Chánh kiến

Sự khác nhau giữa người khôn ngoan và kẻ ngu là gì? Câu trả lời là: người khôn ngoan thực hành đời sống phạm hạnh (magga brahmacariya) còn kẻ ngu thì không. Vì vậy người khôn ngoan không còn tái sinh trong tương lai, và già nua, bệnh tật, cái chết trong tương lai cũng không còn tồn tại nữa. Đối với kẻ ngu, không thực hành đời sống phạm hạnh cao quý, sẽ tiếp tục tái sinh trong tương lai và kết quả nhận được là già nua, bệnh tật rồi chết. Người khôn ngoan không còn đau khổ trong tương lai còn kẻ ngu ngốc tiếp tục chịu đựng đau khổ. Thực hành đời sống phạm hạnh là con đường thực hành dựa trên chánh kiến (sammādiṭṭhi). Sammā là đúng, diṭṭhi là cái nhìn, sammādiṭṭhi có nghĩa là cái nhìn đúng đắn, chánh kiến. Có năm loại chánh kiến:

(1) Kammassakatā sammādiṭṭhi – Chánh kiến về nguyên nhân và kết quả

(2) Jhāna sammādiṭṭhi – Chánh kiến về thiền định

(3) Vipassanā sammādiṭṭhi – Chánh kiến về thiền minh sát

(4) Magga sammādiṭṭhi – Chánh kiến về Đạo tuệ

(5) Phala sammādiṭṭhi – Chánh kiến về Quả tuệ.

(1) Kammassakatā sammādiṭṭhi là chánh kiến tin vào các hành động tạo nghiệp và kết quả của nghiệp. Kammassakatā sammādiṭṭhi đang bố thí, cúng dường, làm phước thiện hay đang gieo những hạt giống tốt để nhận lấy kết quả là sự may mắn, giàu sang. Kammassakatā sammādiṭṭhi tồn tại cả bên ngoài và bên trong giáo pháp (sāsana).

(2) Jhāna sammādiṭṭhi là sự thực hành định tâm (samatha). Kết quả của việc thực hành thiền định này là có thể đạt được các loại thần thông và được tái sinh trong các cõi trời sắc giới (rūpa) hay cõi phạm thiên vô sắc (arūpa). Tuy nhiên điều này vẫn nằm trong sự thật của đau khổ (dukkha sacca), vậy nên kết quả không có nhiều giá trị. Đây là chánh kiến, không có gì phải nghi ngờ về điều này, nó thấy sự thật nhưng không phải là sự thật cuối cùng. Jhāna sammādiṭṭhi cũng tồn tại cả bên ngoài và bên trong giáo pháp.

Ba chánh kiến còn lại (3)(4)(5), là chánh kiến về vipassanā, chánh kiến về Đạo tuệ và chánh kiến về Quả tuệ chỉ tồn tại trong thời gian có giáo pháp của Đức Phật (Buddha sāsana). Chánh kiến đầu tiên trong ba chánh kiến này, là chánh kiến về thiền minh sát (vipassanā sammādiṭṭhi) dùng để xua tan thân kiến (sakkāyadiṭṭhi). Cả Đức Phật và tôi đều đảm bảo rằng, nếu thực hành vipassanā thì sự tái sinh trong các cõi thấp sẽ không xảy ra. Ngay trong kiếp sống này, thực hành vipassanā có thể dẫn tới giác ngộ Niết Bàn. Đầu tiên trở thành thánh Nhập Dòng, sau đó là thánh Nhất Lai, tiếp theo là thánh Bất Lai và cuối cùng trở thành bậc thánh A La Hán.

Tiếp theo chánh kiến về vipassanā, chánh kiến về Đạo tuệ sẽ được thảo luận. Chánh kiến thứ nhất và thứ hai không được thảo luận nhiều vì chúng có thể tồn tại bên ngoài thời gian của giáo pháp và không giúp ích nhiều trong việc giải thoát khỏi đau khổ. Chánh kiến quan trọng nhất là chánh kiến về vipassanā, cần được thảo luận để áp dụng vào thực hành.

Theo chú giải của kinh Tương Ưng (saṃyuta nikāya), chánh kiến về vipassanā nhìn thấy bản chất vô thường, khổ, vô ngã của các hiện tượng theo pháp Duyên Sinh (paṭiccasamuppāda), nên thân kiến đồng hoá các uẩn là ‘tôi’, ‘của tôi’ được nhổ tận gốc dễ. Vô thường, khổ, vô ngã có thể được quán tưởng khi bất cứ uẩn nào sinh khởi, cho dù là ở giai đoạn đầu, giai đoạn giữa hay giai đoạn cuối của vòng duyên sinh. Nếu tính vô thường, sự sinh diệt của các uẩn được nhìn thấy theo cách này, ba tà kiến sẽ được xua tan.

Tuệ giác vipassanā có thể xoá bỏ ba tà kiến (micchadiṭṭhi) là thân kiến (sakkāyadiṭṭhi), thường kiến (sassatadiṭṭhi) và đoạn kiến (ucchedadiṭṭhi). Do đó chánh kiến thứ ba này là quan trọng nhất. Chánh kiến thứ tư về Đạo tuệ (magga sammādiṭṭhi), tương đối dễ dàng, nó sinh khởi nơi con đường đã được làm sẵn bởi chánh kiến về vipassanā. Magga sammādiṭṭhi là giai đoạn khi trí tuệ sắc bén sinh khởi và nhìn thấy sự chấm dứt của mọi đau khổ.

Giai đoạn thứ ba của chánh kiến, vipassanā sammādiṭṭhi, không gì khác hơn là thực hành thiền tuệ vipassanā. Để thực hành vipassanā, hãy quan sát các hiện tượng sinh và diệt. Bất cứ hiện tượng nào sinh khởi, như tâm muốn ăn, muốn ngủ, tâm suy nghĩ hay bất cứ tâm nào xuất hiện, được quan sát kịp thời chính là vipassanā. Hãy hướng sự chú ý đến sự sinh và diệt của các hiện tượng, nó trở thành vipassanā sammādiṭṭhi. Đó có thể là bất cứ tâm nào, bất cứ tâm nào khởi lên, hãy quan sát đặc tính của nó. Nếu tâm không khởi lên thì sau đó là cái chết. Pháp khởi lên là các uẩn duyên sinh, các uẩn luôn sinh diệt, sinh diệt, ngoài pháp này ra không còn pháp nào khác.

Thấy vô thường là sự kết thúc của tà kiến, cái mà đưa chúng sinh xuống các cảnh giới thấp kém. Sinh khởi rồi diệt đi dẫn đến hiểu biết rằng đây ‘không phải là tôi, không phải là của tôi, không phải là tự ngã của tôi’, tất cả chỉ là các hiện tượng sinh rồi diệt. Bằng cách quan sát sinh diệt của các uẩn, thân kiến bị xua tan. Đây là những gì được trình bày trong chú giải của kinh Tương Ưng (saṃyutta nikaya).

Có người hỏi rằng, quan sát tính vô thường để làm gì? Để xua tan tà kiến và những quan điểm sai lầm về bản thân, cái dẫn chúng sinh đến các trạng thái khốn khổ. Một người chưa đạt tới điểm kết thúc của sinh diệt, trong khi vẫn còn đang quan sát các uẩn sinh diệt, nếu tuổi thọ bị cắt đứt bởi đoạn nghiệp (upaghātaka kamma), người đó chết đi, nhưng chắc chắn không tái sinh trong các cảnh giới đau khổ. Nhìn thấy sự diệt đi của các hiện tượng, thân kiến và thường kiến bị xua tan. Nhìn thấy sự sinh khởi của các hiện thượng, thân kiến và đoạn kiến bị xua tan.

Cánh cửa dẫn đến bốn cõi thấp bắt đầu từ thân kiến. Với sự thấy biết sinh khởi và diệt đi của các uẩn, vipassanā sammādiṭṭhi cắt đứt thân kiến. Dập tắt thân kiến còn quan trọng hơn dập tắt ngọn lửa đang cháy trên đầu bạn. Ngay cả khi có một mũi giáo đâm vào ngực, hãy loại bỏ thân kiến trước, bởi vì đây là pháp đưa bạn đến cõi khốn khổ.

Cho dù chưa thể giác ngộ Niết Bàn hay chưa đạt được Đạo tuệ, nếu một người chết với các tuệ giác vipassanā, trong kiếp sau người đó vẫn có thể đạt được giai đoạn giác ngộ đầu tiên, trở thành thánh Nhập Dòng (sotāpanna). Điều này được đề cập trong kinh Tăng Chi (anguttara nikaya).

Đừng lùi bước trong việc phát triển tuệ giác, hãy nỗ lực xua tan quan điểm sai lầm về bản thân, sakāyadiṭṭhi. Không được lùi bước trong việc xua tan thân kiến, vì điều này chỉ có thể được biết trong thời gian tồn tại của giáo pháp.  

Nơi cư trú thường xuyên cho tất cả chúng sinh là các cõi thống khổ, bởi vì nguyên nhân từ thân kiến. Chắc chắn là thân kiến trước đây chưa bao giờ bị xua tan và vipassanā chưa bao giờ được thực hành.

