā javana đến, hai kẻ thù bên trong không thể tồn tại. Khi từ tính bị xoá sổ, kẻ thù bên ngoài không thể xâm nhập. Bây giờ bạn đã nhìn thấy thứ mà bạn thực sự có thể dựa vào chưa? Đó là tuệ giác vipassanā, mỗi khi thực hành vipassanā, bảy tâm đổng lực javana phát khởi.

Vì vậy hãy quan sát trên tâm. Bạn cũng có thể chánh niệm trên hởi thở vào, hơi thở ra. Nếu tâm tham xuất hiện, hãy quan sát sự sinh diệt của tâm tham. Nếu tâm hoài nghi xuất hiện, hãy quan sát sự sinh diệt của hoài nghi. Nếu tâm suy nghĩ đó đây, hãy quan sát sự sinh diệt của suy nghĩ.  Nếu tâm buồn ngủ, hôn trầm, cũng hãy quan sát sự sinh diệt của chúng. Quan sát về sự sinh khởi và diệt đi là Đạo lộ, khi quan sát những tâm đổng lực đầu tiên của Đạo lộ sẽ sinh khởi.

Tâm đổng lực đầu tiên này sinh khởi trên ý môn, trước đó hai kẻ nội thù cũng sinh khởi tại ý môn. Theo phương pháp tôi đã hướng dẫn, nếu tâm được quan sát, giáo pháp cao thượng sẽ đến. Pháp cao thượng và chánh kiến sẽ đến, thực hành thiền tuệ vipassanā là giáo pháp được thực hành bởi những con người có giới đức và chánh kiến. Đây là pháp có giới đức và chánh kiến nên pháp vô minh và tà kiến sẽ phải chạy trốn. Pháp cao thượng và chánh kiến là tâm đổng lực đầu tiên. Nếu sự sinh và diệt của các uẩn được quan sát thường xuyên thì pháp cao thượng và chánh kiến sẽ đến.

Khi pháp cao thượng và chánh kiến xuất hiện, vô minh và tà kiến sẽ biến mất. Chúng chạy trốn vì bạn tụng kinh Paritta chăng? Hay chúng chạy trốn vì trí tuệ đến từ quan sát các uẩn? Có thể vô hiệu hoá thông qua lời nói và vô hiệu hoá thông qua tinh thần. Nếu đó là hành vi xấu thông qua lời nói, sẽ bị vô hiệu hoá qua lời nói. Nhưng vô minh và tà kiến đã có sẵn trong tâm trí, đó là hành vi thuộc về tinh thần, do đó phải được vô hiệu hoá thông qua tinh thần.

Ác ma chạy trốn bởi vì bạn đang tụng đọc kinh Hộ Trì Paritta hay vì trí tuệ vipassanā? Đây là hoạt động tinh thần, còn tụng đọc các câu kệ chỉ là hoạt động bằng lời nói. Tham lam, sân hận là pháp vô minh, tà kiến cũng là pháp vô minh. Những hành động tinh thần phải được xua đuổi bởi hành động tinh thần khác.

Hoạt động tinh thần, ý nghiệp (mano kamma) ở bên trong bạn, làm thế nào để ý nghiệp bị đuổi ra ngoài? Hàng ngày bạn tụng đọc kinh Hộ Trì, bạn đọc thuộc lòng những câu tụng để xua đuổi những nguy cơ của những kẻ thống trị và trộm cướp, thậm chí bạn còn nói “aum” để bắt đầu buổi tụng kinh của mình. Khi bạn tụng “aum” trong khi cầu nguyện, bạn đang đi ngược lại với lời dạy của Đức Phật. Thông qua hành động bằng lời nói, bạn hy vọng sẽ xua đuổi được nguy hiểm. Rồi bạn cầu nguyện “mong cho tôi thoát khỏi mọi kẻ thù và hiểm nguy”, cho dù bạn đang tụng điều đó thì những hoạt động xấu về tinh thần vẫn đang tiếp diễn bên trong. Liệu những ý nghiệp như tham, sân, tà kiến có biến mất thông qua việc tụng kinh và cầu nguyện? Không, vì vậy nếu chúng tiếp tục, những hành động xấu xa sẽ thu hút những điều ác hơn.

Trong những trường hợp khẩn cấp, bạn có thể tụng lên những kệ ngôn bảo vệ như: “Itipiso arahant sammāsambuddho” hay “hetu paccayo..”, nhưng ác nghiệp vẫn tồn tại bên trong.

Người cao quý đắm chìm trong sự hấp thụ của sự chấm dứt nirodha samapatti, thậm chí không thể đốt cháy, ngay cả khi bạn cố gắng đốt cháy họ, bởi vì bên trong họ không có các bất thiện. Họ vẫn còn nguyên vẹn bởi ngọn lửa, vipassanā là thực hành phát triển trí tuệ, là công việc của tâm, nó sinh khởi ở ý môn và diễn ra trên cơ sở của tâm căn.

Khi bạn thực hành, dịch bệnh không thể xâm nhập, đây là cách chắc chắn nhất để không gặp nguy hiểm và thù địch. Khi những tâm thiện sinh khởi thì những tâm bất thiện không còn nữa. Nam châm bị trục xuất, phép thuật phù thuỷ chống lại bạn sẽ không có tác dụng. Nếu không có câu thần chú nào được đặt bên trong bạn, liệu các yêu tinh và phù thuỷ có thể chế ngự bạn không?

Trí tuệ minh sát là thứ duy nhất để dựa vào. Cho dù mọi thứ có thể bạo lực đến đâu, việc thực hành tuệ giác vẫn phải được tiếp tục. Bất cứ điều gì sinh khởi, hãy quan sát sinh và diệt. Sinh diệt là đối tượng để quan sát, trí tuệ về sinh và diệt sinh khởi trên ý môn. Xuyên suốt khoảnh khắc quan sát, tâm đổng lực sinh khởi bảy lần. Khi nào tâm đổng lực đầu tiên cho kết quả của nó? Bảy ngày, bảy tháng hoặc bảy năm. Nó có thể tạo ra kết quả ngay lập tức, xuyên qua đó dịch bệnh được vượt qua và Niết Bàn sẽ được thành tựu.

Sư Chân Thiện dịch

Các chướng ngại trong vòng luân hồi

Chúng ta đang sống như thế nào trong vòng luân hồi (saṃsāra)? Tôi sẽ thảo luận về mối quan hệ giữa con người và các chúng sinh khác. Chúng sinh đang lang thang trong vòng luân hồi bằng cách thay đổi những cái đầu, chẳng hạn từ đầu người sang đầu chó hay đầu lợn. Theo pháp Duyên Sinh, chúng sinh đang chạy xung quanh bởi sinh, già, bệnh và chết. Đây là cỗ máy khổ đau (dukha) đang vận hành, nhưng chúng sinh không biết làm thế nào để thoát khỏi những hiện tượng bị bao phủ, vì vậy vòng luân hồi là vô tận với tất cả chúng sinh.

Có năm chướng ngại che phủ giáo pháp và làm cho trí tuệ không thể phát triển. Đây là những pháp cản trở Đạo và Quả. Thậm chí ngay cả khi được gặp Đức Phật, giáo pháp hay chư tăng, nếu các bạn không loại bỏ những chướng ngại này thì cỗ máy dukhha vẫn tiếp tục hoạt động.

Tiến trình của tâm diễn ra ở tim (hadayavatthu). Nếu máu ở tim bị ô nhiễm thì tâm cũng vậy. Nếu máu ở tim tinh khiết thì tâm sẽ trong sáng, rõ ràng và trí tuệ trở nên sắc bén. Đức Phật minh hoạ rằng tâm có tham giống như bát nước bị nhuộm màu. Bát nước ban đầu là bát nước trong. Cũng như vậy, dòng tâm hữu phần (bhavanga citta) là trong sạch, máu ở trong tim cũng trong sạch. Khi tâm trong sáng như bát nước trong thì dễ dàng quan sát tính vô thường (anicca) của các uẩn. Ngứa xuất hiện rồi biến mất, nhĩ thức xuất hiện rồi biến mất, tỷ thức xuất hiện rồi biến mất, suy nghĩ xuất hiện rồi biến mất. Tất cả đều đang biến mất.

Nếu bạn không thể nhận ra tính vô thường nghĩa là tâm bị trộn lẫn với các chướng ngại, nên trí tuệ không có cơ hội sinh khởi. Điều này cũng giống như bạn không có khả năng nhìn thấy khuân mặt của chính mình trong nước, các hiện tượng vô thường, khổ, vô ngã và bất tịnh không thể nhận biết. Theo kinh Tứ Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna), nếu tâm có tham, trước hết hãy quan sát tính vô thường của tâm tham đó, sau đó bạn sẽ thấy tính vô thường trong các uẩn.

Tâm tham sinh khởi mà không biết cách loại bỏ nó, tham sẽ chuyển thành chấp thủ (upadana) và tiếp tục trôi lăn trong luân hồi. Nếu bạn biết cách đối phó với tâm tham thì sẽ trở thành vipassanā, và sau đó tiếp tục quan sát tính vô thường của bất cứ pháp nào sinh khởi. Một số người đổ lỗi cho ba la mật (parami) khi các chướng ngại xuất hiện. Việc này không liên quan gì tới các ba la mật, vấn đề là họ không biết cách nào để giải quyết chúng.

Có hai loại pháp, pháp thế gian và pháp của Đức Phật. Vipassanā là lời dạy của Đức Phật, được sử dụng để thực hành, nhưng cần có người hướng dẫn. Nếu bạn gặp được người thầy tốt, con đường tu tập của bạn sẽ thuận lợi. Gặp được người thầy tốt như bình minh ló dạng, và khi các chi phần của Đạo lộ được phát triển giống như mặt trời xuất hiện. Nếu không có hai yếu này tất cả chúng sinh đều ở trong bóng tối, do đó họ sinh ra, sống và chết trong bóng tối.

Điều này chịu ảnh hưởng bởi vô minh và tham ái. Theo pháp Duyên Sinh, chúng sinh đang đi đến bốn cõi khổ. Tôi sẽ nói về những pháp chướng ngại mà Đức Phật dạy cho vua Ajatasattu. Nếu tham sinh khởi trong các uẩn thì giống như người mắc nợ, tâm không có thời gian rảnh rỗi và tâm trí trở nên buồn rầu. Bạn thử tìm hiểu xem tham có giống như người mắc nợ hay không.

Mọi người lập gia đình, lấy chồng, gả vợ và sinh con. Gia đình là những chủ nợ cho bạn vay tiền, và bạn phải làm việc cho họ. Tham giống như món nợ, món nợ này phải được trả cho đến tận khi bạn qua đời. Ngay cả khi hấp hối bạn vẫn muốn tiếp tục trả nợ. Đức Phật dạy rằng phải từ bỏ lòng tham, nhưng các bạn đang giữ tham bên mình, vì vậy các bạn không phải là Phật tử. Làm thế nào để giải phóng bản thân khỏi kiếp nô lệ? Các bạn luôn yêu bản thân mình nhất vì không biết vấn đề của các uẩn.

Cần phải uống thuốc để nôn ra lòng tham trong các uẩn. Thuốc chính là con đường trí tuệ. Mỗi khi tham sinh khởi quán tưởng tham là vô thường, sau đó tiếp tục quan sát các uẩn nơi tham bị che dấu. Nếu tham ở trong tim lâu hơn thì cuộc sống nô lệ trở nên dài hơn. Chánh kiến là liều thuốc vipassanā đối với chứng nôn mửa. Không có căn bệnh nào lớn hơn lòng tham, không có thuốc nào chữa khỏi được, chỉ có thuốc của Đức Phật.

Muốn tiêu diệt tham ái (taṇhā) hãy quan sát thọ uẩn. Tại sao? Vì thọ điều kiện nên tham ái (vedana paccaya taṇhā). Sau khi cảm thọ chấm dứt, tham ái sẽ chấm dứt (vedana nirodha taṇhā nirodho) và bạn được tự do khỏi danh sách nô lệ. Thời gian bạn không thực hành là thời gian của kiếp nô lệ. Hãy quan sát ba cảm thọ: cảm thọ dễ chịu, cảm thọ khó chịu và cảm thọ trung tính.

Tại sao bạn lại tìm kiếm sự giàu có, bởi vì bạn đang bị hành hạ bởi cảm thọ dễ chịu. Cảm thọ dễ chịu, khó chịu và trung tính đều dẫn đến tham lam, sân hận và si mê, chúng đều rất khủng khiếp. Khi tham ái xuất hiện, nó sẽ yêu cầu bạn tìm kiếm cái này cái kia. Từ cảm giác dễ chịu tham ái sinh khởi, do tham ái nên tìm kiếm sinh khởi. Rất hiếm những người biết cách quan sát các cảm giác, hầu hết mọi người đến chết mà không hề hay biết điều này và nghĩ rằng “tôi chưa muốn chết và tôi rất giỏi trong việc tìm kiếm sự giàu có”.

Nếu bạn có thể quan sát cảm thọ thì tham ái sẽ không sinh khởi. Không sinh khởi thì không có sự tìm kiếm. Đó là Niết Bàn, nơi không có tìm kiếm cái này cái kia. Ngược lại không biết về cảm thọ sẽ không hạnh phúc. Bạn biết cảm thọ khổ không phải bằng trí tuệ, thay vào đó bạn biết với tham ái. Trong 31 cõi luân hồi, tất cả chúng sinh đều bị hành hạ bởi vô minh về cảm thọ. Trong thế giới loài người, người ta dạy nhau cách phát triển các cảm thọ, nhưng không biết cách dạy nhau để chấm dứt cảm thọ.

Cảm thọ trung tính được điều kiện bởi tham ái, upekkha vedana paccaya taṇhā. Có rất nhiều tham ái xảy ra trong quá trình nhìn, nghe, ngửi, nếm. Đức Phật dạy chúng ta phải nhận biết cảm thọ mỗi khi chúng sinh khởi để ngăn ngừa đau khổ của sự tìm kiếm chỗ này chỗ kia. Bạn có thấy Đức Phật và ngài Sariputta đi khất thực không? Tất cả các cảm thọ của họ đã bị tiêu diệt từ lâu, họ đã ở trong Niết Bàn nơi không có sự tìm kiếm chỗ này và chỗ kia. Kết thúc của cảm thọ là an vui tuyệt đối.

Theo sau sự chấm dứt của cảm thọ thì cuối cùng mọi thứ đều kết thúc, vì vậy đừng có quên quan sát các cảm thọ. Nếu bạn sơ xuất nó sẽ đẩy bạn xuống vực thẳm của đau khổ.

Sân (dosa) giống như một người mắc bệnh. Bệnh bắt đầu khi còn nhẹ rồi đến giai đoạn nặng, do đó bạn phải nhận ra tâm sân sinh khởi ngay  khi chúng mới xuất hiện. Chú giải nói rằng những người có tính sân thường già nua, bệnh tật và đau khổ sớm hơn so với tuổi của họ. Tâm sân xuất phát từ tà kiến và cần phải quan sát tính vô thường của chúng. Bạn không thể quan sát những thứ khác nếu sân ở đó. Quan sát tâm sân trước, sau khi dập tắt nó hãy quan sát các uẩn mà tâm sân dựa vào. Trong kinh Trung Bộ tâm sân được ví như một con ếch, nếu bạn dùng que chọc vào con ếch, nó sẽ phình to lên.

Theo pháp Duyên Sinh tâm sân bắt đầu từ điểm cuối ‘dosa, soka, parideva’ trong vòng tròn nhân duyên. Không biết tâm sân sinh khởi thì vô minh đã được bao gồm trong đó. Bởi vì vô minh nên vòng duyên sinh quay lăn không ngừng. Do đó tâm sân sinh khởi dẫn mọi người đến đau khổ từ đời này đến đời kia. Căn bệnh này có thể được chữa khỏi bằng tâm từ (metta), nhưng nếu bạn không thể dùng tâm từ thì hãy dùng vipassanā. Vào thời điểm tâm sân hận thì không dễ để khởi lên tâm từ, vì vậy quán tưởng về tính vô thường của sân là cách tốt nhất để kết thúc nó.

Hôn trầm (thina) và thuỳ miên (middha) được ví như phạm nhân trong ngục tù. Những phạm nhân này không biết điều gì đang xảy ra bên ngoài nhà tù, vì vậy hai pháp này khủng khiếp hơn những pháp khác. Chúng là số một ở điểm không biết. Người sân biết tâm sân của mình, người tham biết tâm tham của mình cho dù người ta không vượt qua được nó. Không khó để quan sát tâm tham và sân, nhưng đối với người hôn trầm và thuỳ miên, họ không thể làm được điều đó. Vì vậy chúng giống như phạm nhân bị nhốt trong nhà tù saṃsāra.

Những người thường xuyên hành thiền dẫn đến thói quen được hình thành, khi gần chết thường nghiệp (āciṇṇa kamma) xuất hiện và sẽ chết với nụ cười trên môi. Trong cuộc sống hàng ngày bất cứ hành động hay chuyển động nào mà bạn làm, tà kiến và tham ái luôn luôn bám theo các uẩn. Vì vậy bạn không thể nào nhìn thấy những thay đổi bên trong chúng. Cho tới khi Đức Phật xuất hiện và những vị thầy hướng dẫn cho bạn, bạn mới nhận ra sự thay đổi của các uẩn. Khi đó trí tuệ đi cùng với các uẩn, trí tuệ nhìn thấy sự xấu xí của các uẩn nó trở nên chán ngán, ghê tởm và mất lòng tin vào các uẩn. Tiếp tục quan sát trí tuệ sẽ không còn tiếp tục liên kết với các uẩn. Theo cách đó Đạo tuệ sinh khởi và bạn có thể mỉm cười khi gần chết.