Nếu chưa xua tan được thân kiến thì không có thời gian để nghỉ ngơi và thư giãn. Hãy đặt mọi liên hệ với thế gian như gia đình, con cái, công việc làm ăn sang một bên, nỗ lực xua tan thân kiến trước. Đừng nghĩ rằng chăm sóc con trai, con gái, gia đình, họ hàng, hay công việc kinh doanh là bắt buộc, điều duy nhất bắt buộc là phải xua tan thân kiến. Có thể bạn bị chỉ trích vì bỏ bê gia đình hay công việc, nhưng bạn sẽ không phải đi đến trạng thái khốn khổ (apāya). Rất tệ nếu không thấy sinh và diệt, không xua tan được thân kiến, điều này tệ hơn rất nhiều so với bị gét bỏ.

Theo chú giải Anguttara, người có thân kiến giống như một hòn đá ném xuống nước, sẽ không bao giờ xuất hiện trở lại. Không có tài sản hoặc bị con trai, con gái gét bỏ không quan trọng bằng việc bị chìm đắm và không bao giờ trở lại. Họ trở thành gia đình, người thân, hàng xóm, tài sản của bạn trong cuộc đời này. Bạn quan tâm đến những người đó nhưng bạn không có tình thương với chính mình. Quan tâm đến người khác, giống như “không sao đâu nếu tôi phải rơi vào cảnh giới khốn cùng”. Bạn là kẻ ngu ngốc và không biết về điều đó. Hãy nhìn vào tuổi tác của mình, cặp mắt của bạn đang hướng về phía nghĩa trang. Bạn đang già đi. Đó là lý do tại sao trong kinh Tương Ưng, Đức Phật đã nói “dập tắt thân kiến quan trọng hơn dập tắt ngọn lửa trên đầu, ngay cả khi có một ngọn giáo đâm vào ngực của bạn, hãy loại bỏ thân kiến trước tiên”.

Làm thế nào để kết thúc thân kiến? Sinh khởi và đoạn diệt của tâm phải được quan sát. Tà kiến được xua tan bởi kiến thức, bằng sự quan sát sự sinh diệt của danh sắc và sẽ được nhổ tận gốc bởi Đạo tuệ.

Thực hành minh sát tuệ, chánh kiến về vipassanā (vipassanā sammādiṭṭhi), tức là bạn đang xua tan tà kiến. Bạn đã bỏ lỡ tất cả các vị Phật trong các chu kỳ thế giới trước đây, bởi vì bạn đã ở trong địa ngục. Ai đã đưa bạn xuống địa ngục? Thân kiến đã gửi bạn xuống đó, khi thân kiến chưa được xua tan, chắc chắn bạn sẽ bỏ lỡ mọi vị Phật xuất hiện trên thế giới.

Bạn mong ước được nhìn thấy Đức Phật, bạn cúng dường đến Đức Phật với mong muốn được giác ngộ, giải thoát nhưng bạn vẫn không làm bất cứ điều gì để ngăn chặn pháp thân kiến đang che lấp bạn nhìn Đức Phật. Bạn có thể mong ước bất cứ điều gì, nhưng nếu bạn không thoát khỏi thân kiến, bạn sẽ không đạt được điều đó. Mong ước chỉ là điều bình thường nhưng thân kiến là điều thực sự đưa bạn đến các cõi thấp, pháp này chắc chắn sẽ đưa bạn đến các trạng thái khốn cùng. Đó là pháp gì? Là pháp thân kiến, pháp đã nhiều lần đưa bạn xuống bốn cõi đau khổ.

Trong suốt vòng luân hồi sinh tử, có bao nhiêu vị Phật đã xuất hiện? Nhiều như những hạt cát ở sông Ganga. Tại sao bạn lại bỏ lỡ tất cả? Bởi vì thân kiến đã đưa bạn xuống những cõi đau khổ trong suốt vòng luân hồi. Sẽ có nhiều vị Phật trong tương lai, nhưng nếu bạn không xua tan tà kiến, bạn sẽ tiếp tục bỏ lỡ cơ hội.

Đừng vội dập tắt ngọn lửa trên đầu bạn, ngôi nhà của bạn có thể bị cháy, quần áo của bạn có thể bị cháy, nhưng hãy xua tan thân kiến trước. Bởi vì vipassanā chưa bao giờ được thực hành trong suốt vòng luân hồi nên bạn đã nhiều lần sống trong các cõi đau khổ, điều này là chắc chắn, vì đã được Đức Phật nói trong Kinh Tập (sutta nipāta). Nếu bạn không bắt đầu thực hành vipassanā ngay bây giờ thì không còn gì tệ hơn điều này.

Vì có thân kiến mà 62 tà kiến khác còn ở đó, vì thân kiến này mà bạn đã bỏ lỡ vô số các vị Phật, nhiều như những hạt cát trên sông Ganga, cũng như đã bỏ lỡ lời dạy của những vị ấy. Bạn đã sống với đau khổ trong suốt thời gian qua. Trong kiếp sống này, bạn phải biết sự sinh khởi của các uẩn, biết sự sinh khởi của pháp Duyên Sinh, biết bản chất của các uẩn là sinh và diệt. Nếu không biết về các uẩn duyên sinh thì tà kiến về ‘con người’ hay ‘chúng sinh’ sẽ sinh khởi.

Ví dụ, nhĩ thức vừa sinh khởi, là khởi đầu của duyên sinh. Bạn phải biết đây là pháp Duyên Sinh, paṭiccasamuppāda. Bạn phải biết sự khởi đầu này, biết đó là sự sinh khởi của pháp, khi đó mới không bị coi là ‘tôi’ hay ‘người khác’. Quan sát ngay từ đầu bằng trí tuệ, sau đó ‘tôi’ và ‘người khác’ sẽ bị xua tan. Đó chỉ là pháp sinh khởi và pháp diệt đi, là pháp vô thường, không có ‘tôi’, không có ‘của tôi’.

Trong giáo pháp của Đức Phật, không có gì quan trọng hơn thực hành vipassanā, thực hành vipassanā nghĩa là xua tan tà kiến. Thay vì ăn hai bữa một ngày thì ăn một lần trong ngày là đủ, nếu mái nhà dột thì bỏ đi, không vấn đề gì, chúng sẽ không gửi bạn đến các cõi khổ, bị ướt có thể là điều tồi tệ nhất xảy ra. Nhưng nếu tà kiến không được xua tan, kết quả là tái sinh trong các cõi khổ.

Đừng nghĩ đây là vấn đề nhỏ, thân kiến là gốc rễ của tất cả các hành động bất thiện. Bạn nói rằng bạn đang kiếm tiền “cho bản thân tôi”, “cho con trai và con gái của tôi”. “Bản thân tôi” là tà kiến, “con trai và con gái của tôi” là tham ái. Những niềm tin này dựa trên thân kiến, do sức mạnh của thân kiến, bạn cố gắng kiếm tiền cho đến khi kiệt sức. Bạn không có lấy một ngày nghỉ ngơi, kiệt sức và già đi, bệnh tật đang bắt đầu hành hạ bạn. Mỗi ngày trôi qua bạn luôn phải sống trong nỗ lực kiếm tiền, hôm nay, ngày mai và ngày kia. Bởi vì có ‘tôi’ bạn đang cố gắng biến mọi thứ thành ‘của tôi’. Nếu cái ‘tôi’ tà kiến không được loại bỏ, việc cố gắng đạt được thứ này thứ kia sẽ làm cho ‘của tôi’ tiếp tục.

Hàng ngày bạn ngồi ở cửa hàng của mình và lần tràng hạt cầu nguyện, với mong muốn có nhiều khách đến mua hàng. Bạn làm điều này với sự thèm muốn (taṇhā), bạn đang cố gắng làm cho sự giàu có trở thành ‘của tôi’. Ngay cả khi bạn quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, rồi bạn tin rằng công việc làm ăn kinh doanh tốt đẹp là nhờ quy y Tam bảo. Thân kiến đang lén lút đi vào, bạn đang quy y Tam bảo với hy vọng doanh nghiệp của bạn sẽ thành công.

Khi tà kiến chưa được xua tan, trí tuệ sẽ không ở đó. Do thiếu hiểu biết (avijjā) nên các hành động có điều kiện (saṅkhāra) sinh khởi, avijjā paccaya saṅkhāra, ngay cả những hành động thiện cũng sinh khởi từ sự thiếu hiểu biết. Sau đó saṅkhāra paccaya viññāna, phụ thuộc vào các hành động có điều kiện (saṅkhāra) nên thức (viññāna) sinh khởi, và sẽ có tái sinh (jāti). Kết quả là bạn tiếp tục rơi vào sự tái sinh.

Khi hùn phước xây dựng nhà vệ sinh cho các tu viện, hay cho các nơi công cộng, bạn nói hướng này là may mắn đối với tôi. Bạn đang chọn hướng may mắn. Khi tặng một nhà vệ sinh, bạn nói đây là hướng không may mắn, sẽ gây nguy hiểm cho cuộc sống của tôi. Mặc dù đây là những phước thiện, nhưng chúng là các hành động có điều kiện, và bạn tiếp tục rơi vào kẽ hở của sự tái sinh. Đây là công việc của tà kiến, nếu tà kiến chưa được xua tan, thực hiện bất kỳ công việc gì đều dẫn đến một kết quả xấu xí.

Bạn muốn tặng một nhà vệ sinh, bố thí nước uống, hoặc trang trí một cây cột gần bảo tháp, thậm chí ngay cả khi đang dựng cột cho bảo tháp, bạn đang cố gắng chọn một hướng tốt. Bạn đang trở thành kẻ thù của giáo pháp vì vậy bạn nên lo lắng cho điều này. Nếu thân kiến chưa được xua tan, bất cứ điều gì được thực hiện, tất cả đều bị trộn lẫn với bất thiện. Các đốm đen lẫn trong một khung ảnh màu trắng không thể là một khung ảnh đẹp. Kết quả bạn nhận được không thể trong sạch và thanh tịnh, bởi vì phước thiện đã bị trộn lẫn với thân kiến. Sau đó bạn phàn nàn rằng kết quả không được như ý.

Bất cứ nơi nào tồn tại thân kiến thì không có cách nào đạt được Niết Bàn. Tại sao không thể đạt được Niết Bàn? Có phải vì bố thí (dāna) không? Bố thí có thể đưa bạn đến Niết Bàn nhưng thân kiến kéo bạn xuống. Giới (sīla) cũng có thể gửi bạn đến Niết Bàn nhưng thân kiến kéo bạn xuống. Bạn nói “tôi sẽ giữ các giới luật để sống lâu”. Muốn sống lâu thì chỉ cần sống lâu, không cần đến Niết Bàn. Không thể giác ngộ Niết Bàn chỉ bằng cách tuân thủ các giới luật.

Ai muốn sống lâu? Thân kiến trả lời tôi muốn sống lâu. Bất cứ điều gì bạn làm đều được trộn lẫn với tà kiến, khi bạn chuẩn bị đi lên thì nó kéo bạn đi xuống. Tôi không nói bố thí và giữ giới không đưa bạn tới đích, nhưng nếu có thân kiến ở đó bạn sẽ không bao giờ đến được đó. Chỉ khi thân kiến được xua tan, bất cứ điều gì bạn làm, bố thí, giữ giới, làm phước thiện sẽ được điều hành bởi trí tuệ, tà kiến được loại bỏ và chánh kiến sinh khởi.

Việc cần phải làm gấp là gì? Đó là thực hành vipassanā, sau đó mọi thứ sẽ dễ dàng. Thực hành vipassanā để làm gì? Để xua tan thân kiến. Khởi đầu của con đường dẫn đến Niết Bàn là vipassanā, nếu bạn không bắt đầu từ đây thì bạn sẽ ra đi. Chính Đức Phật đã nói với chúng ta điều này trong kinh Tương Ưng “katamo ca bhikkhave asankhatagami maggo”, giáo pháp chân chính chắc chắn sẽ đưa bạn đi trên con đường đến Niết Bàn. Câu trả lời là vipassanā, đây là con đường độc nhất dẫn đến Niết Bàn bởi vì nó xua tan thân kiến.

Bạn đã hiểu, điều quan trọng bây giờ là quan sát các uẩn như thế nào? Thực hành phải được thực hiện và không lùi bước. Bạn không cần phải tìm kiếm ở nơi khác, mở mắt và nhãn thức sinh khởi, quan sát sinh và diệt của nhãn thức. Lắng nghe, nhĩ thức sinh và diệt, biết điều này đang xua tan thân kiến. Ở mũi, bạn biết có mùi, quan sát sinh và diệt của tỷ thức. Ngứa ngáy trên cơ thể, quan sát sự sinh và diệt của ngứa. Khi có làn gió mát thổi vào cơ thể và cảm giác dễ chịu sinh khởi, hãy quan sát sinh và diệt của cảm giác dễ chịu tại nơi đó. Dễ chịu hay khó chịu, chỉ cần quan sát sự sinh khởi và diệt đi thì tà kiến được xua tan. Biết sinh khởi thì đoạn kiến bị xua tan, biết diệt đi thì thường kiến bị xua tan và rồi thân kiến cũng được xua tan.

Chúng ta đang nói về con đường dẫn đến Niết Bàn, con đường đó là gì? Đó là con đường minh sát, vipassanā. Tại sao minh sát tuệ dẫn đến Niết Bàn? Bởi vì nó xua tan thân kiến.

Nếu tà kiến có thể bị xua tan thì chánh kiến phát sinh tự động, và bạn không cần phải ao ước nó phát sinh. Chánh kiến biết rằng chỉ có sinh khởi và diệt đi, không có ‘tôi’ hay ‘người khác’, không có ‘con người’ hay ‘chúng sinh’. Khi chánh kiến xuất hiện bạn không cần phải mong muốn đạt được Niết Bàn. Vipassanā là con đường đích thực dẫn đến Niết Bàn. Do đó chánh kiến về vipassanā rất quan trọng.

Bạn muốn biết thực hành chánh kiến về vipassanā này trong bao lâu? Liên tục quan sát sinh và diệt của các uẩn từ lần này qua lần khác, cho đến khi bạn cảm thấy nhàm chán đối với các uẩn. Hãy quan sát sinh diệt nhiều hơn nữa để nhàm chán nhiều hơn, đây sẽ là nơi kết thúc của trí tuệ minh sát.

Thấy sinh diệt rồi chán ghét nó, bạn đi đến đoạn cuối của chánh kiến về vipassanā. Sau đó đến chánh kiến về đạo, magga sammādiṭṭhi, là chánh kiến về con đường dẫn đến diệt khổ. Magga sammādiṭṭhi là Bát Thánh Đạo và chánh kiến là lãnh đạo của tám chi đạo. Khác nhau giữa chánh kiến về vipassanā và chánh kiến về đạo là như thế nào? Vipassanā sammādiṭṭhi quan sát sự sinh diệt của các uẩn và có tiềm năng xua tan thân kiến. Sức mạnh của vipassanā sammādiṭṭhi kết thúc ở đó. Nhìn thấy sự sinh diệt của các uẩn và tà kiến được xua tan, đây là chức năng của vipassanā sammādiṭṭhi, đừng cho rằng đây là chánh kiến bình thường.

Chức năng của chánh kiến về đạo là gì? Nó cũng là chánh kiến (sammādiṭṭhi), sammā là đúng, diṭṭhi là nhìn nhận, xem xét, sammādiṭṭhi nghĩa là nhìn nhận đúng. Người này thấy như thế nào, người kia thấy ra sao? Nhưng với magga sammādiṭṭhi, sự sinh diệt của các uẩn không còn được nhìn thấy nữa và Niết Bàn xuất hiện, đây là chức năng của magga sammādiṭṭhi.

Sau khi chánh kiến về vipassanā kết thúc, chánh kiến về Đạo sinh khởi và được nắm giữ bởi trí tuệ. Các pháp sinh khởi và diệt đi giống như bánh xe quay tròn bị cắt đứt. Lúc này không còn thấy sinh diệt nữa, chúng bị bỏ lại và magga sammādiṭṭhi lấy Niết Bàn làm đối tượng.

Trí tuệ nhìn thấy Niết Bàn và không thấy sự sinh diệt của các uẩn là chánh kiến về Đạo. Magga sammādiṭṭhi không thấy sự sinh diệt. Nếu  còn thấy sinh diệt thì còn ở trong chánh kiến về vipassanā, thấy sinh diệt thì sẽ hướng sự chú ý đến các pháp có điều kiện. Niết Bàn là đối tượng (ārammaṇa paccayena) của Đạo tuệ, Niết Bàn có liên quan đến magga, magga nhìn thấy nibbāna và thấy sự diệt khổ. Đây là chánh kiến về Đạo dẫn đến diệt khổ, là trí tuệ nhìn thấy sự kết thúc của sinh diệt.

Kết thúc của sinh diệt là Niết Bàn, trí tuệ thấy được sự chấm dứt của sinh diệt magga sammādiṭṭhi, là con đường dẫn đến chấm dứt sự đau khổ. Không cần phải mong muốn đạt được Đạo tuệ, chỉ cần siêng năng thực hành vipassanā sammādiṭṭhi thì magga sammādiṭṭhi sẽ tự động đến. Chánh kiến về vipassanā là tiền thân của Đạo và Quả, chỉ có chánh kiến về vipassanā là quan trọng, những điều khác không quan trọng. Chỉ cần tiếp tục thực hành vipassanā. Bất cứ pháp nào sinh khởi bên trong, bất cứ tâm nào sinh khởi, chỉ cần liên tục quan sát về sự sinh và diệt của chúng. Vipassanā sammādiṭṭhi chỉ thấy sinh và diệt, đây là công việc duy nhất của nó. Khi quan sát đủ nhiều tà kiến sẽ tự động bị xua tan.

Chánh kiến về Đạo không thấy sinh khởi, không thấy đoạn diệt, chỉ thấy sự diệt vong của vòng tròn duyên sinh (vaṭṭa). Khi quan sát về sinh diệt, đến một thời điểm sinh diệt không còn được thấy nữa, bánh xe vipāka vaṭṭa đang quay vòng cũng biến mất. Vipāka vaṭṭa là các hiện tượng vật chất (rūpadhamma) và hiện tượng tinh thần (nāmadhamma) sinh khởi và diệt đi. Sinh diệt lặp đi lặp lại nên vipāka vaṭṭa lặp đi lặp lại. Khi magga sammādiṭṭhi sắp xuất hiện, bánh xe vipāka vaṭṭa này ngừng quay, và sinh diệt không còn được thấy nữa.

Đừng nghĩ Niết Bàn xuất hiện như một quả cầu sáng rực rỡ, đó chỉ là sự chấm dứt của sinh và diệt. Biết bản chất của sự chấm dứt là Đạo tuệ. Vipassanā sammādiṭṭhi chỉ thấy sinh và diệt của các uẩn, còn magga sammādiṭṭhi không thấy sinh và diệt nữa, thay vào đó là thấy Niết Bàn.