Bồn chồn (uddhacca)  hối hận (kuckkucca) là những kẻ nô lệ. Khi tâm không được bình yên, nó không bao giờ làm theo ý định và mong muốn của bạn. Bạn phải chạy theo sự bồn chồn giống như một kẻ nô lệ. Người nô lệ đi theo sau chủ nhân của mình, giống như con ong làm tổ trên đuôi con chó. Hãy quan sát về tính vô thường của bồn chồn, lười biếng hay uể oải. Sau khi vượt qua những tâm bất thiện này hãy khởi động lại với đối tượng ban đầu. Hối hận (kukkuca) có hai trạng thái tâm. Hối hận với những hành động bất thiện đã làm trước đây và lo lắng với những hành động thiện chưa làm. Trạng thái tâm này có thể xuất hiện trong lúc hành thiền cũng như trong lúc hấp hối.

Nếu ai đó hỏi bạn đến từ đâu, mọi người sẽ trả lời rằng đến từ bụng  mẹ. Nhưng Đức Phật nói rằng tái sinh là sự thật của đau khổ, vì vậy câu trả lời đúng là đến từ dukkha sacca. Sau đó họ lại hỏi tiếp, bạn đang sống ở đâu? Câu trả lời sẽ là Mandalay, Taung Myo. Già là sự thật của khổ (jarā pi dukkha saccam), vì vậy bạn luôn đang sống với sự thật của khổ.

Các bạn nghĩ rằng những điều tốt đẹp đang đến. Cuộc sống tốt đẹp đang đến nếu bạn không có mắt nhìn ra sự thật. Vyadhi pi dukkha saccam, bệnh tật là sự thật của khổ. Bạn nghĩ rằng mình khoẻ mạnh nhưng thực tế con người luôn phải sống chung với bệnh tật. Một lần nữa các bạn biết cái chết là sự thật của khổ, marana pi dukkha sacca. Do đó các bạn đến từ dukkha, sống với dukkha và sẽ chết với dukkha. Chức năng của các uẩn chỉ là những thứ này, trong toàn bộ vòng luân hồi, chúng sinh đang lang thang với sự thật của khổ. Chúng ta chưa bao giờ có được hạnh phúc giữa chúng. Đau khổ bị che đậy bởi những pháp chướng ngại (nivarana dhmama) nên không thể nhìn thấy con đường tự do. Vì vậy, khởi động cỗ máy khổ đau là các pháp chướng ngại.

Hoài nghi (vicikicchā) đến từ đâu? Chúng ta cùng đi tìm nguyên nhân. Trong kinh Trung Bộ, bài kinh Mulapannasa, Đức Phật nói rằng hoài nghi xuất phát từ sự không chú ý đến những điều nên chú ý và chú ý đến những điều không nên chú ý. Vì vậy, nguyên nhân của hoài nghi đến từ không khéo tác ý (ayonisomānasikāra). Tà kiến là pháp si mê (moha), nó được bao gồm trong mười hai tâm bất thiện (akusalacitta). Chỉ khi phá bỏ hết tà kiến và hoài nghi thì mới chứng ngộ Niết Bàn lần đầu tiên, sau đó mới có thể nhận ra các Đạo tuệ khác cao hơn, dẫn đến hạt giống của những cõi khổ bị phá huỷ.

Để phát triển tác ý chân chánh, cần phải kết hợp giữa kiến thức, tư duy và lắng nghe pháp thoại. Có ba loại hoài nghi về bản thân. Chúng ta đến từ đâu? Điều gì xảy ra với chúng ta bây giờ? Sau khi chết chúng ta sẽ đi về đâu? Các bạn đang làm công việc hàng ngày giống như một người đi trên sợi dây sắp đứt được căng ngang trên trời. Nếu các quan điểm sai lầm của bạn không bị tiêu diệt, tôi phải cảnh báo cho bạn về mức độ nguy hiểm của nó. Không thể xua tan hoài nghi thì tà kiến không thể mất đi, nếu tà kiến không mất đi thì không thể thoát khỏi sự lang thang trong những cõi khổ.

Tà kiến và hoài nghi (vicikicchā) còn nguy hiểm hơn cả hai quả bom nguyên tử đã ném xuống thành phố Hiroshima và Nagasaki. Hai quả bom nguyên tử này chỉ khiến bạn chết một lần, nhưng tà kiến và hoài nghi khiến bạn chết đi sống lại nhiều lần. Từ kết quả của vô minh và nghiệp lực cây năm uẩn sinh trưởng và phát triển. Cây lớn lên, ra hoa và kết trái, rồi từ trái cây, một cây nữa lại mọc lên, cứ như vậy không ngừng. Vì vậy các bạn phải đối phó với cây hiện tại là các uẩn và làm cho nó không kết trái nữa. Đừng chỉ nghe pháp thoại để lấy phước thiện, hãy ghi nhớ và thực hành.

Quan sát tính vô thường nếu tâm hoài nghi xuất hiện. Thực hành quan sát trên năm uẩn, vô minh trở thành trí tuệ, nghiệp lực và tâm tái sinh sẽ không còn khả năng sinh khởi. Không có hạt giống thì không có cây nào mọc lên. Sau khi hoài nghi biến mất, hãy tiếp tục quan sát về năm uẩn.

Hoài nghi về các uẩn dẫn đến phát triển vô minh và các hành, cái mà dẫn dắt chúng sinh lang thang trong vòng tròn sinh tử.

 …→ vô minh + hành → năm uẩn → vô minh + hành → năm uẩn →..

Đức Phật nói rằng không thể tìm thấy sự khởi đầu của một chúng sinh hay khởi đầu của vòng luân hồi. Nhưng nếu bạn hỏi nguyên nhân của chúng thì có thể được trả lời. Vô minh và nghiệp lực là hai yếu tố chính, chúng là nguyên nhân chính của các uẩn. Bởi vì có Tập Đế nên Khổ Đế sinh khởi, do đó chỉ có Khổ Đế (dukkha sacca) cùng với Tập Đế (samudaya sacca) đang lang thang trong vòng luân hồi. Vì những chướng ngại mà Diệt Đế (nirodha sacca) và Đạo Đế (magga sacca) không thể vào được. Trong vòng luân hồi chỉ có nhân xấu và quả xấu đang đi lang thang mà không có nguyên nhân tốt và quả tốt. Cô đọng lại pháp Duyên Sinh chỉ có bấy nhiêu thôi.

Nguyên nhân của cái chết là vô minh và các hành, kết quả của cái chết là các uẩn. Bạn phải tìm kiếm nhân tốt và quả tốt trước khi tuổi già và bệnh tật đến. Nếu bạn tìm kiếm điều đó giữa bệnh tật và cái chết thì sẽ không bao giờ thành công.

Ngài Anuradha là một tỳ khưu gần gũi với Đức Phật và đã thực hành, nhưng còn hoài nghi. Tỳ khưu Anuradha chưa vượt qua được hoài nghi của mình. Vị ấy nghi ngờ và không thể trả lời được những câu hỏi do người ngoài đặt ra. Bạn phải quan sát để thấy sự sinh và diệt của các hiện tượng. Sau khi được Đức Phật xua tan tà kiến và hoài nghi, vị ấy thâm nhập vào các khổ uẩn sinh diệt nên trở thành một vị thánh Nhập Dòng, và cuối cùng là một vị Arahant.

Đạo tuệ chỉ sinh khởi khi thâm nhập được vào trong các uẩn khổ, khổ chấm dứt nghĩa là các uẩn không còn tồn tại. Đạo tuệ không còn thấy các uẩn, là nhân của hạnh phúc và quả của hạnh phúc là Niết Bàn.

Sư Chân Thiện dịch

Thấy Niết-Bàn với tâm trong sạch

Bạn cần phải tìm hiểu về Niết Bàn khi thực hành để biết về nơi mà bạn đang hướng đến. Bạn mong muốn đạt đến Niết Bàn, vì vậy không hiểu rõ bạn sẽ không nỗ lực để hướng tới. Liên quan đến vấn đề này, đức vua Milinda đã đưa ra sáu câu hỏi tới ngài Nāgasena.

(1). Hiện tượng nào sinh ra bởi nghiệp?

(2). Hiện tượng nào sinh ra bởi nguyên nhân?

(3). Hiện tượng nào sinh ra bởi nhiệt độ?

(4). Hiện tượng không sinh bởi nghiệp?

(5). Hiện tượng không sinh bởi nguyên nhân?

(6). Hiện tượng không sinh bởi nhiệt độ?

(1) Do chủ ý (cetana), ý nghiệp là nguyên nhân khiến chúng sinh sinh khởi. Như vậy nghiệp là nguyên nhân làm cho danh và sắc sinh khởi. (2) Hạt giống phát sinh bởi cây, cây trồng mọc lên từ hạt giống và (3) cháy rừng nguyên nhân từ lửa. Nhiệt độ (utu) là nguyên nhân sinh ra đất, nước, gió và ngọn núi. (4)(5)(6) Bầu trời và Niết Bàn không được sinh ra bởi nghiệp, bởi nguyên nhân hay nhiệt độ. Niết Bàn không phải là con đường của nghiệp, bạn phải nhớ điều này, Niết Bàn là con đường của trí tuệ.

Bạn không thể cố gắng đạt được Niết Bàn bằng con đường của nghiệp, tôi muốn bạn đi trên con đường trí tuệ. Không thể kết nối Niết Bàn với nhân và quả, vì vậy tôi đang hướng dẫn để bạn tìm kiếm Niết Bàn với trí tuệ.

Trí tuệ là yếu tố quyết định hướng đến Niết Bàn, Niết Bàn là con đường của chánh kiến. Do đó Đức Phật đã tìm kiếm Niết Bàn với trí tuệ và để nghiệp sang một bên. Bạn đang già đi và cái chết sẽ đến theo cách riêng của bạn, bạn có thể tách biệt tuổi già và cái chết không?

Ngài đại đức Nāgasena đã giải thích Niết Bàn tới vua Milinda. Niết Bàn không sinh khởi ở hiện tại, nếu sinh khởi ở hiện tại thì mọi người sẽ nhìn thấy Niết Bàn và Niết Bàn cũng không phải là đã được sinh ra. Đây không phải là pháp được tạo ra bởi ai đó, không phải là pháp quá khứ, không phải là pháp ở hiện tại và cũng không phải là pháp ở tương lai.

Một số người cầu nguyện rằng “mong cho tôi nhận ra Niết Bàn ở cuối kiếp sống này”. Điều này cũng giống như “mong cho tôi không bao giờ nhận ra Niết Bàn” vì không có chuyện chấm dứt vòng sinh tử nếu bạn không nỗ lực thực hành. Đừng đặt những từ như “cuối cuộc đời của tôi” vào trong lời cầu nguyện, nên cầu nguyện rằng “mong cho sự thực hành của tôi đưa tôi đến chứng ngộ Niết Bàn”.

Bạn phải tự bước đi nếu bạn muốn kết thúc vòng luân hồi, thật sai lầm nếu bạn nghĩ rằng nghiệp sẽ tự kết thúc bởi nó. Nghiệp sẽ kết thúc nếu  được gặp bậc Thiện Tri Thức (kalynamitta) và kết thúc bằng con đường thực hành. Bạn phải thay đổi quan điểm cũ của mình, Niết Bàn sẽ không bao giờ xuất hiện nếu chỉ dựa vào nghiệp. Đó không phải là Pháp do người khác tạo ra, vì vậy Đức Phật nói rằng “hướng dẫn là nhiệm vụ của ta, thực hành là nghĩa vụ của các ông”.

Niết Bàn tự do khỏi ba chu kỳ của thời gian: đã sinh, đang sinh và sẽ sinh. Nếu Niết Bàn tự do khỏi các chu kỳ của thời gian, nên cho rằng Niết Bàn không tồn tại? Bạn không thể biết Niết Bàn với năm giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân trong sáu cửa giác quan mà chỉ có thể biết và nhìn thấy Niết Bàn qua ý căn. Bạn có thoả mãn khi tôi nói rằng nhìn Niết Bàn với tâm không? Khi ngủ và suy nghĩ cũng là tâm. Vậy thì tâm nào nhìn thấy được Niết Bàn? Đây là một câu hỏi rõ ràng và câu trả lời sẽ được đánh giá cao.

Tâm trong sạch sẽ thấy được Niết Bàn, tâm không còn phiền não mới thấy được Niết Bàn, với tâm còn phiền não không thể nhìn thấy được Niết Bàn. Bạn chưa thấy được Niết Bàn vì tâm bạn vẫn còn chưa trong sạch. Nếu tiếp tục thực hành, các bạn là đệ tử của những bậc thánh nhân. Đừng trộn tâm với năm triền cái, nếu tâm chứa các triền cái thì không thấy được Niết Bàn.

Trí tuệ (ñāṇa) trở nên sắc bén khi biết rõ vô thường và nhàm chán với chúng. Nhưng vẫn còn lậu hoặc (āsava) trong sáu cửa giác quan, trí tuệ minh sát vẫn bị trộn lẫn với phiền não (kilesa), vì vậy chưa tự do hoàn toàn khỏi các lậu hoặc. Có ba mức độ của tâm ý (mano): tâm phiền não, trí tuệ trộn lẫn phiền não và tự do khỏi phiền não.

Tâm nhìn thấy Niết Bàn khi bạn thâm nhập được vào các khổ uẩn và không còn muốn khổ nữa. Khi đó tâm thoát khỏi các kiết sử, và khi tâm Đạo sinh khởi Niết Bàn sẽ được thấy. Sự sinh khởi của trí tuệ minh sát vẫn nằm dưới sự ảnh hưởng của vô minh. Chỉ có trí tuệ thuần khiết mới được gọi là trí tuệ siêu thế (lokuttara ñāṇa). Vẫn chưa gọi là thuần khiết nếu tâm chưa đạt tới Đạo tuệ, vì Đạo tuệ là trí tuệ thuần khiết, trong sạch tuyệt đối và không còn tạo ra nghiệp.

Khi tâm thanh tịnh thuần khiết, sẽ nhìn thấy Niết Bàn, đây là tâm của các bậc thánh nhân (ariya). Khi đó tâm được tự do khỏi ba chu kỳ của thời gian. Niết Bàn không cần nơi trốn để hiện diện, với tâm trong sạch và sáng suốt có thể nhìn thấy Niết Bàn mọi lúc, mọi nơi. Niết Bàn không chấp nhận những người mắc bệnh phong phiền não, những người này không muốn đi đến Niết Bàn, thay vào đó họ muốn ở gần với lửa. Vì vậy, mắc bệnh phong phiền não không thể đến gần Niết Bàn được.  

Cái gì dẫn dắt thế giới

Kết quả của các uẩn đến từ nghiệp, liệu rằng các uẩn có thể kết thúc bởi chính chúng không? Có bất cứ nhà lãnh đạo nào của chúng không? Bạn phải hỏi tôi. Tâm đang kiểm soát và chi phối nghiệp. Tâm là nhân và nghiệp là quả, nghiệp thật kỳ lạ và đáng ngạc nhiên, tâm cũng vậy. Có tâm, trong tương lai sẽ cho quả, cứ như vậy bạn đi trên con đường không có điểm kết thúc. Tâm không giống như có thứ gì đó kiểm soát được nó.

Phải chăng tất cả mọi người đều có chung một kết quả? Nghiệp dẫn tới việc hình thành mỗi chúng sinh rất kỳ lạ và tất cả mọi người không giống nhau. Chúng sinh rơi xuống nhiều loại địa ngục khác nhau. Các loại nghiệp khác nhau sinh ra các loại quả khác nhau, tại sao nghiệp có thể cho các kết quả khác nhau? Vào lúc xảy ra nghiệp, tâm rất kỳ lạ và ngạc nhiên. Tâm kỳ lạ và ngạc nhiên nên nghiệp cũng vậy.

Nghiệp kỳ lạ và ngạc nhiên nên kết quả là các uẩn cũng kỳ lạ và ngạc nhiên. Người nào không kiểm soát được tâm và tạo nghiệp giống như con voi mù đi qua khu rừng rậm. Tạo nghiệp một cách mù quáng, nên kết quả sẽ phát sinh một cách mù quáng. Đức Phật đã đề cập tới việc kiểm soát tâm trí trong phẩm Tâm (cittavagga). Trong Anguttara, một tỳ khưu hỏi Đức Phật ba câu hỏi:

(1). Cái gì dẫn dắt thế giới?

(2). Cái gì đang kéo thế giới?

(3). Thế giới đang theo đuổi mong muốn nào?

Đức Phật trả lời rằng tâm dẫn dắt thế giới. Bạn tới đây để nghe pháp thoại, do được dẫn dắt bởi tâm. Rơi vào trong các cảnh giới hiện hữu do tâm dẫn dắt. Bây giờ bạn đã biết ai là thủ phạm dẫn dắt chúng sinh lang thang trong vòng luân hồi. Các uẩn của chúng ta được kiểm soát bởi tâm. Trước đây chúng ta không biết về chủ nhân của nghiệp, bây giờ bạn đã nhìn thấy chủ nhân của nghiệp. Tâm khiến bạn đau khổ và không biết xấu hổ trong 31 cõi của sự hiện hữu. Nếu bạn chinh phục được tâm thì mọi thứ sẽ kết thúc. Devadatta, người anh em họ với Đức Phật, do không thể kiểm soát được tâm nên đã rơi xuống địa ngục.

Bởi vì tâm, chúng sinh đang đi vào tử cung của các loài động vật, và trở thành thức ăn cho con người dưới dạng xác chết. Mọi người coi những thứ này đến từ nghiệp, vì vậy họ không thực hành quan sát tâm (cittānupassanā) thay vào đó họ đang tạo ra những nghiệp tốt. Hầu hết các quan điểm sai lầm đều liên hệ với tâm.

Quan sát tâm là cách nhanh nhất đưa bạn nhập vào dòng thánh. Quan sát cảm thọ sẽ tiêu diệt ái (taṇhā), quan sát thân sẽ tiêu diệt tham (lobha) và quan sát các pháp tiêu diệt si (moha). Tâm và cảm thọ sinh khởi cùng nhau (sahajata), giống như lửa và ánh sáng. Kết quả của nghiệp sẽ biến mất nếu bạn kiểm soát hoặc vượt qua được tâm. Do đó tâm dẫn dắt thế giới.

Lại nữa, tâm đang kéo thế giới. Tâm đang kéo thế giới hướng về các thành viên trong gia đình và đi đến đó. Thêm một lần nữa thế giới đang chạy theo mong muốn của tâm. Do bởi tâm, các hành động sinh khởi, do có hành động nên kết quả là năm uẩn sinh khởi. Như vậy năm uẩn có thể sinh khởi được không nếu bạn giết chết nguyên nhân chính? Tâm là nguyên nhân chính khiến bạn trở thành người ăn chay hoặc ăn phân.

Tâm khủng khiếp đến mức độ nào? Đừng nghe bằng đôi tai bình thường, bạn phải chinh phục nó. Nếu không nó sẽ chinh phục bạn và bạn trở thành xác chết trong miệng người khác hay trong các chảo địa ngục. Sống trong vỏ trứng hay trở thành giun là do sự sắp đặt của tâm.

Nếu bạn không thể vượt qua tâm để quan sát sáu giác quan (ayatana) và sáu đối tượng tác động vào đó thì tâm sẽ dẫn dắt bạn đi tới chỗ này chỗ kia. Đầu óc làm con người ta điên đảo, nếu vượt qua được tâm, sẽ không còn điên cuồng, già nua, bệnh tật và cái chết, và cũng không còn nghiệp nào phát sinh. Không phát sinh nghiệp mới sẽ không có già bệnh và chết.

Ayatana→(1)phassa→(2)vedana→(3)taṇhā→(4)upadana→(5)kamma →(6)jati, jarā, marana

Đó là sáu căn hay sáu giác quan, chúng là các yếu tố vật chất, nhãn căn đến từ nhãn thanh triệt, tỷ căn đến từ tỷ thanh triệt,…Do đó Đức Phật nói rằng không có nhãn căn hay ý căn trong Niết Bàn, bạn phải làm cho tâm dừng lại nếu bạn muốn đến Niết Bàn. Trong toàn bộ vòng luân hồi samsara, bạn vẫn chưa cắt đứt tiến trình của các uẩn, nên cứ chạy lòng vòng trong vòng tròn sinh tử.

Nếu bạn vượt qua tâm thì thế giới chúng sinh (satta loka) sẽ kết thúc. Tôi khuyến khích bạn làm việc chăm chỉ để vượt qua tâm. Mỗi khi tâm khởi lên hãy quan sát về tính vô thường của nó. Bạn sẽ phàn nàn vì thật khó để quan sát mỗi khi tâm sinh khởi.

Thông thường bạn đi theo hướng xuôi dòng của tâm, hạ nguồn luôn dễ dàng. Bạn dễ dàng theo sau từ xúc (phassa) cho đến nghiệp (kamma bhava). Bây giờ nhiệm vụ của bạn là theo duy nhất một tâm. Trong năm bước bạn không mệt mỏi, chỉ bước này thôi, bạn nói rằng bạn mệt mỏi. Vậy tôi có thể làm gì được?

Nếu bạn bắt con khỉ ham vui đùa phải im lặng thì nó sẽ không hài lòng, vì vậy bạn phải luôn luôn theo sau tâm mỗi khi nó sinh khởi. Nếu không sau năm bước, bạn sẽ rơi vào vũng lầy địa ngục. Không vượt qua tâm thì nghiệp tiếp tục chi phối bạn. Trong kinh Pháp Cú (dhammapala) nói rằng người nào có thể rèn luyện tâm trí sẽ dẫn đến hạnh phúc Niết Bàn. Vì vậy các bạn hãy điều phục tâm trí bằng magga.

Tâm đang tạo ra thế giới vật chất của hơi thở, không khí đi bên cạnh tâm, nếu tâm muốn thở ra dài thì nó hơi thở dài. Cơ thể cũng sinh khởi theo tâm. Khi đang đi, cơ thể bỗng đi nhanh vì tâm muốn đi nhanh, và cũng bởi vì tâm mà bạn bỏ lỡ cơ hội với mọi vị Phật trước đây. Rõ ràng tâm đang kiểm soát các bạn.

Hãy quan sát tính vô thường khi tâm sinh khởi trên sáu cửa giác quan. Đó là tiến trình của các uẩn, vì vậy bạn phải cắt bỏ khối đau khổ đó. Với magga theo sau nên tâm không thể tiếp tục tiến trình của các uẩn. Sự kết thúc của tâm là kết thúc của các uẩn, sau đó bạn sẽ đạt được Niết Bàn trong đời này, tham ái cũng không thể theo sau tâm và vòng luân hồi bị cắt đứt./.

Thuyết pháp bởi Sayadaw Mogok

Sư Chân Thiện dịch

Thế giới

Thế giới là khổ

Các vấn đề trong cuộc sống thế gian (lokiya) là thế giới (loka). Pháp siêu thế (lokuttara) là các hiện tượng bên ngoài thế giới. Có chín pháp siêu thế là bốn Đạo, bốn Quả và Niết Bàn. Một tỳ khưu hỏi Đức Phật: “Bạch đức Thế Tôn, cái gì là thế giới?” Đức Phật trả lời rằng: “Sự sinh khởi và hoại diệt là thế giới”. Pháp thế gian là nơi mọi thứ xuất hiện và biến mất, không một ai được tự do khỏi sự xuất hiện và biến mất. Chỉ có pháp siêu thế là vượt khỏi pháp thế gian và Niết Bàn vượt ra khỏi thế giới (loka).

Con người không biết rằng thế gian là khổ, không biết về hiện tại khổ và tương lai khổ. Thậm chí khi công việc kinh doanh buôn bán diễn ra tốt đẹp thì cũng là khổ. Chỉ khi pháp thế gian về vô ngã xuất hiện, cho bạn cảm giác khẩn cấp (saṃvega) sẽ thúc giục bạn nhanh chóng thoát khỏi thế giới (loka).

Nguyên nhân của khổ (samudaya) và khổ (dukkha) là vấn đề chung của nhân loại. Con người coi cuộc sống là sự phát triển kinh tế, nhưng đó chỉ là những ngọn lửa và nhiên liệu tiếp tục được đốt cháy. Điều này khiến cho Đức Phật không có cơ hội đến và dạy dỗ mọi người. Đây là vấn đề của những người không hiểu về thế giới (loka). Bạn phải cắt bỏ loka, nghĩa là tiến trình loka của các uẩn để thoát ra khỏi các pháp thế gian (saṅkhāra loka).

Từ vô minh dẫn đến sinh rồi tử chính là vòng tuần hoàn của thế giới, được miêu tả bằng vòng tròn mười hai nhân duyên. Trong vòng tròn nhân duyên này chỉ tồn tại Khổ Đế (dukkha sacca) và Tập Đế (samudaya sacca). Chỉ có lửa và nhiên liệu trong vòng tròn đó. Con người tự tạo ra lửa và đang đốt cháy chính mình. Với tâm ô nhiễm nên các bạn không hiểu những lời này, trừ khi có trí tuệ. Thế gian hạnh phúc với ‘tham ái và đau khổ’, không có ‘tham ái và đau khổ’ con người sẽ không hạnh phúc. Vì vậy Đức Phật nói rằng người thế gian là những kẻ điên khùng và ngu ngốc.

Nếu bạn đang hạnh phúc trong thế giới, hãy quan sát sự vô thường của tâm hạnh phúc. Khi đó tham ái và bám víu sẽ không sinh khởi. Nếu bạn thất vọng hãy quan sát tâm sân. Chúng sẽ trở thành pháp siêu thế và bạn vượt qua thế giới. Khi nguyên nhân của khổ và khổ biến mất, thì vòng tròn sinh tử cũng biến mất. Bánh xe sinh tử xoay xung quanh samudaya và dukkha. Không có nhiên liệu và lửa phát sinh, điều rõ ràng sẽ xuất hiện. Nhưng mọi người thích lửa và nhiên liệu hơn, do đó thật khó để nói về Niết Bàn.

Trí tuệ hiệp thế vipassanā đang dọn dẹp mọi thứ để có được hoà bình. Trí tuệ siêu thế là bình yên tuyệt đối và không còn những thứ khác. Mọi người đang coi những thứ không bình yên là hạnh phúc nên để giải thích về Niết Bàn là điều rất khó. Thậm chí có người hỏi rằng “nếu tôi đến Niết bàn thì có chuyện gì ở đó không?” Những người này chưa bao giờ được nghe về sự bình yên tuyệt đối của pháp siêu thế cũng như không biết sự chấm dứt của lửa và nhiên liệu nên họ cho rằng Niết Bàn không tồn tại. Vì vậy những người không hiểu về đau khổ của thế giới thì sẽ quay trở lại thế giới.

Thế giới hình thành qua sáu căn

Sáu cửa giác quan là thế giới (loka). Trong kinh Tương Ưng (samyutta nikaya) Đức Phật dạy rằng có sự sinh khởi của thế giới và sự hoại diệt của thế giới. Toàn bộ quá trình duyên sinh là thế giới. Quá trình duyên sinh trên mắt bắt đầu từ nhãn thức cho đến khi kết thúc là sầu, bi, khổ, ưu, não. Năm giác quan khác cũng diễn ra theo cách tương tự, chúng tạo nên thế giới. Các bạn phải chấm dứt nếu các hiện tượng có sự phát sinh của chúng.

Nếu tham ái không theo sau cảm thọ thì thế giới bắt đầu diệt (loka nirodho) từ đây. Tham ái chấm dứt thì thế giới cũng chấm dứt và bạn không cần phải sợ hãi về nghiệp (kamma). Nếu tham ái không còn thì không có nghiệp tốt và nghiệp xấu nào nữa. Tất cả các bạn đều mong đợi những nghiệp tốt nhưng nếu nghiệp không chấm dứt thì không bao giờ đến được Niết Bàn.

Các bạn phải làm cho nguyên nhân của nghiệp là tham ái (taṇhā) và bám víu (upadana) chấm dứt. Tất cả các bạn chỉ thích những nghiệp tốt và không thích những nghiệp xấu, nhưng tôi khuyên các bạn không nên thích cả hai. Bất cứ nghiệp nào ở đó chỉ là sự sinh khởi, sinh có bản chất là khổ, vì vậy bạn nên thực hành để khiến nghiệp chấm dứt. Thực hành vipassanā để chấm dứt thế giới, còn cuộc sống gia đình, công việc, buôn bán… là sự phát sinh của thế giới.

Có hai con đường là xuôi dòng và ngược dòng, vì vậy bạn phải rất nỗ lực đi ngược dòng để đến thượng nguồn. Ai đó nói về sự thất vọng của thế giới đồng nghĩa với việc đang xây dựng một thế giới cho tương lai. Những người nhàm chán thế giới thì không giống như vậy. Nhàm chán thế giới bằng cách quan sát tính vô thường của bất cứ hiện tượng nào diễn ra trên sáu căn.

Thất vọng và nhàm chán là hai con đường khác nhau. Thất vọng với thế giới là cách nói thông thường nhưng không thực hành, những người này tiếp tục sống và chạy vòng quanh trong thế giới. Thế giới sẽ đi theo và áp bức họ. Nghiệp cũ luôn đi theo và áp bức nếu bạn không chạy trốn khỏi chúng. Bạn chỉ có thể chạy thoát khỏi chúng bằng cách vượt qua thế giới.

Chính con người tạo ra thế giới gồm những nghiệp tốt và nghiệp xấu cái đang áp bức chính họ. Thậm chí bạn sợ thế giới nhưng không biết cách chạy trốn sẽ tiếp tục bị chúng áp bức. Người muốn tự do phải quan sát thế giới. Hãy thực hành cho đến khi nhàm chán với thế giới, rồi sau đó bạn hãy tiếp tục cho đến khi chúng kết thúc và vượt qua chúng.

Thế giới chúng sinh (satta loka)

Tin rằng thế giới chúng sinh (satta loka) tồn tại, con người, chư thiên hay các vị thần Brahma tồn tại thì bạn phải biết rằng đó là tà kiến. Không hiểu về satta loka sẽ bị kẹt trong tà kiến. Nếu tin rằng chúng sinh tồn tại, vậy sau khi chết họ đi về đâu? Giữa hai quá trình dường như không có sự biến mất. Điều này xảy ra vì bạn đã cho rằng chúng sinh tồn tại vĩnh viễn. Đây là quan điểm của thuyết vĩnh cửu (sassata diṭṭhi).

Đặt tà kiến vào bên trong pháp Duyên Sinh thì đó là tham ái lớn. Không có chúng sinh nào, mà chỉ có sự thật về khổ (dukkha sacca) của thân tâm và sự tồn tại của vô thường. Nếu bạn đang dừng lại ở satta loka thì tà kiến sẽ xuất hiện. Tương tự như khi bạn dùng móng tay cào lên cánh tay, cảm giác trên cánh tay và tâm quan sát sẽ sinh khởi và diệt đi tại đó. Vậy chúng có di chuyển đến nơi nào khác không?

Những du sĩ ngoại đạo hỏi tỳ khưu Anurādha bốn câu hỏi:

(1). “Như Lai có tồn tại sau khi chết không?”, điều này đồng nghĩa với

thường kiến. Đây là câu hỏi của những người theo chủ nghĩa thường

hằng, vĩnh cửu.

(2). “Như Lai không tồn tại sau khi chết phải không?” Đây là câu hỏi theo chủ nghĩa huỷ diệt.

(3). “Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết?” Đây là quan điểm đồng bộ, ekacca sassatadiṭṭhi, thuyết vĩnh cửu một phần.

(4). “Như Lai không tồn tại cũng như không không tồn tại sau khi chết”, đây là chủ nghĩa hoài nghi lảng tránh, amaravikkhepa diṭṭhi.

Nếu trả lời là tồn tại sau khi chết là sai và không tồn tại sau khi chết cũng sai. Vì vậy họ đưa ra câu trả lời bằng cách lảng tránh. Tỳ khưu Anurādha trả lời họ là Đức Phật không dạy theo những cách này và nghĩ rằng nếu những ngoại đạo du sĩ hỏi nhiều hơn thì vị ấy gặp sẽ khó khăn vì bản thân vị ấy vẫn chưa hết những quan điểm sai lầm. Vì vậy, tỳ khưu Anurādha đã trình lên với Đức Phật những câu hỏi của du sĩ ngoại đạo.

Đức Phật hỏi tỳ khưu Anurādha

– “Sắc là thường hay vô thường?”

– “Sắc là vô thường, bạch Đức Thế Tôn.”

– “Vô thường là khổ hay vui?”

– “Vô thường là khổ, bạch đức Thế Tôn.”

– “Khổ là ngã hay vô ngã?”

– “Khổ là vô ngã, bạch đức Thế Tôn”

Sau đó tỳ khưu Anurādha chứng quả Nhập Dòng. Vị ấy đã trả lời tất cả các câu hỏi bằng cách quan sát các uẩn của chính mình. Đức Phật đã hỏi vị ấy theo cách tương tự từng uẩn một trong tất cả năm uẩn. Sau khi nhập vào dòng thánh thứ nhất, Đức Phật tiếp tục hỏi vị ấy “Ngoại trừ sắc, có chúng sinh nào không?” “Bạch đức Thế Tôn, không thể coi đó là một chúng sinh”.

Chỉ có khổ sinh khởi và khổ diệt đi mà không có chúng sinh nào ở đó. Như vậy, nếu hỏi với chúng sinh thì sẽ không có câu trả lời. Trong các uẩn chỉ có các uẩn sinh khởi và các uẩn diệt đi mà không có sự tồn tại nào khác. Nếu bạn kinh nghiệm trực tiếp thông qua điều này sẽ nhập vào dòng thánh thứ nhất. Chỉ biết về satta loka bằng lý thuyết thì không đủ. Để vượt qua satta loka cần phải nỗ lực thực hành và chỉ chắc chắn khi nhận biết được tính vô thường của các uẩn.