Để cho bạn hình dung rõ hơn, tôi sẽ đề cập đến kinh Mi Tiên Vấn Đáp (milindapañha). Mặc dù chánh kiến về vipassanā và chánh kiến về Đạo đều là chánh kiến nhưng chúng rất khác nhau. Vipassanā thấy đúng là một chuyện, magga sammādiṭṭhi thấy đúng là một chuyện khác. Vua Milinda là một ông vua rất thông thái, ngay cả các vị A La Hán cũng phải bỏ chạy vì không thể trả lời được các câu hỏi của vị  ấy.

Một ngày nọ ngài thánh tăng Nāgasena đáng kính đến, khi đó họ đã hoàn thành ước nguyện tương ứng của họ trong vòng sinh tử. Vua Milinda hỏi ngài Nāgasena “Hãy cho tôi biết Niết Bàn được nhìn thấy như thế nào? Thưa ngài Nāgasena đáng kính, tôi tin rằng ngài là một vị thánh tăng A La Hán và đã thấy Niết Bàn. Xin hãy cho tôi biết cách nhìn thấy Niết Bàn cùng với phương pháp tu tập”. Nếu ngài Thánh tăng không đưa ra câu trả lời, vua Milinda sẽ nói rằng không có Niết Bàn. Câu hỏi này có liên quan đến chánh kiến, chánh kiến về vipassanā và chánh kiến về Đạo.

Vua Milinda: Niết Bàn có tồn tại không?

Ngài Nāgasena: Có

Vua Milinda: Niết Bàn có trong quá khứ, hiện tại hay tương lai?

Ngài Nāgasena: Không có trong cả ba.

Vua Milinda: Nếu Niết Bàn không có trong bất kỳ thời nào thì nó không tồn tại.

Ngài Nāgasena: Nếu Niết Bàn ở trong quá khứ thì chỉ những người ở trong quá khứ mới có thể kinh nghiệm nó. Nếu ở trong tương lai thì chỉ những người trong tương lai mới có thể kinh nghiệm Niết Bàn và những người hiện tại sẽ chết trong vô vọng. Niết Bàn là kala vimutti, pháp vượt thời gian, không có thời gian, không có quá khứ, hiện tại hay tương lai, nhưng Niết Bàn tồn tại.

Lấy một ví dụ, chà xát hai que tre để có được lửa. Vậy ngọn lửa từ quá khứ, hiện tại hay tương lai? Trong que tre chỉ có tre, không có lửa. Trong tre không bao giờ có lửa, nhưng nỗ lực chà xát đã tạo ra lửa. Hai que tre được chà xát trong thời gian dài sẽ tạo ra lửa.

Cũng như vậy, thực hành vipassanā thì Niết Bàn sẽ xuất hiện, nhưng nó không có ở trong ba thời kỳ. Không thực hành, Niết Bàn sẽ không đến. Nếu bạn chỉ đi dâng hoa và nước cho tượng Phật rồi cầu nguyện “mong cho tôi đạt được Niết Bàn”, bạn sẽ không đạt được điều đó.

Que tre có tự động tạo ra lửa không, hay bạn phải chà xát chúng với nhau? Đặt những que tre xuống đất thì liệu lửa có bùng lên? Chỉ khi bạn chà xát chúng cho đến khi  đủ các điều kiện để chúng bốc cháy thì bạn mới có lửa. Tương tự như vậy, thực hành vipassanā sammādiṭṭhi và quan sát các hiện tượng sinh diệt cho đến khi sinh diệt chấm dứt thì Niết Bàn xuất hiện.

Chà xát hai que tre tạm thời chưa có lửa, lửa xuất hiện vì công sức của người chà tre. Đây là ngọn lửa không đến từ ba thời kỳ. Đối với vua của cõi Trời, phương tiện di chuyển của vị ấy không tự động xuất hiện. Vị vua ấy, mặc áo bào trắng, giữ gìn năm giới và phóng hào quang hướng đến tất cả, rồi cỗ xe xuất hiện trên bầu trời. Chỉ khi nhà vua thực hành các hạnh công đức thì cỗ xe mới xuất hiện.

Tương tự như vậy, thực hành pháp giúp bạn đến được Niết Bàn. Chỉ với mong ước Niết Bàn thì sẽ không có kết quả, chỉ khiến người khác mỉm cười. Hãy coi đó là điều đáng xấu hổ. Trước đây bạn không biết, bạn nghĩ rằng Niết Bàn là thứ có thể ước ao được. Bây giờ bạn biết rằng bạn phải thực hành.

Niết Bàn có tồn tại hay không? Nó ở đó. Với vipassanā sammādiṭṭhi, hãy luyện tập chăm chỉ và tinh tấn. Nỗ lực quan sát không ngừng nghỉ sự sinh diệt của các uẩn, đầu tiên quan sát về sự sinh diệt, sau đó trí tuệ hướng đến sự chấm dứt của sinh diệt. Lúc đầu là chánh kiến về vipassanā, sau đó được phát triển và hướng đến kết thúc sinh diệt, cuối cùng không còn sinh khởi, không còn đoạn diệt.

Từ sinh diệt hướng đến không sinh diệt, đây là sự giác ngộ Niết Bàn. Bạn phải nhớ rằng không có sinh diệt thì không có khổ đau. Diệt đế là Niết Bàn, Niết Bàn là một thị trấn, một thành phố hay là sự chấm dứt của sinh diệt? Biết sự chấm dứt của sinh diệt là Đạo tuệ, bạn phải thực hành để trí tuệ vipassanā phát triển lên tầm cao hơn.

Không cần phải suy đoán bạn đã đạt đến giai đoạn nào, điều này không giống như leo cầu thang. Khi bạn leo cầu thang, bạn nói rằng bạn đã đến bước thứ bảy hoặc thứ mười sáu. Nhưng đối với tuệ minh sát, bạn không thể phân biệt được chúng. Các tuệ minh sát được đề cập tới trong Vô Ngại Giải Đạo (paṭisambhidā) được ngài Sariputta miêu tả bằng bốn tuệ phân tích của ngài. Khi tuệ minh sát được phát triển đầy đủ, nó sẽ đột ngột chuyển hướng về Đạo tuệ, như ngài Nāgasena nói. Đối tượng của trí tuệ minh sát là sinh diệt, đối tượng của Đạo tuệ là sự biến mất của sinh diệt. Trong khi quan sát về sinh diệt, trí tuệ hướng đến nơi không có sinh diệt. Đây là tuệ minh sát tiến đến Đạo tuệ, đây là câu trả lời do ngài Nāgasena miêu tả cho đức vua Millinda.

Sư Chân Thiện dịch

Pháp thoại với U-Pe-Win

U Pe Win: Thưa ngài, con là một tín đồ của đức tin khác. Con đã đặt câu hỏi về những điều con nghi ngờ tới nhiều người từ các tôn giáo khác nhau, nhưng chưa ai đưa ra câu trả lời đủ để làm con hài lòng. Từ những gì được nghe, con biết rằng Phật giáo dạy về giới đức. Khi con đến phương Tây, con đã thảo luận về tôn giáo, chính trị, kinh tế với giới tinh hoa đến từ những nước phát triển. Theo đức tin của họ, không bao giờ có thể đạt được thành tựu trọn vẹn khi con người thực hành, Niết Bàn không thể đạt được.

Đối với họ, niềm tin là chính. Chỉ có niềm tin vào Đức Chúa Trời của họ thì mới được cứu rỗi và Thiên Đàng sẽ đạt được. Điều con muốn hỏi ngài là liệu con người có thể đạt được Niết Bàn thông qua thực hành không, và Thiên Đàng có thể đạt được bằng cách thức như đã ghi trong Kinh Thánh không? Con người có thể thực hành tới mức độ nào? Thực hành được là rất tốt, nhưng ở trên đời tâm bất thiện chiếm ưu thế. Xin ngài hãy giải thích để con có thể hiểu được.

Sayadaw: Tôi sẽ giải thích, hãy lắng nghe. Thực tế mà nói, có đức tin thì mới tin vào người khác và có niềm tin vào chính mình. Khi nói ‘người khác’, đó không ai khác chính là ‘Chúa’ mà mọi người đều tin tưởng hoặc tôn kính, cũng như các nhà sư đang được tôn kính tại các ngôi làng. Vì vậy niềm tin này kết thúc ở nơi người khác. Nếu bạn nói “Thượng đế vĩnh cửu”, thì điều này kết thúc bằng “Thượng đế vĩnh cửu”. Bởi vì bạn có đức tin nơi Ngài, dù tốt hay xấu, đều kết thúc ở Ngài, sự khôn ngoan của chính bạn không có ở đó. Chúng kết thúc bằng những gì đã được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Sẽ tốt hơn nếu bạn thực sự biết điều đó và nói ra điều đó.

Nếu anh ta không biết rõ và anh ta đang nói từ trí tưởng tượng, thì trí tuệ của bạn sẽ kết thúc ở miệng của anh ta. Trí tuệ của bạn không vượt quá những gì anh ta nói. Con đường của bạn kết thúc với những kiến thức ít ỏi mà anh ta có. Thậm chí nếu bạn không biết những gì anh ta biết, thì cuối cùng bạn biết ít hơn anh ta.

Đức Phật không thích tin vào người khác. Chỉ với niềm tin thôi là chưa đủ, hãy lưu ý rằng niềm tin kết thúc ở miệng của người khác. Nó không được phân tích xem đây là miệng tốt hay miệng xấu. Không phân tích có nghĩa là bạn là người không khôn ngoan, thiếu hiểu biết.  

U Pe Win: Thưa ngài, từ những gì con biết, Đức Chúa Trời của họ nói: “Hãy hoàn toàn tin tưởng vào tôi. Nếu bạn hoàn toàn tin tưởng vào tôi, thì tôi sẽ cứu bạn.”