Thế giới các hành

Bất cứ điều gì sinh khởi bởi các điều kiện là thế giới các hành (saṅkhāra loka). Ở đây, mọi thứ sinh khởi và diệt đi là thế giới (loka), vì vậy thế giới này nằm trong miền đất của đau khổ (dukkha sacca). Thế giới chỉ chấm dứt khi thoát ra khỏi thế giới của các điều kiện. Trong Dhammasangani, Đức Phật dạy rằng có hai pháp là: pháp có điều kiện (saṅkhata dhamma) và pháp vô điều kiện (asaṅkhata dhamma).

Pháp có điều kiện (saṅkhata dhamma) là pháp của các hiện tượng sinh khởi và diệt đi còn Niết Bàn là pháp không sinh cũng không diệt. Vì vậy các bạn cần phải thoát khỏi pháp có điều kiện. Thân và tâm là pháp có điều kiện. Thân sinh khởi do điều kiện bởi nghiệp (kamma), tâm (citta), nhiệt độ (utu) và dưỡng chất (ahāra). Tâm sinh khởi do điều kiện bởi các căn và các đối tượng giác quan.

Tôi yêu cầu bạn thực hành vipassanā trên các pháp có điều kiện (saṅkhata dhamma). Các pháp được điều kiện bởi bất thiện sẽ gửi chúng sinh đến cõi khổ. Tất cả các pháp có điều kiện đều liên quan đến vô minh (avijja). Avijja paccaya saṅkhāra, vô minh điều kiện nên các hành. Có hành nên thức sinh khởi, ở đây có nghĩa là thức tái sinh. Đó là sinh và có bản chất là khổ, vì vậy cũng không thoát khỏi saṅkhata. Đây là khổ do sinh của người không muốn thoát khỏi các pháp có điều kiện.

Chúng sinh không biết về thế giới nên đang chạy vòng quanh bên trong thế giới. Chỉ có thể đến được Niết Bàn là pháp vô điều kiện (asaṅkhata) khi biết về pháp có điều kiện (saṅkhata), còn không sẽ không bao giờ đến được đó. Đức Phật không bao giờ nói pháp vô điều kiện (asaṅkhata) là thế giới (loka). Thế giới thì dễ hư hỏng, vì vậy Ngài coi Niết Bàn là pháp vô điều kiện.

Bạn sẽ nhìn thấy hiện tượng diệt đi khi quan sát các pháp có điều kiện, tiếp theo sẽ nhàm chán và cuối cùng không còn mong muốn chúng nữa. Theo cách này bạn sẽ nhìn thấy Niết Bàn, ngoài ra không còn cách nào khác. Bạn chỉ trân trọng pháp vô điều kiện khi bạn nhìn thấy pháp có điều kiện. Pháp có điều kiện sinh khởi do điều kiện bởi các nguyên nhân khác nhau nhưng các bạn luôn coi chúng là sở hữu của mình. Vì vậy các bạn thích chúng.

Sau khi thực hành, bạn nhận ra rằng các hiện tượng không thuộc về bạn và chúng không diễn ra theo cách bạn muốn. Rồi bạn biết rằng chúng bị tiêu diệt bởi cái chết, khi đó bạn bắt đầu tìm kiếm sự bất tử và muốn hướng về các pháp vô điều kiện. Những người saṅkhata không có nơi ở vĩnh viễn. Bằng những lời cầu nguyện, các bạn nhận được những thứ luôn không tồn tại. Hầu hết những lời cầu nguyện có cùng ý nghĩa như: ‘hãy để tôi trở nên đau khổ’ hay ‘đừng xảy ra những điều mà tôi mong muốn’.

Cõi Chư Thiên tồn tại vì điều kiện bởi các nghiệp thiện (kusala saṅkhāra) nhưng cũng sẽ bị phá huỷ bởi các nghiệp bất thiện.

500 thiên nữ chết và ngay lập tức rơi vào địa ngục. Bây giờ sự hân hoan và vui vẻ, nhưng sau đó là nỗi buồn và than khóc. Đây là cách của những người saṅkhata. Thiên nam Subrahmā đối diện với hai đau  khổ, buồn rầu cho 500 thiên nữ đã mất và sợ hãi cho khổ nạn của chính mình cùng 500 thiên nữ còn lại đang chờ phía trước. Vị ấy và 500 thiên nữ còn lại sẽ đoạ vào địa ngục A Tỳ sau bảy ngày nữa. Thiên nam Subrahmā đã thấy trước điểm đến của mình trong địa ngục và chắc chắn về điều này. Bị dồn ép bởi ý thức cấp bách và sự sợ hãi cùng cực họ đã đến gặp Đức Phật, lắng nghe Ngài giảng pháp, nhập vào dòng thánh bằng việc thực hành vipassanā và chấm dứt khổ địa ngục.

Có ba thế giới: 

(1) Satta loka là thế giới chúng sinh như con người, loài vật, Chư Thiên, Phạm thiên…

(2) Okāsa loka là thế giới tự nhiên như núi rừng, sông ngòi, vũ trụ…

(3) Saṅkhāra loka là thế giới hữu vi, nơi các hiện tượng sinh khởi và hoại diệt trên thân tâm liên tục không ngừng từ giây phút này đến giây phút khác.

Satta loka và Okasa loka là hai thế giới dựa trên Saṅkhāra loka, đây là quy luật của tự nhiên. Nếu không có quy luật tự nhiên, không gì có thể tồn tại, ngoại trừ Niết Bàn. Đức Phật biết về cả ba thế giới nên có danh hiệu là Lokavidū, Bậc Thông Suốt Thế Giới.

Đức Phật dạy rằng tất cả các thế giới đều không hạnh phúc. Saṅkhāra loka là sinh khởi và hoại diệt của các pháp có điều kiện. Okāsa loka, thế giới tự nhiên bị phá huỷ bởi lửa khi đến ngày tận thế, vì chúng vận hành theo chu kỳ tự nhiên. Satta loka, thế giới chúng sinh, tất cả chúng sinh đều sinh ra rồi chết đi, hết kiếp này qua kiếp khác. Vì vậy cả ba thế giới đều là sự thật của khổ (dukkha sacca).

Thân và tâm kết hợp lại với nhau gọi là satta loka. Không hiểu về satta loka, tà kiến sẽ sinh khởi. Tà kiến biến mất là Niết Bàn, nếu chỉ dừng lại ở satta loka thì tà kiến không biến mất. Trước khi thực hành, bạn phải xua tan tà kiến và hoài nghi trước.

Tà kiến đến từ đâu? Chúng đến từ các uẩn thân tâm. Nếu tin rằng chúng sinh tồn tại thì sẽ xuất hiện ‘tôi gầy’, ‘anh béo’ khi nhìn vào ai đó. Khi khái niệm về con người biến mất, trí tuệ đến và chạm vào các uẩn thì tà kiến cũng rời đi. Bạn phải thâm nhập vào các chúng sinh. Rời xa chúng sinh và để cho trí tuệ tập trung trên các uẩn. Lừa dối bởi satta loka dẫn đến rất nhiều tà kiến xuất hiện.

Các uẩn đang bị che đậy bởi satta loka. Nếu chúng sinh không biến mất, ba dạng của quá trình duyên sinh sinh khởi. Vì vậy bạn phải biết hai điểm sau:

(1). Phải biết về thế giới chúng sinh (satta loka).

(2). Phải tránh xa chúng.

Đừng bác bỏ sự thật thông thường nhưng cũng đừng tin vào quan điểm sai trái. Không biết những điều này thì không dễ để thực hành. Tôi đề cập đến chúng vì đây là điều quan trọng. Không hiểu về satta loka có thể rơi vào cảnh khổ, nhưng không biết về thực tại tối hậu (paramattha dhamma) sẽ không nhận ra Đạo và Quả. Tôi lưu ý bạn sử dụng chúng ở những nơi thích hợp.

Từ chối satta loka với quan điểm rằng không có cha, không có mẹ có thể sẽ phạm trọng nghiệp. Theo cách này chúng trở thành mối nguy hiểm cho Đạo lộ. Không có giới (sīla) thì không có được Đạo và Quả. Biết cách sử dụng satta loka đúng cách sẽ dẫn đến những nơi hạnh phúc (sugati), ngược lại là những nơi khốn khổ (dugati).

(1) Chỉ khi mở ra satta loka thì saṅkhāra loka mới xuất hiện. Thâm nhập vào saṅkhāra loka với trí tuệ thì vô thường xuất hiện. Điều này đúng theo câu kệ “sabbe saṅkhāra anicca”, tất cả các pháp có điều kiện là vô thường.

(2) Saṅkhāra loka kết hợp với trí tuệ và trở thành vipassanā

(3) Điểm cuối của saṅkhāra loka kết hợp với trí tuệ vipassanā trở thành Đạo tuệ.

Phần lớn mọi người chết trước khi khám phá ra satta loka và dính mắc vào ‘nỗi buồn trong ba năm ba mùa mưa’ cho những người thân đã khuất vì không vượt qua được satta loka.

Tà kiến về ngã (atta diṭṭhi) xuất phát từ việc nhìn các uẩn theo cách sai lầm. Tôi luôn dạy bạn cách nhìn các uẩn. Khi nhìn các uẩn bạn biết rằng chúng bị điều kiện bởi sắc, điều kiện bởi thọ nên sinh khởi. Đây không phải là đàn ông hay đàn bà mà chỉ là các uẩn sinh khởi do nguyên nhân. Đây là cái nhìn đúng đắn. Nhìn như vậy thì satta loka sẽ không xuất hiện.

Saṅkhāra loka đang dạy bạn khi chúng xuất hiện và giờ chúng đang biến mất. Chỉ cần nhìn thấy saṅkhāra sẽ nhìn thấy anicca, bởi vì Đức Phật đã nói như vậy sabbe saṅkhāra anicca, mọi hành đều vô thường. Bỏ satta loka và tìm đến saṅkhāra loka nếu bạn muốn đến Niết Bàn. Sau đó quan sát bản chất của saṅkhāra và nơi saṅkhāra kết thúc. Thấy rằng chỉ có sinh khởi và diệt đi, và bạn theo rõi sự kết thúc của chúng. Vô thường của khổ chấm dứt là sự kết thúc của loka, điểm cuối cùng của loka chính là Niết Bàn.

Bài thuyết pháp của sayadaw Mogok

Sư Chân Thiện dịch

Tiểu kinh phương quảng

Bạn sẽ có cơ hội tìm hiểu cuộc vấn đáp giữa thánh tỳ khưu ni Visākha và ông cư sĩ Dhammadinnā theo lộ trình từ thân kiến (sakkāyadiṭṭhi) cho đến Niết Bàn.

Sự tồn tại của thân (sakkāya) là như thế nào? Đó là năm thủ uẩn (khandha), năm thủ uẩn tồn tại nên thân này tồn tại. Quá trình tồn tại của thân tâm là sakkāya, đây là bản chất tự nhiên của các uẩn và chúng thực sự tồn tại, nên được gọi là sự tồn tại của thân, hay có thân. Điều này rất quan trọng cần phải hiểu rõ trước khi thực hành, vì giáo pháp dành cho mục đích thực hành để chấm dứt các uẩn, chứ không phải để cho tư duy lý luận.

Có thân thì không có lỗi, lỗi nằm ở tà kiến, sự tồn tại của thân nghĩa là cả thân (rūpa) và tâm (nāma). Sắc (rūpa) là sakkāya, nếu bạn coi sắc là ‘tôi’, là ‘của tôi’ sẽ trở thành tà kiến. ‘Tôi bị lạnh’, ‘tôi nóng’…theo cách đó, ‘tôi’ đang xen vào sự tồn tại của thân. Mọi người không biết rằng bản chất của sắc là khổ và cho rằng ‘sắc giống như tôi’, ‘sắc là của tôi’, do đó dẫn đến các cõi khổ. Quan niệm về sự tồn tại của thân theo những cách sai lầm trở thành thân kiến (sakkāyadiṭṭhi), vì vậy bạn cần phải biết rằng sắc chỉ là sắc, đó là trí tuệ.

‘Tôi có một bữa ăn ngon’, ở đây ‘tôi’ đang xen vào với thọ uẩn (vedanā-khandha). ‘Tôi nhận thức được điều đó’, ‘tôi’ đang xen vào với tưởng uẩn (saññā-khandha). ‘Đừng hiểu lầm ý định của tôi’, đây là ‘tôi’ đang can thiệp vào hành uẩn (saṅkhara-khandha). Cần phải lưu ý rằng ‘tôi’ trong cách nói chuyện hàng ngày thì không có lỗi, mọi người đã rõ ràng về điểm này và dùng trong giao tiếp thì không vấn đề gì. Đây là sự thật tương đối và chúng ta cần sử dụng để giao tiếp, Đức Phật cũng sử dụng điều này trong lời dạy của Ngài.

Nếu xen tà kiến vào trong bất kỳ một uẩn nào đó, nó có thể trở thành tà kiến về sự huỷ diệt hay còn gọi là đoạn kiến (ucchedadiṭṭhi). Ví dụ, ‘nếu tôi chết, tôi sẽ kết thúc’, ‘khi tâm tôi đi tới điểm kết thúc, tôi sẽ chết’, đây là ý tưởng của sự đoạn diệt hoàn toàn. ‘Tôi sẽ chết với thọ này’, điều này chứa đựng cả thân kiến (sakkāya-diṭṭhi) và đoạn kiến (ucchedadiṭṭhi).

Nếu một người có tà kiến thì sự chấp thủ vào tà kiến đó đi liền theo sau. Khi còn đang sống mọi người có quan điểm về thường kiến (sassatadiṭṭhi) và gần chết thì quan điểm là đoạn kiến. Khi kinh doanh buôn bán tiến triển tốt thì tin vào thường kiến, và khi bệnh tật ốm đau thì tin vào đoạn kiến. Không biết những điều này dẫn tới đời sống con người trở nên thấp kém.

Tà kiến là hạt giống của địa ngục. Tại sao? Nguyên nhân vì bám víu vào tà kiến đó, ‘tôi không bao giờ từ bỏ quan điểm của tôi’, trở thành chấp thủ (upādāna) và ‘làm cái mà tôi tin’ trở thành hành động (kamma). Hành động hay tà kiến dẫn tới tái sinh trong cõi khổ? Chúng ta thường nghĩ rằng rơi vào các cõi khổ là bởi vì hành động bất thiện. Thực tế thì không như vậy, tà kiến cài đặt chương trình và hành động bất thiện đi liền theo sau. Chúng đều là tham ái, Đức Phật còn nhấn mạnh rằng tà kiến là tham ái lớn, tâm tham chỉ là tham ái nhỏ.

‘Tôi không thể vượt qua thọ này’, đây là tự ngã (atta) đến và trộn lẫn với thọ (vedanā). Thọ sinh khởi và đoạn diệt bởi chính nó. Phải quan sát cảm thọ như một người xa lạ, cảm giác đau đến rồi đi, cảm giác dễ chịu đến rồi đi. Cảm giác trung bình đến rồi đi theo cách đó, tâm quan sát cũng giống như vậy, tất cả chúng đến rồi đi và đây chính là công thức để phá bỏ tà kiến. Cảm thọ sinh khởi và tâm quan sát đang diễn ra bên cạnh. Vì vậy, đừng có trộn lẫn chúng. Nếu bạn không trộn chúng vào nhau thì tà kiến không thể sinh khởi. Hãy coi đó như một người xa lạ và xem rằng đó không phải là chính mình. Khi đó hiểu biết về vô ngã (anatta) xuất hiện. Bạn phải quan sát các uẩn theo cách như vậy, coi các uẩn xuất hiện giống như những vị khách và chết cũng giống như những vị khách.

Tôi sẽ hướng dẫn bạn cách quan sát về vô ngã. Đức Phật vẫn còn khổ thọ trên thân nhưng không còn khổ thọ trên tâm. Đây là điều khác biệt với những người bình thường. Đức Phật chỉ còn đau trên thân mà không còn đau trên tâm. Tại sao như vậy? Bởi vì Ngài đã có khả năng quan sát các uẩn giống như một vị khách. Tất cả năm uẩn hay bất cứ cái gì sinh khởi là những vị khách, những vị khách đến rồi đi.

Nếu coi các uẩn như vật chủ, bạn sẽ đau khổ, như ví dụ ‘nếu con trai tôi chết, tôi sẽ bị tổn thương’. Trong thực tế thì không có gì là của bạn, con trai chỉ là một vị khách. Cậu ta đến với bạn nhưng không phải là bạn muốn thì cậu ta đến. Khi bạn muốn cậu ta đến và cậu ta không đến, bạn khóc lóc, vì bạn đã coi vị khách là ‘của tôi’. Phần lớn phụ nữ khóc, bởi vì họ coi khách giống như chủ. Trong cụm từ ‘con tôi’, ‘mẹ của tôi’ hay ‘con gái của tôi’, ‘tôi’ và ‘của tôi’ đang xen vào. Thân tâm cô con gái thì không liên quan gì tới thân tâm người mẹ. Con người khóc không phải vì những điều bất hạnh, mà nguyên nhân là do tự ngã (atta) xen vào. Chuỗi tà kiến của người mẹ kết nối với năm uẩn của cô con gái và sau đó chấp thủ vào tà kiến đó phát sinh (diṭṭhupādāna). Do đó nước mắt sẽ không rơi nếu không có sự lẫn lộn tạo ra thân kiến.

‘Dù cho có bất cứ điều gì xảy ra với thế giới, tâm tôi không lay động’, điều này không có tà kiến. Tâm bậc thánh nhân không lay động trước tám ngọn gió đời, không kết nối với chuỗi đau khổ của tà kiến. Một số người ở đây sẽ lo lắng trầm cảm khi có chuyện xảy ra với con cái của họ ở nước Anh, cách đây 600 dặm. Quá dài là chuỗi quan điểm sai lầm. Bạn khóc vì ai đó hành hạ bạn hay vì bạn đã trộn lẫn mọi thứ? Buộc hai con bò với nhau lại bằng một sợi dây, nếu một con rơi xuống vách đá thì con còn lại cũng sẽ bị rơi xuống.

Không còn thân kiến, bất cứ điều gì diễn ra với người mẹ, người con gái luôn ổn. Tương tự bất cứ điều gì xảy ra với cô con gái, người mẹ không sao cả. Theo cách này sẽ không tái sinh trong cảnh khổ và luôn an vui trong cuộc sống. Đừng có trộn lẫn các uẩn với thân kiến. Đức Phật nói rằng không có lỗi nào lớn hơn lỗi tà kiến. Tà kiến có thể dẫn đến làm năm trọng nghiệp. Giết cha của chính mình là tà kiến, với tà kiến không có gì là không dám làm. Trong các pháp bất thiện, tà kiến là pháp đáng sợ nhất.

Nếu tôi chết, thọ cũng sẽ chết, khi ngọn lửa tắt thì ánh sáng cũng biến mất. Vì vậy ngọn lửa và ánh sáng đi cùng nhau. Nhưng ngọn lửa và ánh sáng là hai thứ khác nhau, lửa là nóng và ánh sáng là sự sáng. Có nhiều loại thọ khác nhau lần lượt xuất hiện và bộc lộ sự không ổn định của chúng. Hãy thử quan sát sự sinh khởi và biến mất của các cảm thọ. Theo cách này sẽ không có ‘tôi’, ‘của tôi’ trộn vào trong quá trình của các cảm thọ, không có ‘tôi’ trong sự sinh khởi và không có ‘tôi’ trong sự biến mất, xem tất cả cảm thọ như những người lạ. Chúng sinh rơi xuống các cõi khổ không phải bởi cảm thọ mà bởi tà kiến nhưng cảm thọ điều kiện nên tà kiến (vedanā paccaya diṭṭhi).

Nguyên nhân của thân tâm này từ đâu? Từ tham ái (taṇhā), tham ái trong dục lạc giác quan (kāma taṇhā), tham ái trong sự trở thành (bhava taṇhā) và tham ái trong sự không trở thành (vibhava taṇhā). Nguyên nhân của thân tâm đến từ tham ái. Các uẩn sinh khởi từ tham ái (taṇhā), chấp thủ (upādāna) và nghiệp (kamma), trong đó nguyên nhân chính là tham ái. Tham ái không mất đi thì các uẩn vẫn tồn tại, các uẩn tồn tại thì già, bệnh, chết vẫn đi theo bên cạnh. Tất cả chúng sinh khởi bởi vì tham ái vào sự trở thành và bị vây quanh bởi các loại đau khổ. Vì mùi của con cá nên những con ruồi bay đến, vì thân này tồn tại nên sự nguy hiểm đang đến. Nguyên nhân từ pháp xấu xa chỉ mang lại điều xấu xa. Chúng đang sinh khởi, nếu bạn nhìn thấy sự thay đổi của sakkāya, bạn sẽ vượt qua đế chế của nó. Sự thật của sakkāya là khổ. Nhìn thấy Khổ Đế thì Tập Đế (taṇhā samudaya) phải gầy đi, sau khi làm giảm bớt tham ái, đau khổ ngày càng ít đi. Người có tình cảm sẽ gặp phải đau khổ và tự làm tổn thương mình, càng nhiều tình cảm thì càng nhiều đau khổ.

Khi nào thân tâm này kết thúc? Nếu tham ái kết thúc, thân tâm này sẽ kết thúc. Tóm lại, sự kết thúc của Tập Đế (samudaya-sacca) sẽ dẫn tới sự kết thúc của Khổ Đế (dukkha-sacca). Tham ái kết thúc thì Niết Bàn xuất hiện, đoạn diệt của tham ái là Niết Bàn. Đức Phật có thể nhập vào trạng thái của Niết Bàn thậm chí trong suốt thời gian Ngài thuyết pháp hay trong thời gian của hơi thở vào hay hơi thở ra, Ngài bắt đầu từ vô thường và ngay lập tức hướng về Niết Bàn.

Thực hành như thế nào để kết thúc sakkāya? Thực hành theo con đường Bát Thánh Đạo. Để đạt được Thánh Đạo thì phải nỗ lực thực hành phát triển năm chi phần là chánh niệm (sammā sati), chánh tinh tấn (sammā viriya), chánh định (sammā samādhi), chánh kiến (sammā diṭṭhi) và chánh tư duy (sammā saṅkappa). Chúng được gọi là năm chi đạo (pañca maggaṅga)

Sau khi đạt được Thánh Đạo đầu tiên, quá trình sẽ tiếp tục với tám chi đạo. Tại sao những yếu tố đó được gọi là tám chi đạo (aṭṭha maggaṅga). Bởi vì chúng cắt bỏ phiền não tạm thời. Nếu phiền não được cắt bỏ hoàn toàn sẽ trở thành pháp hướng tới Niết Bàn. Chỉ cần quán tưởng về vô thường và không cần làm gì hơn, bạn đang tạm thời ở trong Niết Bàn. Bố thí (dāna), trì giới (sīla) và thiền định (jhāna) chỉ là các yếu tố hỗ trợ cho maggaṅga. Năm chi đạo là các yếu tố hỗ trợ quyết định (upanissaya paccayo) và maggaṅga là con đường điều kiện (maggaṅga paccayo) tức là nguyên nhân xa và gần cho các Thánh Đạo. Bát Thánh Đạo bao gồm giới, định, tuệ, trong đó tuệ lãnh đạo, là yếu tố quan trọng nhất.

Sự bám víu vào năm uẩn (upādānakhandha) diễn ra như thế nào? Năm uẩn là đối tượng cho sự chấp thủ (ngũ thủ uẩn).  Tôi đến đây để giải thích cho bạn hiểu rõ hơn. Các uẩn tồn tại bởi chính nó, giống như các uẩn của con trai hay các uẩn của người vợ. Nếu chỉ có thân tồn tại, thì đó chỉ là các đối tượng giác quan mà không thể trở thành các đối tượng của sự bám víu (upādāna). Sự bám víu từ bên này kết nối với các uẩn bên kia tạo thành các uẩn bám víu. Bên kia là năm uẩn (khandha) và bên này là tham ái (taṇhā), hai khía cạnh này kết hợp với nhau trở thành các uẩn bám víu (upādānakhandha). Nếu không có sự kết nối thì chỉ là sự tiếp xúc giữa các đối tượng giác quan (ārammaṇa) và các căn (āyatana).

Các uẩn và tham ái không giống nhau, có tham ái vì bám chấp vào các uẩn. Mọi người không chịu đựng được thậm chí chỉ là bị muỗi đốt, do đó chúng kết nối với nhau. Các bạn không thể chịu đựng được khi chúng làm tổn thương các uẩn thân yêu của mình. Các uẩn là nơi trốn cho sự bám víu. Một số người trộn chúng lại với nhau, một số thì không. Những bậc thánh nhân (ariya) thì không có trong đó. Khi các bạn hạnh phúc hay đau khổ các bạn đều kết nối với tham ái. Chúng đang được kết nối giống như mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả, mặc dù chúng có bản chất khác nhau và không giống giống nhau.

Nguyên nhân của thân kiến đến từ đâu? Không có đầy đủ kiến thức, không lắng nghe giáo pháp từ các bậc thánh nhân và coi năm uẩn là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Nếu có đủ kiến thức và trí tuệ về các uẩn thì sẽ không còn tin vào thân kiến. Các uẩn là sakkāya và thân kiến đang xen vào chúng. Thật khó để xua tan thân kiến nếu không nghe giáo pháp. Có bốn nguyên nhân để trở thành bậc thánh Tu Đà Hoàn:

1/ Thân cận bậc Thiện Tri Thức

2/ Lắng nghe giáo pháp

3/ Tư duy chân chánh

4/ Thực hành dựa trên lời dạy

Tri thức và trí tuệ bắt nguồn từ đâu? Bắt đầu lắng nghe giáo pháp và thực hiện tròn đủ bốn yếu tố trên để liễu ngộ giáo pháp. Pháp thoại của tôi mỗi ngày đều nhắc đến tà kiến như là hạt giống của địa ngục. Nó nguy hiểm hơn so với tham lam, sân hận, si mê, ganh tỵ và hám lợi. Nếu thân kiến bị đoạn diệt, một phần tư tham sân si bị phá bỏ, bao gồm cả ganh tỵ, hám lợi và bất cứ cái gì liên kết với chúng. Nếu bạn không muốn rơi xuống cõi khổ thì hãy phá huỷ thân kiến trước. Thậm chí nếu bạn không sợ các phiền não khác thì bạn phải sợ thân kiến. Bố thí, giữ giới, thiền định có thể dẫn tới cảnh giới tái sinh tốt đẹp, nhưng sau đó bạn sẽ tiếp tục bị kéo xuống cõi khổ bởi tà kiến. Nếu bạn không phá huỷ thân kiến, nó sẽ tạm thời tăng lên.

Không có gì đáng sợ hơn là tà kiến. Xuất phát từ tà kiến, một số người có thể giết cha, giết mẹ của mình, năm trọng nghiệp tới từ tà kiến. Đối với bậc thánh Tu Đà Hoàn những điều đó không bao giờ diễn ra. Mọi người nói rằng sợ các pháp bất thiện. Đừng sợ hãi! Nếu bạn phá huỷ tà kiến, không cần phải lo lắng về bất cứ pháp bất thiện nào.

Thân kiến sẽ dẫn dắt các pháp bất thiện khác và gửi chúng sinh tới tám địa ngục lớn và mười hai0 địa ngục nhỏ. Nếu bạn thấy sakkāya, tà kiến sẽ bị xua tan. Tại sao? Vì trở thành chánh kiến nên tà kiến biến mất. Tà kiến phải được tiêu diệt bởi chánh kiến. Bất kỳ bệnh tật nào cũng được chữa khỏi bằng thuốc cho bệnh đó. Bố thí, giữ giới và thiền định thì không thể vượt qua được tà kiến. Tốt hơn là hãy làm nghiệp tốt sau khi đã xua tan được tà kiến, nếu không bạn lại bị rơi xuống lần nữa. Đức Phật khuyến khích bố thí, giữ giới, thiền định để phát triển vipassanā. Thân kiến sinh khởi bởi vì không biết về thực tại. Do đó, nhận biết về sự khác biệt rõ ràng trước rồi hãy làm phước thiện sau.  Ví dụ như thợ săn bắn một con chim bằng mũi tên độc nhưng mũi tên chỉ trúng vào da. Con chim tiếp tục bay xa khi chất độc chưa lan ra, nhưng khi chất độc lan ra khắp cơ thể thì nó bị rơi xuống. Theo cách tương tự, bất kỳ phước thiện nào làm với tà kiến chỉ tạm thời đi lên và sau đó lại rơi xuống bởi tà kiến.

Tại sao tà kiến sinh khởi? Khi Đức Phật xuất hiện, có nhiều bậc thánh nhân xuất hiện theo, nhưng con người vẫn bị tà kiến bởi vì họ không được gặp và không được nghe giáo pháp từ các bậc thánh nhân ấy. Ngày nay con người vẫn bị tà kiến bởi vì họ không có cơ hội nghe giáo pháp, nên không bao giờ xua tan được tà kiến. Không có gì quan trọng hơn là xua tan thân kiến. Khi năm uẩn sinh khởi và không  biết chúng sinh khởi sẽ trở thành thân kiến.

Ví dụ, có cảm giác căng cứng trên cơ thể, bạn lấy tính chất căng cứng của yếu tố đất (paṭhavī) và nghĩ rằng ‘tôi đang căng cứng’. Đối với người hiểu biết, thì đó chỉ là sự thay đổi của yếu tố đất. Đừng trộn lẫn yếu tố ‘đất’ với ‘tôi’, đất chỉ là đất, nóng và lạnh cũng vậy, đừng trộn thành ‘tôi nóng, tôi lạnh’, nóng lạnh chỉ là yếu tố lửa (tejo). Khi bị tiêu chảy, ‘tôi không biết điều gì đang xảy ra’, coi yếu tố nước (āpo) giống như ‘tôi’, ‘của tôi’,… cứ như vậy họ coi tứ đại (mahābhūta) như là ‘tôi’. ‘Chân tôi bị ngứa’, không biết về thọ uẩn sinh khởi và biến mất trở thành thân kiến. ‘Tôi quên’ là tạo nên cái ‘tôi’ vào trí nhớ. ‘Tôi muốn ngủ’, tạo cái ‘tôi’ vào hôn trầm và thuỳ miên của hành uẩn. ‘Đừng kiểm tra tôi’, nhận thức giống như ‘tôi’. Mỗi khi các hiện tượng thực tại chân đế sinh khởi và biến mất đều bị trở thành tà kiến. Chúng diễn ra bao nhiêu lần trong một ngày? Không thể đếm được!

Khi nào không có thân kiến ở đó? Bất cứ hiện tượng nào sinh khởi, quan sát hiện tượng đó giống như ‘không phải là tôi’, ‘không phải là của tôi’, ‘không phải là tự ngã của tôi’, sau đó thân kiến sẽ bị xua tan. Quán tưởng sự sinh khởi của thọ, của tâm cũng như các trạng thái của tâm là vô thường, khổ và vô ngã. Những người đã xua tan được thân kiến sẽ không bao giờ rơi xuống bốn cõi khổ.

Pháp nào có thể phá huỷ thân kiến? Thực hành Bát Thánh Đạo sẽ vượt qua được thân kiến.

Có sự khác biệt giữa các yếu tố của Bát Thánh Đạo? Bát Thánh Đạo được chia làm ba nhóm riêng biệt: nhóm về giới (sīla), nhóm về định (samādhi) và nhóm về tuệ (pañña).

Tại sao có ba yếu tố khác biệt trong nhóm về định? Bởi vì chúng không thể thực hiện công việc một cách riêng lẻ. Với sự trợ giúp của chánh niệm (sammā-sati) và chánh tinh tấn (sammā-viriya) nên chánh định (sammā-samādhi) phát triển. Chú giải đưa ra một ví dụ, làm thế nào để hái bông hoa trên cao mà bạn không thể với tới? Người thứ nhất đưa tay và cong lưng của anh ta cho người thứ hai leo lên. Người thứ hai leo lên lưng người thứ nhất còn người thứ ba đứng bên cạnh người thứ nhất và đưa vai cho người thứ hai bám vào. Tương tự như vậy trong thực hành vipassanā, người thứ nhất uốn cong lưng được ví như chánh tinh tấn. Người thứ ba đứng bên cạnh tương tự như chánh niệm. Chánh định giống như người thứ hai hái bông hoa đó. Chánh niệm và chánh tinh tấn là các yếu tố hỗ trợ cho chánh định. Trong vipassanā, không có nỗ lực, không có chánh niệm thì không thể có chánh định. Chỉ sau đó định mới có thể trực tiếp hướng tới đối tượng. Muốn phát triển định thì đừng rời xa niệm và cũng đừng giảm nỗ lực. Phải có định tâm mới có thể nắm bắt được vô thường. Nếu bạn không thể nắm bắt được vô thường, nghĩa một trong ba yếu tố này đang bị thiếu.

Ba yếu tố này rất quan trọng, chánh tinh tấn đang đẩy từ phía sau và chánh niệm đang giúp chánh định hái bông hoa trên cao. Điều này chỉ diễn ra khi hội tụ đủ ba yếu tố lại với nhau. Nếu thiếu một trong ba yếu tố, bạn phải nhận ra và sửa chữa. Chánh định sẽ hướng đến đối tượng của vô thường, nhưng định không thể nhìn thấy, chỉ dẫn đến đối tượng. Để hướng tâm về một nơi thì cần phải có định. Chỉ có trí tuệ mới nhìn thấy vô thường. Vô thường cũng không được thấy bởi chánh niệm, chánh niệm chỉ hướng về phía đó. Ba yếu tố kết hợp với nhau và trực tiếp hướng đến một đối tượng giác quan nhưng không thể nhìn thấy vô thường. Bạn phải biết điểm này, đây là điều quan trọng đối với thiền sinh. Định chỉ chạm tới bông hoa, nó không thể chọn tốt hay xấu. Tại sao vậy? Nó chỉ trỏ đến đối tượng. Cái này là vô thường và là hiện tượng có điều kiện, ở đó không liên quan tới định, định là yếu tố giúp ích cho trí tuệ.

Tại sao tuệ được chia làm hai yếu tố khác nhau? Đó là chánh kiến (sammā-diṭṭhi) và chánh tư duy (sammā-saṅkappa). Tại sao chúng lại đi cùng với nhau? Đôi mắt đang trong tình trạng tốt, nhưng để chọn một vật là tốt hay xấu, cần phải có một cái gì đó quay xung quanh đối tượng đó. Ví dụ, khi bạn thấy một đối tượng nhưng chỉ mới nhìn được một phần của đối tượng, bạn không thể nhìn thấy những phần khác của đối tượng. Để nhìn thấy những phần khác của đối tượng, bạn phải đi xung quanh đối tượng để quan sát. Phần này  như thế này, phần kia như thế kia. Chánh tư duy cung cấp cái nhìn, cái nhìn về vô thường.