Sayadaw: Điều này là thông qua trí tuệ của chính bạn hay từ việc nghe người khác nói?

U Pe Win: Nghe từ người khác nói, thưa ngài.

Sayadaw: Những suy nghĩ của riêng bạn có thông qua trí tuệ của chính bạn không?

U Pe Win: Không, thưa ngài.

Sayadaw: Do đó bạn kết thúc ở cái miệng của người khác.

U Pe Win: Thưa ngài, vậy thì làm thế nào để biết là đúng?

Sayadaw: Với kiến thức của riêng bạn, hãy nhìn vào các uẩn của chính bạn. Sau đó hãy tự quyết định điều gì đang xảy ra với mình. Chỉ khi bạn tự mình biết và tin vào điều đó thì sự thật mới đạt được. Tin những gì người khác nói, bạn sẽ không đạt được sự thật. Hãy để tôi hỏi bạn, nếu bạn muốn làm điều gì đó, tin những gì người khác nói và tin sau khi bạn đã tự mình kiểm tra, bạn sẽ tin vào điều nào?

U Pe Win: Con sẽ tin tưởng vào những gì đã tự mình kiểm tra, thưa ngài.

Sayadaw: Sau đó, nảy sinh một vấn đề. Nếu thầy của bạn không hướng dẫn bạn, bạn sẽ làm gì? Có hai loại giáo viên, giáo viên dạy đúng và giáo viên dạy sai. Hãy tự mình phân tích điều mà giáo viên của bạn đã dạy. Cho dù giáo viên của bạn dạy điều gì đó đúng hay sai, hãy tìm hiểu và kiểm tra điều đó với thân tâm của bạn. Chấp nhận những gì đến cùng với thân tâm như nó đang là. Lời dạy ở đó và bạn phải kiểm tra chính mình. Chỉ khi nó cân bằng, hãy chấp nhận điều đó. Bạn có hiểu không?

U Pe Win: Thưa ngài, con hiểu. Họ cho con ví dụ, đối với người Miến Điện, đó là Niết Bàn, trong Thiên chúa giáo đó là Thiên Đường. Cũng như bờ biển bên này và bờ biển bên kia. Bên này là thế gian, bên kia là xuất thế gian. Có một người cố gắng bơi để vượt qua biển. Chúng con là những người đang cố gắng bơi qua biển, những người giữ giới là những người cố gắng bơi qua biển. Họ nói rằng người đang cố gắng bơi qua biển sẽ không thể sang đến bờ bên kia nếu không có sự giúp đỡ. Đức Chúa Trời của họ nói rằng tin Ngài giống như đang ở trên một chiếc bè và chắc chắn sẽ đưa họ đến bờ bên kia. Nếu tự mình thực hành theo Phật Giáo, và bơi qua biển, không có nghĩa là sẽ thành công.

Sayadaw: Trong tai của chúng ta, của bạn và của tôi, điều này có thể đúng. Bạn nhận lấy chiếc bè mà Ngài có thể ban cho bạn. Bạn có thể cưỡi bè của Ngài chỉ với đức tin. Bạn hỏi họ sử dụng cái gì, và họ trả lời rằng sử dụng cái bè siêu năng lực của Ngài. Với chiếc bè đến từ siêu năng lực này, bạn sẽ đến được bờ bên kia.

U Pe Win: Đó là bởi vì họ tin vào sự sáng tạo, thưa ngài.

Sayadaw: Nếu Ngài có thể tạo ra con người, tại sao Ngài không thể giúp tất cả con người lên Thiên đàng?

U Pe Win: Đức Chúa Trời tạo ra con người, và nói rằng nếu chúng ta tin Ngài, thì chúng ta sẽ rất dễ dàng để lên được Thiên đàng. Họ nói rằng trong Phật Giáo không đề cập đến việc con người được đưa đến bờ bên kia bởi Đức Phật. Nếu phải tự mình luyện tập thì làm sao có thể bơi qua biển cả bao la. Vì vậy họ cho rằng đức tin của họ rất đáng tin cậy.

Sayadaw: Được rồi, để tôn giáo và đức tin của họ sang một bên, chúng ta sẽ kiểm tra chúng. Tôi giả sử rằng nếu có đức tin nơi Ngài, thì Ngài có thể cứu chúng ta khỏi mọi sự nhưng Ngài không thể cứu những người không có đức tin nơi Ngài. Ngài không thể làm gì đối với những người không có đức tin nơi Ngài, nghĩa là Ngài sẽ bỏ qua họ? Sau đó, nếu Ngài bỏ qua những người này, thì Ngài có lòng từ bi thật sự với tất cả mọi người không?

U Pe Win: Thưa ngài, con đã hỏi họ. Họ nói, chất độc dù được uống bởi những người biết nó và những người không biết nó đều gây ra cái chết. Những người không có niềm tin giống như những người đang uống thuốc độc, nên sẽ không được cứu. Theo quan điểm của họ, cho dù họ có thể phạm tội như thế nào, thì cũng giống như cha mẹ luôn tha thứ cho con cái. Làm sao Đức Chúa Trời tạo ra họ lại không tha thứ cho họ? Đức Chúa Trời tha thứ cho tội nhân nếu tội nhân ăn năn tội lỗi của mình một cách đúng đắn.

Sayadaw: Chúng ta hãy làm sáng tỏ quan điểm này. Điều này có nghĩa là nếu gần chết một người nhớ lại các tội lỗi, thì tội lỗi sẽ được tha thứ và có quả báo tốt?

U Pe Win: Vâng thưa ngài.

Sayadaw: Trong đức tin của chúng tôi, khi một người gần đến cái chết, dù có tin Đức Phật hay không, anh ta đều nhìn thấy con đường mình sắp đi. Người sắp đoạ địa ngục nhìn thấy lửa địa ngục, người trở thành ngạ quỷ nhìn thấy khu rừng, đồi núi, vách đá. Người này không thể thay đổi những hình ảnh đó bằng bất cứ cách nào. Không ai có thể cứu người này, anh ta đang kiệt sức. Trước khi chết anh ta nhìn thấy những thứ này, nếu bạn không tin hãy để ý những người sắp chết. Nếu một người đã làm điều ác trong cuộc đời của mình, lúc sắp chết nước mắt sẽ chảy ra trên khuân mặt người đó. Vặn đi xoay lại, cho dù không thể chịu nổi nhưng anh ta không thể thay đổi được. Những điều anh ta đã làm đã sai, anh ta chắc chắn sẽ phải đi con đường đó. Giờ thì anh ta đã biết con đường mình phải đi nhưng lúc này không còn ai cứu được anh ta nữa. Anh ta muốn để lại những lời nhắn nhưng không còn thời gian để nói, đây là những gì Đức Phật đã dạy chúng tôi.

Tôi có thể dẫn chứng từ nhiều bài kinh. Một người có cuộc sống hạnh phúc khi gần chết sẽ thấy những dấu hiệu hạnh phúc. Những người rơi xuống các cõi khổ sẽ nhìn thấy các dấu hiệu đáng sợ. Tôi sẽ giải thích tại sao người này không thể nhớ bất cứ ai vào thời điểm này. Đó là do các tâm cận tử. Sau tâm tử, thức tái sinh sinh khởi trong kiếp sống mới. Tại thời điểm đó thậm chí Đức Phật cũng không thể ra tay cứu giúp.

Tâm lúc hấp hối sẽ nhìn thấy con đường sắp đi. Nếu những việc tốt đã được thực hiện trong cuộc sống, tâm sẽ nhìn thấy con đường tốt sắp đi, nếu những việc ác đã được thực hiện, tâm sẽ thấy con đường đáng sợ sắp đến. Sau khi nhìn thấy những thứ này, cái chết sẽ đến. Đây có phải là lúc mà người ta có thể cầu xin sự tha thứ không? Không phải lúc. Như vậy theo quan điểm của họ, cho rằng sau khi làm các việc ác ở đời, và ăn năn ngay trước khi chết, thì vẫn có thể được cứu rỗi. Hãy suy nghĩ về điều này một cách cẩn thận, liệu có khả năng thành công không?

Sau khi nhìn thấy năm tâm đổng lực khi hấp hối, người làm điều tốt sẽ được tái sinh ở cảnh giới tốt. Có một loại niềm tin, tin những gì người khác nói. Có một loại niềm tin khác, tin tưởng sau khi sau khi đã tự mình kiểm tra điều đó. Cái nào nên được tin tưởng hơn?

U Pe Win: Điều đã được thử nghiệm rồi mới tin là đúng, thưa ngài.

Sayadaw: Đúng, Đức Phật chỉ hướng dẫn điều này, Ngài không phải là một vị cứu tinh. Ngài là thầy thuốc hướng dẫn chúng ta, nếu bạn uống thuốc mà tôi cho bạn, bạn sẽ khỏi bệnh. Bạn không thể được chữa khỏi chỉ bằng cách thốt lên “hãy chữa khỏi bệnh”. Đây là sự khác biệt lớn. Đức Chúa Trời là người chữa bệnh bằng đức tin, còn Đức Phật là một thầy thuốc. Tôi sẽ cho bạn thuốc, hãy dùng nó và sẽ được chữa trị. Đối với những người bị chứng khó tiêu, thuốc tiêu hoá sẽ được dùng. Ai đang bị tiêu chảy thì dùng thuốc tiêu chảy. Chỉ nói rằng “hãy có cách chữa trị”, thì không có cách chữa trị nào cả. Đối với người bị rắn cắn, cần phải tiêm huyết thanh ngay, nếu chỉ nói “được chữa khỏi” sẽ không có ích gì.

Họ nói họ sẽ đến Thiên đàng, chúng tôi cũng phải nói rằng chúng tôi sẽ đạt được Niết Bàn. Họ được đưa đến Thiên đàng trên một chiếc bè do Đức Chúa Trời vĩnh cửu làm nên. Đối với chúng tôi không giống như vậy. Chúng tôi sẽ phải tự làm chiếc bè, và phải băng qua đại dương bằng chiếc bè do chính chúng tôi làm ra. Tuổi già, bệnh tật, cái chết có thể tránh được hay không?

U Pe Win: Thưa ngài, không thể tránh khỏi.

Sayadaw: Bây giờ chúng ta đang ở trên con đường mà không thể tránh khỏi, vậy thì có con đường khác nào  ngoài con đường này không? Nếu có một con đường già, bệnh, chết thì phải có một con đường không già, không bệnh, không chết. Có bệnh thì phải có thuốc chữa. Đức Phật đã chỉ cho chúng ta hai con đường, ngoài con đường già, bệnh, chết còn có một con đường khác không có già, không có bệnh và không có cái chết.

Các uẩn này thường xuyên bị giày vò bởi sự già nua, ốm yếu và cái chết. Tuy nhiên những ai mong muốn sau cuộc sống này có một cuộc sống khác mang lại hạnh phúc hơn, như những người đàn ông giàu có hay những vị thần sức mạnh, thì họ đang đi trên con đường mà ở đó có sự già, bệnh và cái chết tồn tại. Những ai không dính mắc vào các uẩn này sẽ không đi theo con đường mà ở đó có sự già, bệnh tật, và cái chết tồn tại. Dính mắc với các uẩn này, bạn sẽ thích nó nếu bạn có, và mong muốn trong kiếp sau các uẩn sẽ tốt hơn. Nếu vậy, các uẩn trong kiếp sau vẫn sẽ là năm uẩn. Những gì bạn có bây giờ cũng là các uẩn, tất cả các uẩn đều là già, bệnh và chết. Các uẩn là con đường của lão hoá, bệnh tật và cái chết, không có các uẩn là con đường không có già, bệnh và chết. Có hai con đường, bạn chọn con đường nào?

U Pe Win: Thưa ngài, con chọn con đường không có già, bệnh và chết.

Sayadaw: Tôi thích điều đó. Quyết định của bạn sẽ dẫn đến biết được Pháp giác ngộ trong đời sống này. Cho dù một người có thể giàu sang đến đâu trong cuộc sống này, nếu người đó không biết đường đi, thì các uẩn không trở nên ít đi. Sau đó người này sẽ bị già, bệnh và chết. Bây giờ bạn đến để không thích già, bệnh, chết, nhưng bạn vẫn đang già đi, bệnh tật và sẽ chết. Bạn phải sợ hãi. Bây giờ tôi biết bạn muốn đi con đường nào, dù cho bạn đang sống trong một ngôi biệt thự mạ vàng, nhưng nếu đó là con đường có sự già nua, bệnh tật, chết chóc thì bạn cũng không muốn.

Con đường của già nua, bệnh tật và cái chết là con đường của tà kiến (micchadiṭṭhi). Ngược lại là con đường không có già nua, không có bệnh tật, không có cái chết, là con đường của chánh kiến (sammādiṭṭhi). Con đường tà kiến sẽ dẫn đến già, bệnh và chết, con đường chánh kiến là con đường tự do khỏi những điều này.

Người nào dính mắc vào các uẩn này, khi chết sẽ ném xuống các uẩn này, nhưng sẽ phải chịu gánh nặng của các uẩn khác. Rồi anh ta tiếp tục gặp lại sự già nua, bệnh tật, chết chóc. Người nào không dính mắc vào các uẩn hiện tại sẽ không có các uẩn trong tương lai. Hãy hỏi tôi cách không dính mắc vào các uẩn hiện tại. Khi đó bạn sẽ không bị già nua, bệnh tật, chết chóc. Con đường không thoát khỏi già, bệnh, chết gắn liền với các uẩn hiện tại. Mong muốn về các uẩn tương lai tốt hơn các uẩn hiện tại, người như vậy có hai loại tham ái (taṇhā). Người nào có hai loại tham ái này sẽ bị già, bệnh, chết trong sự hiện hữu ở tương lai. Không dính mắc vào các uẩn hiện tại sẽ không dính mắc vào các uẩn tương lai. Người nào biết năm uẩn là già, bệnh, chết sẽ không bị già, bệnh, chết nữa.

Khi được hỏi ai tạo ra các uẩn già, bệnh, chết này, sẽ không có Thượng đế. Chúng được tạo ra bởi tham ái, bởi vì có tham ái nên có các uẩn già, bệnh và chết. Bây giờ thủ phạm đã được tìm thấy. Đó không phải là Thượng Đế vĩnh cửu, cũng không phải là Đức Phật tạo ra sự già nua, ốm yếu, chết chóc. Tham ái được gắn vào các uẩn và tạo ra chúng. Vậy con đường kết thúc ở miệng của người khác hay do chính bạn nhận ra? Bạn tin vào những gì người khác nói hay chính bạn nhận ra? Tự mình nhận ra là kiến thức paccakkha. Còn ham muốn về các uẩn thì còn tạo ra già, bệnh, chết. Làm cho ham muốn của bạn không còn nữa sẽ dẫn đến tự do khỏi già, bệnh, chết. Vì vậy thoát khỏi ham muốn là quan trọng nhất. Bây giờ bạn đã hiểu điều này chưa?

U Pe Win: Thưa ngài con đã hiểu.

Sayadaw: Nếu bạn hiểu điều này, bạn đang bắt đầu hiểu sự thật (sacca), bạn phải nhớ rằng nguyên nhân của đau khổ (samudaya sacca) cần phải được thoát khỏi. Sự thật của samudaya sacca là ái (taṇhā), khi ái bị cắt đứt, công việc của bạn sẽ xong. Bây giờ bạn có tin rằng cắt bỏ sự thèm muốn sẽ giúp hoàn thành nhiệm vụ của bạn không? Đừng tin những gì Thượng Đế nói, đừng tin những gì Đức Phật nói. Hãy quyết định bằng chính mình, sau đó tin vào điều đó. Cái nào tồn tại lâu hơn, đau khổ do hận thù hay đau khổ do dính mắc?

U Pe Win: Thưa ngài, đau khổ do dính mắc tồn tại lâu hơn.

Sayadaw: Đúng vậy, khi sân hận, bạn bỏ đi, nhưng khi dính mắc bạn không thể cắt bỏ. Không thể cắt bỏ là do tham ái nằm phía sau nó. Không thoát khỏi tham ái, sẽ có các uẩn. Chỉ khi không dính mắc vào các uẩn thì bạn mới không mệt mỏi với các uẩn này. Bạn cho các uẩn này ăn vừa đủ để nó tiếp tục. Biết rằng các uẩn trong tương lai cũng sẽ dẫn đến già, bệnh, chết, liệu bạn còn mong muốn điều đó không?

U Pe Win: Thưa ngài, con sẽ không mong muốn chúng nữa.

Sayadaw: Không còn mong muốn thì bạn còn thực hiện những điều ước thông thường nữa không?

U Pe Win: Thưa ngài con sẽ không thực hiện những mong muốn thông thường.

Sayadaw: Không có mong muốn, bạn cần thực hành để đạt được điều đó. Bạn phải thực hành. Bạn bị lở loét và những người khác nói “hãy  chữa khỏi bệnh” sẽ không giúp bạn chữa khỏi. Bạn phải sử dụng đúng toa thuốc, rồi sẽ có thuốc chữa. Do đó phải dựa vào chính bản thân bạn. Thời Đức Phật có tỳ khưu Vakkali, người ngưỡng mộ Đức Phật đến nỗi không rời khỏi Đức Phật. Đức Phật nói với vị ấy rằng không được ở gần Ngài nữa vì làm như vậy sẽ không có kết quả. Đức Phật đuổi vị ấy đi và yêu cầu vị ấy phải tự mình thực hành.

U Pe Win: Thưa ngài, con có thể hỏi ngài một câu hỏi được không?

Sayadaw: Hãy hỏi đi.

U Pe Win: Con muốn biết liệu con có thể đạt được giải thoát thông qua thực hành không, thưa ngài?

Sayadaw: Để biết được điều này, bạn cần phải thực hành. Không thực hành, điều này không thể đạt được. Để được giải thoát, không chỉ thực hành một lần, mà bạn phải tập đi tập lại vô số lần. Bạn cứ tiếp tục như vậy cho đến khi bạn trở thành một chuyên gia. Hãy nghĩ về việc bạn lái xe ô tô. Nếu bạn không tập lái, không thực hiện đúng cách thì bạn không thể lái được xe ô tô. Nếu ai đó đã tập lái tốt, thì khi bắt đầu lái xe anh ta có thể lái được ngay lập tức. Chỉ khi nào chưa làm tốt bạn mới phải tập đi tập lại, nhưng khi công việc của bạn đã hoàn thành, bạn không cần phải luyện tập thêm. Khi đó, bạn có cần phải luyện tập thêm không?

U Pe Win: Thưa ngài, không.