Trí tuệ đang quan sát đối tượng. Sinh khởi là một cái gì đó và biến mất là một điều khác. Ai đó phải cung cấp cái này để quan sát, chỉ thấy sinh mà không thấy diệt, chỉ thấy diệt mà không thấy sinh, và sau đó chánh tư duy trở nên yếu.

Sammā là đúng, chân chánh và saṅkappa là tư duy, suy nghĩ; sammā saṅkappa là suy nghĩ, tư duy đúng đắn. Tôi muốn đưa ra một ví dụ: dùng kính để hỗ trợ cho người có thị lực yếu. Khi đeo kính sẽ thấy một chàng trai trẻ và nhìn thấy rất rõ ràng với sự giúp đỡ của cái kính. Không có kính bạn vẫn thấy nhưng không rõ ràng. Mắt ở đây là chánh kiến, và cái kính là chánh tư duy. Theo cách này có thể nhìn thấy toàn bộ quá trình. Nếu bạn không thể nhìn rõ, sẽ được trợ giúp từ chánh tư duy. Tư duy, suy nghĩ là vitakka, và nó mang lại sức mạnh cho sự quan sát.

Tại sao giới lại được chia làm ba yếu tố khác nhau? 

Do cùng là kiêng tránh nên chúng cùng thuộc nhóm giới (sīla) nhưng có nhiệm vụ khác nhau. Nếu một yếu tố tồn tại thì hai yếu tố kia không được bao gồm. Chánh ngữ (sammā vāca) và chánh nghiệp (sammā kammanta) thực hiện những công việc khác nhau, do vậy cái này không thể giúp cái kia trong quá trình chúng xuất hiện. Chúng có nghiệp khác nhau. Đối với thiền sinh, giữ gìn năm giới và thỉnh thoảng giữ tám giới. Định và tuệ có thể đi cùng nhau nhưng giới thì không, vì vậy giới không thể giúp những yếu tố khác. Xuyên suốt quá trình thực hành vipassanā giới không được bao gồm. Nếu cái này được bao gồm thì cái kia không.


Khi nào thì giới, định, tuệ đi cùng với nhau? 

Đó là thời điểm tâm hướng về Niết Bàn. Tuy nhiên không có nghĩa là chúng không đi cùng nhau, khi thực hành bạn phải giữ giới, giới không trong sạch là một trong các nguyên nhân khiến chúng không đến được với nhau. Chưa có chánh kiến thì giới vẫn chưa ổn định, chánh kiến giúp phát triển vipassanā. Ai đó có tà kiến không thể dựa vào giới và dễ dàng phá vỡ các quy định của giới. Những nhà sư có giới nhưng chưa xua tan được tà kiến vẫn có thể tái sinh thành naga hay con rận. Hãy tự do khỏi bốn cõi khổ bằng cách phá huỷ tà kiến. Tà kiến là mầm mống của địa ngục, cái mà tôi nhắc nhở các bạn hàng ngày, điều này đang trở nên rõ ràng.

Nếu bạn nhổ tận gốc dễ thân kiến, thì thường kiến và đoạn kiến cũng biến mất theo. Cả hai đều bắt nguồn từ thân kiến, chỉ khi thân kiến mất đi bạn mới nhận ra được Thánh Đạo đầu tiên.

Diṭṭhi nirodho Nibbānaṃ

Chấm dứt của tà kiến là Niết Bàn.

Sau khi tà kiến ra đi, không có pháp nào có thể ngăn cản hay cản trở đối với những Thánh Đạo cao hơn. Từ đây trở đi giáo pháp sẽ dẫn đầu, và công việc thực hành vẫn được tiếp tục. Sau khi tà kiến bị phá huỷ thì không cần ai dạy về Đạo lộ cao hơn. Đức Phật chỉ dạy về bốn nhân để nhập vào dòng thánh, và không áp dụng cho các Đạo lộ cao hơn. Tà kiến biến mất thì hoài nghi cũng biến mất. Do vậy, ngăn cản tất cả các Đạo Quả là tà kiến. Sau khi nhổ tận gốc dễ tà kiến, không ai có thể tái sinh quá bảy kiếp. Mỗi khi bạn nhìn thấy pháp chân đế, hãy quán tưởng đó không phải là tôi, không phải của tôi, không phải là tự ngã của tôi và chúng có bản chất là vô thường.

Tà kiến bị mắc kẹt ở đâu? 

Tà kiến xuyên vào bên trong các uẩn như là phiền não ngủ ngầm (anusaya kilesa). Nếu bạn thấy vô thường trong các uẩn thì tà kiến sẽ không thể đi vào. Ví dụ, cảm thọ khổ mà bạn cảm giác trên thân xảy ra trong thời gian dài vì bạn không nhìn thấy sự thay đổi hoặc cắt đứt được sự liên tục (santati). Nếu bạn coi các uẩn là thường hằng thì tà kiến sẽ đi vào, ngược lại nếu bạn có thể quan sát vô thường một cách chi tiết thì tà kiến sẽ dần biến mất. Thấy các uẩn trong hiện tại chỉ là sinh và diệt thì tà kiến không thể vào trong các uẩn này được. Nhìn thấy vô thường và không có khe hở là rất quan trọng, nếu không tà kiến tiếp tục đi vào trong. Vì vậy tôi luôn yêu cầu bạn nhìn vô thường nhiều và nhiều hơn nữa.

Bạn nghĩ gì khi tôi yêu cầu bạn làm như vậy? Tôi lo lắng tà kiến sẽ vào bên trong. Nếu bạn quan sát một cách khăng khít, không có kẽ hở giống như không thể đưa đầu kim vào bên trong cơ thể thì tà kiến không thể vào trong. Thực hành theo cách này, tà kiến bị yếu đi và trở thành chánh kiến. Bản chất tự nhiên của thân và tâm được đóng gói do sự thay đổi liên tục và không có khoảng trống ở giữa. Trong một giây, tâm sinh diệt với tốc độ trăm nghìn tỷ lần (~1013). Vì vậy nó không có khoảng cách. Tốc độ thay đổi của thân là năm nghìn tỷ lần trên một giây (5*1011). Nếu tà kiến có sức mạnh thì vô thường bị gián đoạn, nếu chánh kiến có sức mạnh thì vô thường được gia tăng. Chúng đang chống lại nhau. Nếu tà kiến quá mạnh thì không thể thấy vô thường. Nếu chánh kiến quá mạnh thì có thể thấy vô thường ngay khi mới bắt đầu ngồi thiền.

Cần phải phân biệt được giữa tốc độ vô thường trong tâm và trong thân thì mới nhận ra Niết Bàn không? Bạn nhận ra Niết Bàn mà không cần biết tỷ lệ này, điều này được biết dựa vào sức mạnh của định tâm. Đây là kinh nghiệm của người đã đi hết con đường, các vị ấy đã nói bằng năng lực của riêng mình. Điều này không dành cho người còn đang thực hành, đây là năng lực của các vị A La Hán.

Tại sao quan điểm của kẻ phàm phu và bậc thánh nhân không giống nhau? Bởi vì phàm phu có rất nhiều phiền não bên trong, do đó có rất nhiều dòng tâm hữu phần (bhavaṅga citta) ở giữa các quá trình nhận thức. Đức Phật chỉ có 2 bhavaṅga ở giữa, của ngài Sāriputta là 16 bhavaṅga ở giữa, còn đối với các bạn có rất nhiều bhavaṅga sau mỗi lần nhận thức. Tâm hữu phần bhavaṅga thì không có vấn đề gì bởi vì tâm đó không có phiền não. Nếu phiền não đi vào trong nó sẽ trở thành vấn đề.

Do đó trong Anguttara Nikaya, Đức Phật nói rằng nếu phiền não không ở giữa, thực hành vào buổi sáng và có thể chứng ngộ vào buổi tối. Không đề cập tới tâm bhavaṅga, bhavaṅga là thông thường và là quy luật của pháp. Số lượng bhavaṅga dựa trên nhân của tâm.

Định (samādhi)

Bát Thánh Đạo là con đường Trung Đạo. Các bạn chưa bao giờ đi trên con đường Trung Đạo trong toàn bộ vòng tái sinh luân hồi (saṃsāra). Nếu các bạn đã từng đi, sẽ không bao giờ quay trở lại. Trên con đường Trung Đạo, định (samādhi) là yếu tố rất quan trọng.

Thế nào là định? Tâm an trú tại một điểm gọi là định (ekaggatā citta). Định lấy một điểm làm đối tượng, cái gì làm đối tượng? Nếu đối tượng là thọ thì chỉ có thọ, đối tượng là tâm thì chỉ có tâm chứ không phải là những đối tượng khác. Hướng đến một đối tượng và tập trung trên một đối tượng là ekaggatā. Nếu bạn có thể tập trung trên một đối tượng, phiền não sẽ được vượt qua.

Cái gì là dấu hiệu của samādhi? 

Có bốn niệm xứ là: thân, thọ, tâm và pháp, định theo sau chánh niệm hướng đến bốn đối tượng đó. Nếu định trên thọ thì sẽ rơi vào thọ ngay lập tức, bằng cách này bạn biết về thọ. Nếu định trên tâm thì sẽ rơi vào tâm và chánh niệm cũng rơi vào đó. Nhất tâm phải hoạt động với các đối tượng Satipaṭṭhāna. Dấu hiệu của định là cơ thể biến mất và chỉ còn biết trên tâm hoặc thọ. Ví dụ khi chánh niệm trên cảm thọ, định rơi vào cảm thọ và không biết gì khác. Do đó nó cũng trở thành dấu hiệu của Satipaṭṭhāna.

Chánh niệm rơi vào đối tượng nên dấu hiệu thường hằng của đối tượng đó biến mất. Sau đó, dấu hiệu vô thường xuất hiện và cũng là dấu hiệu của Satipaṭṭhāna. Nhìn thấy dấu hiệu vô thường thì hình dáng của người đàn ông hay người đàn bà biến mất. Liệu định có thể tự nó dẫn đến hiểu biết không? Định phải bao gồm các yếu tố khác của Satipaṭṭhāna, đó là nỗ lực (viriya). Nỗ lực hướng đến đối tượng nên dấu hiệu thường hằng biến mất, và chánh niệm cùng trí tuệ nhìn thấy dấu hiệu của vô thường. Đây là nhìn thấy bằng sự giúp đỡ của nỗ lực. Nỗ lực và định là các thành phần của định. Chánh niệm và trí tuệ là các thành phần của trí tuệ.

Những yếu tố mà chúng ta đang nói đến theo những cách khác nhau đều có mặt trong sự quán tưởng tính vô thường. Liệu có thể nhận ra Niết Bàn theo cách này không? Đối tượng cần phải được quán sát trong nhiều lần (bhāvetabba). Tại sao? Phiền não giống như cái bát cũ bằng đồng, liệu cái bát cũ có thể được sáng bóng chỉ bằng một lần đánh bóng không? Ngay từ khi sinh ra các bạn đã chất đầy phiền não giống như cái bát đồng cũ.

Không thực hành thiền Tứ Niệm Xứ, không thực hành nhất tâm, không nỗ lực quan sát nên tâm ngày càng nhiều phiền não và ô uế  như cái bát đồng cũ. Ngay từ khi mới lọt lòng, các bạn lớn lên với bà mẹ tham ái (taṇhā) và ông bố vô minh (avijja), các bạn được nuôi lớn trên bàn tay và sự chăm sóc của họ. Họ rất lo lắng nếu các bạn nhận ra Đạo Quả và giải thoát khỏi vòng tay họ. Vô minh che đậy Tứ Thánh Đế còn tham ái dạy các bạn  dính mắc vào cha mẹ, con cái và tài sản. Các bạn đang làm những việc mà vô minh và tham ái muốn các bạn làm. Vì vậy phiền não ngày càng chồng chất.

Chúng tồn tại được bao lâu rồi? Trong toàn bộ vòng luân hồi trước đó chúng đã không được đánh bóng. Giữa chúng và bạn là những tên vệ sĩ tà kiến (diṭṭhi). Tà kiến luôn kiểm soát bạn và nói với bạn rằng đây là bố của bạn và kia là mẹ của bạn. Bình thường các bạn để đó chứ không bao giờ cọ rửa và đánh bóng. Vì vậy chúng chồng chất bụi bặm. Đây là lý do bạn không thể nhận ra Niết Bàn. Khối lượng của vô minh (avijja), tham ái (taṇhā) và tà kiến (diṭṭhi) đang tăng lên. Do vậy chúng cần phải được quán sát nhiều lần, bằng việc đánh bóng đi đánh bóng lại chiếc bát đồng cũ mà bạn để lâu ngày sẽ trở nên sáng bóng. Tương tự như vậy, phải quan sát liên tục vô số lần với nỗ lực không ngừng nghỉ. Quan sát liên tục làm giảm vô minh, tham ái và tà kiến.

Minh sát tuệ cần phải thực hành hết lần này qua lần khác chứ không phải như Đạo tuệ. Đạo tuệ nhìn thấy Niết Bàn chỉ một lần duy nhất, chỉ phát sinh đúng một lần. Giống như qua sông bằng thuyền, có một con thuyền và người lái thuyền xếp hàng lên thuyền rồi chèo sang bờ bên kia. Con thuyền đang làm bốn việc: rời khỏi bờ bên này, sang đến bờ bên kia, mang tải hàng hoá và vượt qua dòng sông. Ở đây con thuyền giống như Đạo tuệ, băng qua dòng sông ô nhiễm một lần duy nhất. Rời khỏi bờ của tà kiến bên này và đến bờ Niết Bàn bên kia. Con thuyền cũng đang chở các uẩn. Đạo tuệ xảy ra một lần và kết thúc bốn việc, từ sự vô thường của các uẩn, nó thấy sự vĩnh cửu của Niết Bàn.

Xuyên suốt quá trình thực hành, nhất tâm là quan trọng và cũng là dấu hiệu của Satipaṭṭhāna. Cùng với sự giúp đỡ của nỗ lực là quan trọng không kém, tất cả mọi thứ diễn ra một lần là không đủ, cần phải quan sát nhiều lần. Đức Phật nhấn mạnh điểm này giống như con gà mái mẹ ấp những quả trứng. Con gà mái bận rộn với ba công việc. Bạn cũng bận rộn với vô thường, khổ và vô ngã. Nếu không được ấp đúng cách, thực hành đúng cách những quả trứng sẽ bị hư hỏng và hiểu biết của bạn sẽ mờ nhạt đi.

Quan sát liên tục, lớp vỏ của vô minh bị mỏng đi và chất lỏng của tham ái dần cạn kiệt. Trí tuệ giống như mỏ của gà con bên trong quả trứng ngày một cứng cáp hơn. Bạn phải quan sát trên những quả trứng vô thường, chất lỏng phiền não khô đi và lớp vỏ vô minh mỏng hơn. Khi mỏ và móng vuốt của con gà cứng và sắc nhọn, gà con có thể mổ vỏ từ bên trong và chui ra. Hành thiền giống như con gà mái ấp trứng, bạn phải ngồi trên những quả trứng thường xuyên, nếu không, tuệ giác không thể sinh khởi.

Ánh sáng xuất hiện nghĩa là nhận ra Niết Bàn. Khi chất lỏng phiền não khô đi và lớp vỏ vô minh mỏng hơn sẽ nhìn thấy ánh sáng. Móng vuốt nhọn tương tự như trí tuệ sắc bén. Đức Phật nói rằng người nào nỗ lưch thực hành sẽ tiêu diệt được các lậu hoặc (asāva). Do phiền não tâm không thể thâm nhập được vào sâu. Thậm trí ngay cả bản thân phiền não cũng không kiên định. Chúng có sức mạnh của tình trạng lặp lại (asevana paccava), do đó tâm không thể thâm nhập vào sâu.

Khi trở về nhà và quan sát cơ thể, bạn không còn thấy cơ thể này như một khối u. Hãy quan sát về thọ, về tâm, nếu bạn biết cách thực hành thì cơ thể sẽ biến mất. Nếu bạn không thực hành thì hình dạng bàn tay, bàn chân hay 32 bộ phận của cơ thể vẫn tiếp tục xuất hiện.

Tiếp theo thánh tăng ni Dhammadinna giải thích về bảy yếu tố dẫn đến giác ngộ (bojjhaṅga). Vị ấy giải thích các yếu tố dẫn đến giác ngộ theo cách này. Trạch pháp giác chi (dhammavicayasambojjhaṅga) thuộc về chánh kiến. Đây là con đường dẫn đến Niết Bàn bằng sự thức tỉnh (bodhi). Bodhi nghĩa là biết, tỉnh thức, nó cũng bao gồm quan sát nhiều lần (bhāvita bahulīkata) các yếu tố dẫn đến giác ngộ. Do đó chánh kiến (sammā diṭṭhi) và trạch pháp giác chi giống nhau. Chánh kiến nếu chỉ nhìn thì không đủ, các chi phần giác ngộ cần phải được quan sát nhiều lần để chánh kiến nhận ra. Bạn có thể nghĩ rằng các chi đạo thì không cần quán tưởng nhiều lần. Vì vậy, tôi nói về chúng ở đây. Cả hai đều là các yếu tố về trí tuệ. Nếu bạn thực hành trên các chi đạo thì cũng bao gồm các yếu tố giác ngộ trong đó. Tại sao lại nói về hai điều này? Các chi đạo cắt đứt phiền não và yếu tố giác ngộ làm phát triển các chi đạo.

Quan sát lập đi lập lại mà vẫn chưa thấy Niết Bàn thì đừng cho là lãng phí thời gian. Đức Phật ví điều này giống như cán cưa của người thợ mộc. Nếu dùng một lần thì bị mòn một lần, nếu bạn liên tục sử dụng thì cán cưa bị bào mòn liên tục. Không thể đến Niết Bàn chỉ bằng những lời cầu nguyện. Lúc đầu cán cưa trơn tru, nhưng sau đó các vết hằn từ ngón tay xuất hiện trên đó.

Phiền não được huân tập và phát triển trong các vòng luân hồi nên rất sâu dày, vì vậy nếu không liên tục quan sát thì liệu phiền não có mỏng đi được chút nào không? Chỉ thiền Minh Sát mới có tác dụng làm giảm phiền não. Đừng thất vọng và bỏ cuộc. Nếu phiền não mỏng đi, việc thực hành đang phát triển. Mỗi khi nhìn thấy sự vô thường là phiền não đang mỏng dần đi. Càng quan sát chúng càng trở nên mỏng hơn. Phiền não bị bào mòn dần và cuối cùng sẽ bị tiêu diệt và tuyệt chủng.

Tinh tấn giác chi (viriyasambojjhanga) cũng phải được phát triển. Bạn đừng cho rằng thực hành không bao gồm hỷ giác chi (pītisambojjhanga). Hỷ đã ở bên trong định, tôi chỉ đang nói về những yếu tố dẫn đầu. Hỷ được bao gồm trong sự liên kết với định. Mỗi một cảm thọ lạc (sukhavedāna) khi quan sát đều bao gồm hỷ ở trong đó. Hỷ không phải là yếu tố dẫn đầu, mà là yếu tố đi sau. Quan sát mà không có hỷ thì lười biếng sẽ theo sau. Đức Phật nói rằng cần quan sát với hỷ và tạo nên sự thích thú, vì vậy hãy quan sát mọi thứ giống như bạn chưa bao giờ nhìn thấy trước đó.

Cặp mắt của Phạm thiên có thể nhìn xuyên qua thế giới loài người từ cách xa bốn trăm tỷ do tuần (1 do tuần = 10km). Nhưng họ không thấy được vô thường. Họ nhìn bằng con mắt thế gian (lokiya). Ở đây các bạn nhìn bằng con mắt siêu thế. Vì vậy bạn nhìn thấy tính vô thường thì tốt hơn tầm nhìn của các vị Phạm thiên. Một phiến đá rơi từ thế giới Phạm thiên sẽ mất một tháng rưỡi để xuống tới trái đất. Đôi mắt của họ là thiên nhãn. Cặp mắt thuộc về thời gian nằm ngoài lời dạy của Đức Phật, chúng chỉ là cặp mắt định, còn ở đây là cặp mắt trí tuệ. Không dễ để có được cặp mắt trí tuệ này. Ở đây có cái ngứa và ở đây ngứa biến mất. Thọ sinh khởi và biến mất, đó là cặp mắt trí tuệ. Đó là cặp mắt trạch pháp giác chi hoặc bạn có thể gọi là cặp mắt của chánh kiến hay trí tuệ. Các vị Chư Thiên hay Phạm thiên không thể nhận ra Niết Bàn vì họ thiếu cặp mắt này. Do đó sau khi qua đời họ quay trở lại thế giới loài người và cõi súc sinh.

Hàng trăm ngàn năm trước ngày tận thế, loài người sợ hãi về ngày tận thế sắp tới. Do sợ hãi nhiều người đã phát triển sức mạnh thần thông và phần lớn trong số họ trở thành các vị Phạm thiên. Tất cả những điều này là do thực hành thiền chỉ (jhana) nhưng khi thời gian đến họ sẽ quay trở lại. Dù cho con mắt này có thể nhìn thấy chiếc kim từ rất xa thì cũng không thể phân biệt được ba đặc tính vô thường, khổ, vô ngã. Họ thực hành thiền chỉ với mong muốn cho sự trở thành (bhava taṇhā). Tuy nhiên họ cũng có những nghiệp bất thiện, nên sau khi rơi khỏi cõi Phạm thiên, thậm chí một số trường hợp trở thành lợn. Tất cả các bạn từng là Phạm thiên trước đây hoặc từng là Chư Thiên trong khoảng thời gian không đếm được. Nhưng bạn chưa bao giờ thoát khỏi tuổi già, bệnh tật và cái chết, và chưa từng có cặp mắt trí tuệ trước đây. Không gì có giá trị hơn cặp mắt này.

Dục lạc của cõi trời là tốt nhưng vua trời Sakka (tāvatiṃsa) đã tự mình xuống trái đất để thực hành. Vị ấy có đôi mắt nghiệp lực chứ không phải là đôi mắt trí tuệ. Phân biệt vô thường còn vượt hơn cả vua trời Sakka và chúa Phạm thiên. Sau khi nhận ra được vô thường là sự sinh khởi của trí tuệ sinh diệt sẽ và vô thường kết thúc sẽ chắc chắn nhận ra Niết Bàn.

Bạn phải làm việc nỗ lực để có được đôi mắt trí tuệ vì trong tương lai bạn khó có cơ hội gặp được thầy tốt và giáo pháp giống như thế này. Rất ít người có được đôi mắt trí tuệ trên phạm vi toàn thế giới, vì vậy bạn phải chánh niệm để thấy nhiều hơn và rõ ràng hơn. Đừng trao đổi địa vị với Chư Thiên hay Phạm thiên, bạn là vàng và họ là muối. Bạn phải biết giá trị của chính mình. Họ thậm chí mong muốn trở thành con người để có được trí tuệ này.

Cảm thọ (vedanā). Có bao nhiêu cảm thọ ở đó? 

Có ba dạng cảm thọ là thọ hỷ (somānassa vedanā), thọ ưu (domānassa vedanā) và thọ trung tính (upekkha vedanā). Khi cảm thọ này tồn tại thì các cảm thọ khác không tồn tại, luôn chỉ có một trong ba cảm thọ xuất hiện. Bạn cần bắt kịp với một trong ba cảm thọ đó khi chúng xuất hiện. Để thực hành tốt bạn phải có kiến thức về chúng. Trên thân có các cảm giác dễ chịu (sukha vedanā), cảm giác khó chịu (dukkha vedanā) hoặc luôn có một cảm giác nào đó xuất hiện.

Mắt, tai, mũi, lưỡi là các cảm thọ trung tính, tại sao? Trong cái nhìn chỉ có cái nhìn, nên cảm thọ đó là trung tính. Sau khi nhìn, tốt hơn nếu nó không tiếp tục. Trong cái nghe chỉ có cái nghe, không trở thành dễ chịu hay khó chịu về âm thanh. Trong cái mùi chỉ là cái mùi và bạn sống với thọ trung tính. Nếu bạn phản ứng với đối tượng như là sự thất vọng thì tâm sẽ đến giai đoạn tích cực của quá trình nhận thức, gọi là tâm đổng lực (javana citta). Tâm chuyển thành trạng thái sân, mặc dù ở thời điểm ban đầu chỉ là trạng thái trung tính. Trong cái ăn chỉ có cái ăn cũng là trung tính nhưng phản ứng với thức ăn giống như là thích hay gét sẽ trở thành tâm đổng lực. Ngứa chỉ là ngứa, đau chỉ là đau nghĩa là các cảm thọ đang diễn ra trên khu vực của chúng thì đó chỉ là cảm thọ trung tính. Nhưng khi cơ thể bị lạnh, cảm giác khó chịu xuất hiện hoặc sưởi ấm với lửa nên cơ thể cảm thấy dễ chịu, những điều này sẽ trở thành tâm đổng lực.

Hôm nay các bạn sử dụng cảm thọ làm đối tượng cho tâm quan sát. Nếu bạn thoả mãn trong cái nghe, đó là thọ hỷ, nếu bạn không thoả mãn thì nó là thọ ưu. Bất cứ điều gì đang diễn ra, chúng đều ổn sẽ trở thành thọ trung tính. Tất cả các cảm thọ mà tôi vừa đề cập, nếu một trong số chúng còn ở đó thì những cảm thọ khác bị loại trừ.

Tại sao Đức Phật gọi các cảm thọ là thọ uẩn (vedanakhandha)? 

Bởi vì cảm thọ luôn diễn ra mọi lúc. Bạn có cần phải tìm kiếm cảm thọ ở đâu đó hay không, bạn có thấy cảm thọ sinh khởi không? Trên cơ thể có những cảm giác dễ chịu (sukha) và khó chịu (dukkha), trong tâm có những cảm xúc vui (somānassa) hay cảm xúc buồn (domānassa). Ngoại trừ đầu lông, đầu móng tay, móng chân, mọi nơi trên thân đều có thể phát sinh cảm giác. Cảm thọ được điều kiện bởi các hiện tượng có điều kiện, ví dụ cảm thọ trên mắt sinh khởi do tiếp xúc giữa mắt và cảnh sắc. Nếu đôi mắt bị mù sẽ không thể phát sinh cảm thọ trên mắt. Đó chỉ là hành (saṅkhara) và rơi vào vô ngã. Sabbe saṅkhara anicca, tất cả các hành đều vô thường. Chúng sinh khởi do điều kiện bởi những yếu tố khác.

Khi bạn không chánh niệm, sau khi nhìn thấy và mong muốn thì tâm sẽ tiếp tục tiến trình của tham ái (taṇhā), bám víu (upadana) và nghiệp (kamma). Nhìn thấy với sự không hài lòng, kinh tởm, thì tức giận (dosa) dẫn đến tiến trình duyên sinh tiếp tục. Thiếu chánh niệm nên không nhìn thấy rõ ràng (moha) dẫn đến sự phát sinh vòng nhân duyên của vô minh. Như vậy, không có chánh niệm và tỉnh giác trên nhãn căn tạo ra ba cách cho vòng tròn duyên sinh sinh khởi. Do không biết những điều này bạn nghĩ rằng chúng không quan trọng.

Đức Phật dạy rằng nếu không biết về pháp Duyên Sinh thì còn tệ hơn là sử dụng cục sắt nóng chọc vào mắt. Cục sắt nóng chọc vào mắt gây ra cái chết một lần nhưng khi nhìn mà thiếu chánh niệm dẫn đến chết và tái sinh đau đớn nhiều lần. Nhìn với chánh niệm sẽ nhanh chóng nhận ra các hiện tượng có điều kiện và không đồng hoá với chúng, sau đó pháp Duyên Sinh cắt đứt ba pháp bất thiện, không cho chúng sinh khởi.

Thánh tăng ni Dhammadinna trả lời các câu hỏi và tôi áp dụng điều đó vào thực hành, để chúng trở nên rõ ràng hơn. Biết về sự sinh khởi và diệt đi sẽ tự do khỏi các lậu hoặc. Trong tiến trình nhìn nếu tham ái sinh khởi, nó trở thành lậu hoặc của các dục lạc giác quan. Không biết là lậu hoặc của vô minh. Dễ dàng để nói, nhưng trong sự quan sát thực sự thì nó trở nên muộn màng.

Bạn có thể dừng lại ở việc chỉ nhìn thấy không? Nếu bạn không thể dừng lại thì hãy nhanh chóng quan sát về tính vô thường. Đức Phật nói rằng bằng việc quan sát về tính vô thường của cảm thọ khi gần chết có thể trở thành bậc thánh A La Hán và phá huỷ các lậu hoặc. Ngài Sariputta nhận ra Đạo Quả đầu tiên bằng việc quan sát trên thân và ba Đạo Quả sau bằng cảm thọ. Sự chứng ngộ của ngài Sariputta đến trong thời gian nghe Đức Phật thuyết pháp. Tâm trở nên sắc bén khi quan sát trên sự thay đổi của các cảm thọ. Ngài Sariputta đã quan sát cảm thọ đồng thời với lắng nghe giáo pháp từ Đức Phật. Trí tuệ không thể phát sinh chỉ bằng nghe giáo pháp, lắng nghe và chánh niệm đồng thời có thể đạt được bậc thánh Tu Đà Hoàn hay thậm chí là bậc thánh A La Hán. Vì vậy tôi thường xuyên dạy bạn rằng tai dùng để nghe giáo pháp và tâm để quan sát các uẩn. Chỉ lắng nghe mà không quan sát thì không thể giác ngộ. Tâm không sắc bén nên không nhìn thấy sự thật, không thể bào mòn phiền não và không đạt được Niết Bàn. Cần phải lắng nghe và nỗ lực thực hành, đừng chỉ lắng nghe để lấy phước thiện. Kinh điển cũng dạy rằng cần phải lắng nghe và quan sát, ngược lại sẽ không thể ngăn chặn được tham ái và tà kiến.

Trong khi nghe, cũng như khi nhìn, nghe là hiện tượng có điều kiện. Không biết các hiện tượng có điều kiện thì không thể biết về vô ngã. Bất cứ hiện tượng gì sinh khởi trên thân cũng đều có điều kiện. Bản chất của sự kết thúc là vô thường. Các hiện tượng có điều kiện đang sinh khởi, trở thành và biến mất. Nếu bạn có thể quan sát theo cách này thì đó là pajānāti, nghĩa là hiểu biết tường tận. Bạn hiểu biết về cái gì? Biết về sự thay đổi của các hiện tượng có điều kiện. Du sĩ ngoại đạo Dīghanakha lắng nghe bài pháp cùng với ngài Sariputta, quán tưởng tính vô thường trong khi nghe và trở thành vị thánh Tu Đà Hoàn.

Khi bạn quan sát theo cách này thì ba cách kia của pháp Duyên Sinh sẽ không sinh khởi. Yadā paññāya passati, quan sát với trí tuệ khi chúng sinh khởi. Sự tiếp xúc của thân với các đối tượng bên ngoài cũng giống như vậy. Xúc chạm trên thân (kāyappasāda) là do sự tồn tại bởi nghiệp. Một chúng sinh còn sống và nghiệp cũ chưa kết thúc nên sự nhạy cảm trên thân vẫn tồn tại. ‘Cơ thể quá lạnh’, tâm sẽ trở thành sân. Do đó, nếu bạn biết cảm giác lạnh, ngay lập tức quan sát lạnh như vô thường. Khi bạn biết các hiện tượng duyên sinh đang sinh khởi, chúng sinh khởi (samudaya) rồi biến mất (vaya), thực tế là bạn nhìn thấy sự thật của khổ (dukkha sacca).

Magga sacca là sự thật của Đạo lộ. Nếu bạn hiểu rõ hoàn toàn bản chất của khổ thì điều đó trở thành Đạo tuệ. Chưa hiểu rõ hoàn toàn khổ thì mới chỉ là tuệ minh sát. Tại sao ông trưởng giả Visakha và tỳ khưu ni Dhammadinna lại bàn về các cảm thọ? Bởi vì đó là cách nhanh nhất để đạt đến A La Hán Đạo (arahattamagga). Điều này cũng được hướng dẫn bởi chính Đức Phật. Do đó chánh niệm, tỉnh giác trên cảm thọ được bao gồm trong kinh Tứ Niệm Xứ (satipaṭṭhāna), như vậy cảm thọ có thể chạm đến mục tiêu bởi chính nó. Ngài Sāriputta và du sĩ Dīghanakha thực hành với cảm thọ mà không sử dụng đề mục khác. Không biết về sự sinh khởi, không biết về sự đoạn diệt, thì chân lý về khổ luôn bị che dấu.

Đức Phật nói rằng tất cả các hiện tượng sinh khởi trên thân là sự thật của khổ. Không nhìn thấy các hành thì không thể quan sát vô thường. Cuộc vấn đáp giữa ông cư sĩ Visakha và tỳ khưu ni Dhammadinna tiếp tục bàn về các tuệ minh sát. Ở đây tôi sử dụng cảm thọ để miêu tả cho việc thực hành, hãy quan sát sự vô thường của bất cứ thọ nào đang sinh khởi, chúng luôn luôn sinh khởi trong mọi lúc.

Tôi chỉ lo ngại nếu bạn không biết cảm thọ sinh khởi. Không biết là vô minh. Bất cứ cái gì sinh khởi là Khổ Đế (dukkha sacca), không biết về khổ là vô minh. Vô minh không sống theo cách đó, chúng sẽ làm theo khả năng của chúng. Nếu vô minh đến, thân hành, khẩu hành và ý hành đi theo sau bởi vô minh, người ta sẽ trở thành vô liêm sỉ (vô tàm) và không sợ hậu quả (vô uý) giống như động vật. Điều này tới từ kinh Vô minh trong kinh Tương Ưng.

Tệ như thế nào? Không biết về bất cứ điều gì sinh khởi trong sáu cửa giác quan, không biết sự thật của khổ. Theo cách này con người tạo ra nghiệp trong đời sống hàng ngày mà phần lớn là nghiệp bất thiện.

Nói một cách ngắn gọn, thiền minh sát là quán chiếu về sự thật của khổ. Sự tiếp xúc của suy nghĩ và sự nhạy cảm của tâm tạo ra cảm giác dễ chịu hoặc khó chịu. Chúng là các hiện tượng có điều kiện, nếu các hiện tượng có điều kiện này trở thành dukkha ñāṇam, sự hiểu biết về khổ, thì đó chính là trí tuệ.