Sayadaw: Trong số những người thực hành, người có trí tuệ sắc bén có thể nhận ra sự thật ngay khi thực hành chỉ một lần. Nhưng người không có trí tuệ sắc bén phải thực hành nhiều lần. Điều này tuỳ theo sức mạnh của trí tuệ. Tất cả những người thực hành đều không thể mong đợi điều tương tự.

Họ nói rằng thực hành là không thể, Niết Bàn không thể đạt được thông qua thực hành. Họ nói rằng họ có thể đến Thiên đường chỉ nhờ sự cứu rỗi. Hãy suy nghĩ về điều đó. Bạn đang dựa vào những gì người khác nói, nỗ lực của chính bạn có ở đó không? Bạn có cuộc sống thịnh vượng, bạn được tôn trọng. Sự thịnh vượng của bạn là do người khác trao cho bạn hay bạn đã phải làm việc để có được điều đó?

U Pe Win: Con thịnh vượng vì con đã làm việc cho điều đó.

Sayadaw: Bạn có tin vào sự cứu rỗi mà người khác nói với bạn không? Nếu Ngài có thể đến cứu bạn, Ngài sẽ giúp bạn thoát khỏi cảnh nghèo khổ. Ngài sẽ chữa khỏi bệnh cho bạn. Ngài sẽ cứu bạn thoát khỏi già, bệnh, chết. Khi đó mới có thể nói rằng Ngài cứu bạn. Nhưng liệu Ngài có thể ngăn chặn sự già nua, bệnh tật, cái chết trong bạn không, để không còn sự già, không còn bệnh tật và cái chết không đến với bạn nữa. Nếu không thì Ngài không có quyền năng để cứu người người khác.

U Pe Win: Nhưng thưa ngài, liệu con người có thể tuân theo phương pháp mà Đức Phật đã hướng dẫn không? Nếu con người không thể thực hành, thì nói về thực hành cũng chẳng lợi ích gì.

Sayadaw: Có hai cách thực hành, thực hành pháp thế gian và thực hành pháp siêu thế. Bạn đã học tập bao nhiêu năm để lấy được bằng cử nhân. Đối với người có trình độ dân trí cao, họ phải học tập trong khoảng mười bốn năm. Bạn đã học đi học lại để không quên kiến thức. Điều này xảy ra vì bạn nói “hãy để điều này xảy ra” hay bạn đạt được vì bạn đã làm việc nỗ lực cho điều đó? Chỉ khi bạn làm việc chăm chỉ, bạn mới sở hữu được những điều như vậy. Bạn học và làm cho công việc thế gian như thế nào thì bạn cũng phải thực hành giáo pháp giống như vậy.

U Pe Win: Thưa ngài, đây là điều con muốn biết. Con đã suy nghĩ khoảng một năm về việc thực hành. Con nghĩ rằng mình không bao giờ có thể đạt được với khả năng của chính mình. Học tập lấy được bằng cử nhân, nhưng nếu chúng ta thực hành, tại sao chúng ta lại không thể đạt được? Con muốn biết điều này rõ ràng.

Sayadaw: Tôi sẽ giải thích điều này theo một cách khác. Bạn lấy bằng cử nhân và bằng thạc sĩ, bạn làm việc với người nước ngoài, bạn hiểu ngôn ngữ của họ. Bạn không cần phải cố gắng nhiều hơn cho ngôn ngữ Miến Điện vì đây là ngôn ngữ của tổ tiên bạn. Khi mới sinh ra, trước tiên cha mẹ bạn sẽ dạy bạn rằng, đây là cha, đây là mẹ, ăn cơm trước, uống nước sau. Sau đó trở thành thói quen. Trong mọi công việc đều phải có sự luyện tập. Có một loại thực hành do cha mẹ dạy, có một loại thực hành khác do Đức Phật dạy. Người được cha mẹ dạy dỗ thì không thoát khỏi già, bệnh và chết, còn người được Đức Phật dạy thì tự do khỏi già, bệnh và chết. Vì vậy bạn phải thực hành theo cách để thoát khỏi những điều đó.

U Pe Win: Thưa ngài, điều con đang muốn nói là tất cả mọi người đều đang thực hành, nhưng Niết Bàn không thể đạt được. Cuối cùng thì nó vẫn nằm ngoài tầm với. Con đường thực sự ở đó, chúng con đều đi trên hành trình đó, nhưng không thể đến được điểm cuối cùng của hành trình. Đây là giả định của con, thưa ngài.

Sayadaw: Đừng tư duy theo cách này, nó không giống như vậy. Giữa Đức Phật hiện tại và Đức Phật kế tiếp, bề mặt trái đất sẽ dày thêm một do tuần (yojana). Nếu trái đất không bị phá huỷ, bề mặt trái đất sẽ tăng thêm 13 dặm. Nó không phải là rất cao? Một người muốn trở thành một vị Phật phải thực hành cho đến khi bề mặt trái đất tăng lên 13 dặm. Bạn không nghĩ đến việc trở thành một vị Phật và chỉ muốn thoát khỏi sự già, bệnh, chết thì nếu bạn bắt đầu thực hành vào buổi sáng, bạn thậm chí có thể đạt được giải thoát vào buổi tối. Tôi chỉ nói điều này một cách ngắn gọn. Đức Phật thực hành vì Ngài muốn cứu độ chúng sinh nên Ngài phải mất nhiều thời gian cho việc thực hành. Nhưng đối với chúng ta, thực hành chỉ để thoát khỏi đau khổ, do đó không mất nhiều thời gian.

U Pe Win: Vâng thưa ngài, việc cố gắng giải thoát cho chính mình sẽ dễ dàng hơn. Cần nhiều thời gian hơn để trở thành một vị Phật và hướng dẫn người khác tự cứu bản thân họ.

Sayadaw: Đúng vậy, điều này phụ thuộc vào mục đích. Đối với người đã có bằng cử nhân, lấy bằng thạc sĩ cần phải học thêm hai năm, để giúp cho người đó có vị trí cao trong xã hội. Đối với hạnh phúc của riêng bạn, bạn sẽ không mất nhiều thời gian, nhưng để hướng dẫn và giúp đỡ người khác, bạn sẽ mất nhiều thời gian hơn.

U Pe Win: Đây là điều quan trọng với con, thưa ngài. Mục đích của con không phải là cứu vớt những người khác.

Sayadaw: Bạn bắt đầu thực hành vào buổi chiều và có thể được giải thoát vào sáng hôm sau, sau đó bạn sẽ đi trên con đường không có già, bệnh, chết. Nhưng trước đó bạn phải bắt được thủ phạm và loại bỏ thủ phạm này. Nếu bạn dính mắc vào các uẩn hiện tại, hoặc bạn mong muốn cho các uẩn ở tương lai, thì tiến trình của các uẩn sẽ tiếp tục. Không mong muốn các uẩn trong hiện tại thì sẽ không mong muốn các uẩn trong tương lai. Có như vậy thì kiếp này mới xong nhiệm vụ.

Bây giờ bạn đã tìm ra thủ phạm, đó chính là tham ái. Bạn sẽ thoát khỏi thủ phạm này nhưng bạn không thể đột ngột xua đuổi chúng. Chúng sẽ bào chữa. Trước khi bạn tìm ra thủ phạm, điều này không hề dễ dàng. Bạn muốn hơ nóng da của mình gần lửa vì có vết loét. Khi vết loét được chữa khỏi, bạn không còn muốn hơ nóng nữa. Tất cả những gì tôi phải làm bây giờ là kê cho bạn một toa thuốc để chữa khỏi vết loét, nhiệm vụ của là phải tự dùng thuốc. Bạn còn bố mẹ không?

U Pe Win: Thưa ngài, không.

Sayadaw: Bạn đã không thể cứu được họ. Là vì bạn không thương yêu họ hay bạn phải để họ ra đi mặc dù bạn yêu thương họ?

U Pe Win: Con đã phải để họ ra đi mặc dù con rất yêu thương họ.

Sayadaw: Không có gì trên thế giới có thể cứu chúng ta thoát khỏi già, bệnh, chết. Điều này chỉ tồn tại bên ngoài thế giới. Chúng ta phải đến nơi không có già, bệnh, chết. Nếu có nóng và lạnh, có bóng tối và ánh sáng, có mùa đông và mùa hè, có già, bệnh, chết thì cũng sẽ có không già, không bệnh, không chết. Đây là quy luật của tự nhiên. Điều gì tạo nên già, bệnh, chết? Tham ái (taṇhā) mong muốn các uẩn trong tương lai, và thực hiện nó. Vì vậy hãy nhổ tận gốc dễ tham ái, để loại bỏ thủ phạm của già nua, bệnh tật và chết chóc, và đi đến siêu thế gian, nơi không còn những thứ này.

Để thoát khỏi tham ái, chúng ta hãy quay trở lại pháp mà chúng ta đã thảo luận. Năm uẩn được chia làm danh uẩn và sắc uẩn. Hãy đi đến một nơi vắng vẻ, nơi bạn không còn nghe thấy tiếng con trai và con gái của bạn, rồi thực hành quan sát các uẩn. Quan sát trên tâm và quan sát trên thân. Hãy quan sát và chấp nhận những gì các uẩn nói cho bạn là đúng, hãy tin điều gì đó chỉ khi bạn tận mắt chứng kiến. Tôi đang cung cấp cho bạn phương pháp, đó là phương pháp của Đức Phật. Nhưng khi bạn thực hành, bạn phải phát triển quan điểm của chính mình. Bạn cần phát triển những gì? Quan sát các uẩn, trong các uẩn chỉ có thân và tâm. Quan sát hai thứ này, bạn sẽ thấy rằng tâm muốn ăn sinh khởi, tâm muốn ngủ sinh khởi, rồi muốn nói, muốn đi đây đó,… Tâm thường xuyên thay đổi đúng không?