Avijja nirodha saṅkhāra nirodho

Vô minh diệt thì hành diệt

Saṅkhāra nirodha  viññāna nirodho

Hành diệt thì thức diệt.

Thức diệt thì tái sinh kết thúc. Đây là sự chấm dứt của tái sinh, không sinh (ajāti) là Niết Bàn. Như vậy lợi ích rõ ràng của quan sát là cắt đứt phiền não. Thực hiện công việc nhận biết khổ, tham ái được chấm dứt và khổ cũng chấm dứt.

Mỗi một khoảnh khắc quan sát là mỗi khoảnh khắc hướng đến Niết Bàn, vì vậy thật xứng đáng để bạn làm điều đó. Đạo tuệ sẽ xuất hiện khi tham ái chấm dứt. Các bạn tự làm sáng tỏ những nguy hiểm của chính mình bằng việc quan sát. Tham sân và si là các kẻ thù bên trong. Nếu bạn đưa ra nhiều lý do để không thực hành nghĩa là bạn đang tuân theo sự ô nhiễm của tham ái, kết quả bạn chỉ nhận được đau khổ từ tham ái mà thôi.

Ông Visakha tiếp tục hỏi rằng: Không quan sát các cảm thọ thì điều gì xảy ra? Nếu không quan sát các cảm thọ thì phiền não ngủ ngầm của tham ái sẽ theo sau. Tỳ khưu ni trả lời một cách vắn tắt nhưng bạn phải hiểu rằng cả tham ái (taṇhā), chấp thủ (upādāna) và nghiệp (kamma) sẽ bám theo. Chúng sẽ tiếp tục sự trở thành và vòng duyên sinh tiếp tục diễn ra, đây là quy luật của tự nhiên. Nếu bạn chết với tham ái, peta jāti, nghĩa là tái sinh ở cõi ngạ quỷ.

Tham ái bị theo sau bởi dục lậu (kāmāsava) trong sáu giác quan, chúng quyến luyến, mê say, chìm ngâm trong cõi dục. Từ dục lậu, hữu lậu (bhavāsava) sẽ theo bên cạnh. Rất khó để tìm được một người có chánh niệm. Mọi người đang vui cười với cảm thọ dễ chịu và nếu không quan sát cảm thọ khó chịu, tâm sân sẽ theo sau. Sân sinh khởi từ vô minh dẫn tới tái sinh trong cõi súc sinh, tức là bị theo sau bởi vô minh lậu (avijjāsava). 

Các lậu hoặc (āsava) này theo tới tận cõi Phạm thiên vô sắc cao nhất (arūpa brahma) hoặc cho đến tuệ Chuyển Tộc (gotrabhū ñāṇa) trong thiền minh sát. Khi những cảm thọ này sinh khởi, hãy nỗ lực quan sát. Nếu không, đó là con đường dẫn tới ngạ quỷ và súc sinh. Không quan sát cảm thọ trung tính vô minh lậu sẽ theo sau. Đây là cảm thọ vi tế, chỉ những người có trí tuệ mới có thể biết về nó. Phần lớn con người  tái sinh trong cõi ngạ quỷ hoặc súc sinh, điều này không đáng sợ đúng không?

Ngay cả khi làm các phước thiện mà không có trí tuệ đi cùng thì vô minh sẽ theo sau. Vô minh mang lại năng lực cho sự thèm muốn. Do thiếu hiểu biết nên mọi người thực hiện những lời cầu nguyện với tham ái, sau đó dục lậu và vô minh lậu bám theo. Vì vậy có nhiều phước thiện được tạo ra cho sự tiếp tục của tái sinh hơn là giải thoát khỏi nó. Đây không phải là kết quả của phước thiện mà là nhân của vô minh do thiếu hiểu biết và tiếp tục với những thèm muốn về bản thân. Thật hiếm có vị thầy nào có thể hướng dẫn lại cho các bạn những điều mà Đức Phật đã dạy.

Ông Visakha hỏi tiếp “Có ba phiền não ngủ ngầm theo sau cảm thọ mọi lúc?” Câu trả lời là không phải mọi lúc. Một người thực hành chánh niệm và quan sát về tính vô thường thì không bị theo sau bởi các phiền não ngủ ngầm. Đây là một lời khuyên nhủ.

Tôi phải đề cập tới cách thứ hai mà Đức Phật đã dạy rằng phước thiện có thể mang lại kết quả cho thiền định, cho Đạo và Quả. Nhưng những hiểu biết sai lầm trở thành nguyên nhân dẫn đến sự tái sinh lặp đi lặp lại. Hào phóng (cāga) là từ bỏ nên nó đang giết chết tham ái (taṇhā), từ bỏ tự ngã của mình, và giết chết thân kiến. Do đó bố thí là pháp tiêu diệt tham ái và thân kiến. Nếu bạn không biết làm thế nào để làm điều đó, sẽ trở thành ‘tôi có’, vì vậy ‘tôi cho’, khi đó thân kiến đi vào. ‘Tôi bố thí để tôi hưởng phước’ thì tham ái sẽ đi vào.

Kiến thức và trí tuệ thì rất quan trọng trong đời sống cũng như trong tu tập. Cần dựa vào sự hướng dẫn của người thầy có trí tuệ, phải biết chọn lựa lời dạy và xem xét những lời dạy có chạm đến trái tim bạn hay không. Nếu lời dạy dẫn đến sự thật thì đó là viên ngọc quý. Đức Phật thừa nhận rằng bản thân Ngài cũng không biết về sự thật trước đó nên đã phải lang thang rất lâu trong vòng luân hồi.

Tỳ khưu ni Dhammadinna miêu tả về con đường thực hành. Khi cảm thọ dễ chịu sinh khởi, nó là dễ chịu, và biến mất là khổ. Do đó quán tưởng cảm thọ dễ chịu giống như Khổ Đế, và sau đó cắt đứt phiền não ngủ ngầm của dục lạc giác quan trong vòng duyên sinh. Khi cảm thọ khó chịu sinh khởi, nó là khó chịu, và biến mất là lạc. Đối với cảm thọ trung tính, chỉ hành giả có trí tuệ sắc bén mới có thể nhận ra tính vô thường của nó. Cảm thọ khó chịu ngược lại với cảm thọ dễ chịu. Các bạn phải quan sát khi chúng sinh khởi. Chỉ một cảm thọ sinh khởi tại một thời điểm. Khi thọ khổ xuất hiện, quan sát thọ khổ, khi thọ lạc xuất hiện, quan sát thọ lạc. Quan sát các cảm thọ giống như sự thật về khổ.

Thế nào là đối lập? Khi cảm thọ này sinh khởi thì hai cảm thọ kia không có mặt, chúng luôn sinh khởi nhưng chỉ một trong số ba cảm thọ có mặt tại một thời điểm. Đừng nói rằng không tìm thấy bất kỳ cảm thọ nào sinh khởi để quan sát, điều này dường như không có vô thường ở đó. Nói như vậy cũng giống như nhìn thấy Niết Bàn. Tất cả các cảm thọ bị đoạn diệt là Niết Bàn. Do đó tiếp tục quan sát cho tới khi các cảm thọ kết thúc.

Khi tâm không thể thâm nhập vào ba cảm thọ, nó sẽ bị trộn lẫn vì tâm quan sát theo sau muộn. Các uẩn sinh khởi nhanh hơn tâm quan sát, có nghĩa là phiền não đi vào giữa, dẫn đến sự nhận biết diễn ra chậm hơn. Xuyên suốt quá trình quan sát, các cảm thọ lạc, cảm thọ khổ hoặc cảm thọ trung tính liên tục thay nhau sinh khởi.

Khi cảm thọ lạc xuất hiện, chỉ là thọ lạc đang sinh khởi, và tâm quan sát, khi đó phiền não không thể xen vào giữa. Nếu cái đau sinh khởi và nó tiếp tục đau, tâm quan sát không thể thâm nhập vào cái đau nên sân xen vào giữa. Cảm thọ dễ chịu tiếp tục dễ chịu thì tâm quan sát cũng không thâm nhập được vào nên tham ái xen vào giữa. Nếu thọ trung tính sinh khởi và tâm quan sát không thể thâm nhập được vào, vô minh xen vào giữa. Đây là điểm rất quan trọng đối với thiền sinh. Tham theo sau bởi thọ lạc, sân theo sau bởi thọ khổ, vô minh theo sau bởi thọ trung tính.

Không dễ để nói về những điều như thế này. Trong thực tế bạn có biết phiền não tới hay không, tâm quan sát có thể bắt kịp với từng thay đổi không? Bạn phải quan sát chúng, nếu chưa quan sát được thì bạn cần nỗ lực hơn nữa. Bạn sẽ nhận ra Niết Bàn, không nhận ra Niết Bàn bởi vì phiền não đang xen vào giữa quá trình thực hành.

Tuệ minh sát là trí tuệ đầu tiên cần phát triển. Chánh kiến về tuệ minh sát đến trước, chánh kiến Đạo tuệ theo sau và thấy Niết Bàn. Khi tuệ giác minh sát sắc bén thì Niết Bàn đến gần hơn. Không lười biếng thực hành bạn sẽ nhận ra điều đó. Không có chánh kiến về minh sát tuệ thì chánh kiến về Đạo tuệ không thể sinh khởi, điều này được đề cập trong Sagatha vagga Samutta.

Tuệ Thuận Thứ (anuloma ñāṇa) vẫn còn là trạng thái của vô thường. Tuệ giác này tạo điều kiện cho tuệ Chuyển Tộc (gotrabhū ñāṇa) sinh khởi và lấy Niết Bàn làm đối tượng. Trí tuệ sinh khởi theo quy luật tự nhiên mà không có chúng sinh nào cả. Đạo tuệ tới ngay sau tuệ Chuyển Tộc và nhìn thấy Niết Bàn. Do đó nếu không có tuệ giác minh sát thì Đạo tuệ không thể sinh khởi, thậm chí đứng giữa chúng là tuệ Chuyển Tộc cũng không thể sinh khởi.

Đừng để thất vọng và hoài nghi (vicikicchā) đến. Hoài nghi rằng tôi là người nhị nhân (duhetuka) hay tôi đã làm gì sai trái với ai đó, vì vậy tôi không thể nhận ra Niết Bàn. Đừng để những suy nghĩ này tồn tại trong tâm. Đức Phật đảm bảo rằng nếu bạn có thể lắng nghe giáo pháp và nhận ra vô thường thì sẽ nhận ra Niết Bàn. Không có phiền não xen vào giữa vô thường và tâm quan sát, bạn sẽ nhận ra Niết Bàn. Đừng quan tâm về những điều này, những người do nghi ngờ và hối hận sẽ bị dẫn tới tái sinh vào cõi khổ và không thể nhận ra Niết Bàn.

Tuệ Chuyển Tộc tới sau các tuệ giác minh sát khác nhưng tới trước Đạo tuệ. Đây là lộ trình tâm đắc đạo (vithicitta), chúng luôn đi theo tiến trình này. Lo lắng và hối hận (kukkucca) là pháp rất xấu và nguy hiểm cho con đường thực hành. Các bạn phải phá huỷ chúng bằng chính bản thân mình, thực hành không bao giờ là không có kết quả. Đức Phật luôn sách tấn thực hành. Trong giây phút hấp hối, người nỗ lực thực hành có thể nhập vào dòng thánh và thậm chí đạt tới bậc thánh Bất Lai. Nếu điều này không xảy ra thì chết với trí tuệ sáng suốt sẽ tái sinh vào các cõi trời và ngay sau đó có thể trở thành một vị thánh Nhập Dòng. Đức Phật đề cập đến điều này một cách chắc chắn trong Anguttara.

Tâm có hoài nghi (vicikiccha), hãy quan sát tính vô thường của hoài nghi. Sau đó tiếp tục quan sát trên các uẩn. Đối với những người quan sát các cảm thọ, lo lắng là thọ ưu. Đối với những người quan sát tâm, lo lắng là tâm sân. Đừng tìm kiếm nó, nó đến để cho bạn quan sát, đây là điểm cần ghi nhớ.

Trưởng giả Visakha hỏi tiếp “Ngược lại với cảm thọ trung tính là gì?” Tỳ khưu ni Dhammadinna trả lời: “Đó là vô minh”. Điều này  đúng vì mỗi khi cảm thọ trung tính sinh khởi mà không biết nghĩa là vô minh (avijja). Vậy cái gì trái ngược với vô minh? Câu trả lời là trí tuệ hoặc sự hiểu biết, là minh (vijja). Nếu cái này có mặt thì cái kia không có mặt. Do đó vipassanā là con đường của trí tuệ, trí tuệ trực giác sinh khởi và hiểu biết thực chứng phát sinh. Trái ngược với minh là gì? Đó là Quả (phala). Minh là trí tuệ, Quả là tâm tự do (vimutti citta). Cái gì đối lập với Quả, đó là Niết Bàn. Tại sao? Để cho tâm Quả phát sinh phải tu tập rất nhiều. Tu tập dựa trên các hiện tượng có điều kiện (saṅkhāra dhamma). Niết Bàn tồn tại như một Pháp vô điều kiện và không có nguyên nhân, vì vậy chúng đối lập nhau.

Nam cư sĩ Visakha rất hài lòng với những câu trả lời của tỳ khưu ni Dhammadina, rồi ông đến gặp Đức Phật và Ngài cũng yêu cầu quan sát về tính vô thường, vì đó là pháp có điều kiện. Tất cả pháp hữu vi đều kết thúc bằng vô thường. Niết Bàn chỉ nghiêng về phía Niết Bàn. Bất cứ pháp nào vô thường, quan sát tính vô thường của chúng. Những pháp thường hằng vĩnh viễn chỉ nghiêng về phía thường hằng,  nghĩa là sống với tâm an lạc tuyệt đối. Do đó bạn phải hướng tâm đến sự chấm dứt các hiện tượng sinh diệt để kết thúc đau khổ.

Đừng quán tưởng Niết Bàn, đây không phải là pháp để quán tưởng. Coi đó như một pháp xem xét (paccavekkhaṇā), một pháp thẩm tra. Tính chất, đặc điểm hay chất lượng của Niết Bàn là gì? Niết Bàn có thể được điều tra theo cách này? Không quan trọng. Con đường là vô thường và quả cũng vô thường. Quan sát các pháp có điều kiện là vô thường. Đối với Niết Bàn vô điều kiện, xem xét giống như ‘đó là, đó là’.

Tóm tắt lại buổi pháp thoại, để nhận ra Niết Bàn cần bắt đầu từ hiểu biết về các pháp có điều kiện, trí tuệ sinh khởi từ các pháp có điều kiện không phải là Đạo tuệ, mà là tuệ minh sát. Trí tuệ xuất phát từ tuệ minh sát là Đạo tuệ và Quả Tuệ. Tuệ giác minh sát lấy đối tượng là các pháp có điều kiện. Quan sát các hiện tượng có điều kiện đều vô thường là tuệ minh sát. Sau khi kết thúc tuệ giác minh sát, bạn sẽ nhìn thấy vô điều kiện, tức là Niết Bàn. Tại sao? Vì nó tự do khỏi các điều kiện.

Thực hành vipassanā kết thúc khi quan sát các pháp có điều kiện kết thúc. Sau đó trí tuệ nghiêng về phía không có điều kiện, bạn không thể tìm thấy Niết Bàn bên trong các hiện tượng có điều kiện. Nếu nó có thể, thì nó chỉ là tà kiến Niết Bàn (diṭṭhi nibbāna). Ăn ngon là hạnh phúc, vui chơi là hạnh phúc và người ta coi những thứ này là Niết Bàn nhất thời. Đó là tà kiến Niết Bàn.

Vì vậy nếu bạn muốn đến Niết Bàn, phải rời xa khỏi nơi có điều kiện. Nếu bạn không hiểu về các điều kiện thì bạn không thể tìm thấy lối ra. Sinh khởi có điều kiện và biến mất là vô ngã. Nếu bạn không nhìn thấy, thì Niết Bàn là không thể. Trước hết hãy biến mình từ thế giới mù quáng (puthujjana) thành thế giới hiểu biết. Thế giới mù quáng không nhìn thấy các pháp có điều kiện nhưng thế giới hiểu biết thì nhìn thấy điều đó.

Khi bạn nhìn thấy pháp không điều kiện thì trở thành bậc thánh nhân, người mà chắc chắn phải đi theo cách thức này. Trước khi gặp một người thầy tâm linh, ai cũng mù mịt về con đường. Khi bạn gặp được người thầy tốt, bạn sẽ chuyển sang một thế giới hiểu biết. Ví dụ khi ngài Sariputta và ngài Moggolana gặp người thầy đầu tiên của họ là Sanjaya, khi đó họ sống trong thế giới mù quáng. Họ trở thành những người của thế giới tốt đẹp sau khi gặp ngài thánh tăng Asaji, và cuối cùng trở thành những bậc thánh nhân. Đừng coi thế giới người mù là người tái sinh với nhị nhân (duhetuka), hay tam nhân (tihetuka), thế giới người mù là thế giới mà không có người bạn tinh thần tốt. Trước đây chưa gặp Đức Phật, tất cả đều bị mù, do đó đừng nghi ngờ gì về điều đó.

Sư Chân Thiện dịch