U Pe Win: Đúng vậy, thưa ngài.

Sayadaw: Khi chúng ta nói tâm thay đổi, có nghĩa là một tâm vừa mất đi, và ngay sau đó một tâm mới xuất hiện. Không có hai tâm nào có thể sinh khởi đồng thời. Vậy bạn có quản lý được tâm của mình không?

U Pe Win: Con không thể, thưa ngài.

Sayadaw: Đừng sống chung với thứ mà không thể quản lý được. Nếu bạn sống chung với nó, bạn sẽ luôn đau khổ. Biết rằng không thể điều khiển được tâm của mình, nên bạn hiểu rằng việc ở lâu với tâm này là vô ích. Trong Phật giáo điều này gọi là vô ngã. Bạn sẽ tiếp tục bị hành hạ cho đến khi bạn có thể quản lý được. Chúng không chỉ ra lệnh cho bạn ngồi, chúng cũng sẽ ra lệnh cho bạn đứng, bạn đi, bạn khóc và ra lệnh cho bạn chết.

Vì vậy bạn cần phải chinh phục chúng, chúng thì vô dụng. Một khi bạn biết rằng chúng đang hành hạ bạn, bạn sẽ chán gét thân tâm này, bạn không còn muốn nó nữa. Bạn không muốn tâm này chút nào nữa. Tôi sẽ cho bạn biết như thế nào cơ thể vật lý này không được mong muốn. Bạn sẽ phải cố gắng không mong muốn cả hai, thân và tâm, cả hai kết hợp lại cho ra năm uẩn. Bây giờ bạn đang ngồi, bạn không thể yêu cầu cơ thể mình không di chuyển, không được thay đổi vị trí. Sẽ có cảm giác tê, cứng. Liệu cơ thể có tuân theo mệnh lệnh của bạn, có duy trì theo cách mà bạn muốn không?

U Pe Win: Không, thưa ngài.

Sayadaw: Nếu cơ thể không tuân theo cách bạn muốn, thì bạn có sở hữu nó không? Vậy thì thân tâm này có phải là điềm lành không, khi mà phải sống chung với thứ mà bạn không sở hữu?

Yogi: Không phải thưa ngài.

Sayadaw: Yêu mến năm uẩn, liệu các uẩn trong tương lai có được như mong muốn không?

U Pe Win: Không, thưa ngài.

Sayadaw: Không còn ham muốn thân tâm này, bạn sẽ không đạt được chúng. Hai thứ này đi kèm với già, bệnh và chết. Không có được chúng, bạn sẽ thoát khỏi già, bệnh và chết. Hãy thực hành, đừng dừng lại ở trước miệng của người khác. Hãy tự bản thân mình thực hành. Nếu bạn nhận ra bằng chính kinh nghiệm của riêng mình, thì công việc của bạn đã xong.

Sau đó U Pe Win trở thành một nam cư sĩ, nghiên cứu kinh điển Pali, thực hành vipassanā và đóng góp cho việc truyền bá giáo pháp của Đức Phật.

Sư Chân Thiện dịch

Thái độ đúng đắn

Thái độ đúng đắn (Yoniso manāsikāra-Như lý tác ý)

Thư giãn và chánh niệm là những điểm cốt yếu, song có thái độ hành thiền đúng đắn và biết đặt tâm mình trong một khuôn khổ thích hợp cũng là điều rất quan trọng. Thái độ đúng đắn nghĩa là gì? Thái độ đúng đắn là một cách nhìn nhận sự việc, sao cho bạn luôn cảm thấy bằng lòng, tri túc-biết đủ, thoải mái và dễ chịu với bất cứ điều gì bạn đang trải nghiệm. Những quan kiến sai trái (tà kiến), những thông tin lệch lạc hay sự dốt nát, thiếu hiểu biết về những phiền não đang có trong mình sẽ có ảnh hưởng xấu đến thái độ của bạn.

Tất cả chúng ta đều có những thái độ sai lầm; bởi chúng ta không thể không có chúng. Vì vậy, đừng cố để có được thái độ đúng đắn ngay lập tức, mà thay vào đó bạn hãy cố gắng nhìn nhận rõ xem: mình đang có thái độ đúng đắn hay sai lầm. Biết mình đang có thái độ đúng đắn là điều quan trọng, song nhận rõ và thẩm nghiệm, xem xét những thái độ sai lầm của mình còn quan trọng hơn. Hãy cố gắng hiểu rõ hơn về những thái độ sai lầm của mình; phát hiện xem chúng ảnh hưởng đến sự thực hành của mình như thế nào, chúng khiến mình cảm nhận ra sao. Do vậy, bạn hãy luôn quan sát bản thân mình, luôn nhìn lại và kiểm tra xem mình đang thực hành với thái độ như thế nào.

Có thái độ đúng sẽ giúp bạn chấp nhận, hay biết và quan sát bất cứ điều gì đang diễn ra, một cách thư giãn và tỉnh thức – dù nó là dễ chịu hay khó chịu. Bạn phải chấp nhận và quan sát cả kinh nghiệm tốt lẫn kinh nghiệm xấu. Mọi đối tượng, mọi kinh nghiệm dù tốt hay xấu, đều đem lại cho bạn cơ hội học hỏi, để biết tâm mình có chấp nhận được mọi việc như chúng đang là hay không, hay là nó vẫn quanh quẩn, vương vấn với thích hoặc không thích, vẫn còn tiếp tục phản ứng hay đánh giá, phán xét.

Thích một điều gì có nghĩa là bạn đang khao khát, mong cầu điều đó (tham); không thích nghĩa là bạn đang muốn chối bỏ nó (sân). Tham và sân là những phiền não bắt nguồn từ si ám, vô minh – vô minh cũng là một loại phiền não. Vì vậy, đừng cố tạo ra một điều gì cả; bởi cố tạo ra điều gì là tham. Đừng chối bỏ những gì đang diễn ra; bởi chối bỏ điều đang diễn ra là sân. Không biết điều gì đó đang diễn ra hay đã chấm dứt không còn diễn ra nữa, đó là si.

Bạn đừng cố gắng bắt buộc mọi thứ phải xảy đến như mình mong muốn, mà hãy cố gắng hay biết những gì đang diễn ra như nó đang là. Nghĩ rằng mọi thứ nhất định phải như thế này thế kia, mong muốn điều này điều nọ phải xảy ra hoặc không được xảy ra, đó là chính mong cầu, mong đợi. Mong cầu sẽ tạo ra lo lắng, bất an và có thể dẫn đến sân. Điều quan trọng là bạn phải ý thức được thái độ của mình như thế nào!

Đánh giá, phán xét về pháp hành của mình rồi trở nên bất mãn, không hài lòng với cách thực hành của mình, đó chính là thái độ sai lầm. Sự bất mãn sanh khởi khi bạn cho rằng mọi thứ đã không diễn ra như mình nghĩ; hoặc do bạn mong muốn nó phải khác đi chứ không phải như thế này, hoặc do bắt nguồn từ sự ngu dốt, thiếu hiểu biết về một pháp hành chân chánh. Những thái độ này sẽ đóng chặt tâm bạn và cản trở pháp hành của bạn. Hãy cố gắng nhận rõ sự bất mãn này, chấp nhận nó một cách hoàn toàn và quan sát nó một cách thật tỉnh táo. Trong quá trình quan sát và khám phá, những nguyên nhân của nó sẽ dần dần bộc lộ rõ ràng. Hiểu được nguyên nhân sẽ làm tan biến sự bất mãn và giúp bạn nhận diện rõ ràng mỗi khi chúng quay trở lại. Bạn sẽ ngày càng thấy rõ hơn những tác hại sự bất mãn gây ra cho thân, tâm mình. Bạn sẽ chánh niệm hơn về những thái độ đánh giá, phán xét của mình và sẽ dần dần từ bỏ chúng. Bằng cách này, bạn sẽ phát triển được những kỹ năng cần thiết để ứng phó với phiền não.

Thái độ sai lầm bắt nguồn từ vô minh. Chúng có mặt ở trong tâm của tất cả chúng ta. Tất cả thái độ sai lầm đều là những phiền não tham và sân, hoặc là bà con, họ hàng của chúng như là: mừng vui, sung sướng hay lo lắng,  buồn khổ. Không chấp nhận phiền não thì chỉ làm cho chúng gia tăng thêm sức mạnh mà thôi. Các loại phiền não sẽ cản trở sự tiến bộ của bạn và không cho bạn sống cuộc đời mình một cách hoàn toàn. Chúng cũng gây trở ngại cho bạn trên con đường đi tìm giải thoát và sự bình an đích thực. Đừng coi thường phiền não, chúng sẽ cười vào mũi bạn đấy!

Hãy nhìn cho rõ những loại phiền não đang có trong mình. Cố gắng hay biết những phiền não đang sanh khởi trong tâm. Hãy quan sát và cố gắng thấu hiểu chúng. Đừng dính mắc vào chúng, đừng chối bỏ hay làm ngơ, bỏ qua và cũng đừng tự đồng hoá mình với chúng (nhận chúng là mình). Khi bạn không còn dính mắc hoặc tự đồng hoá với chúng, thì chúng sẽ dần dần mất sức mạnh. Bạn phải luôn kiểm tra lại xem mình đang hành thiền với thái độ như thế nào.

Luôn ghi nhớ rằng, thiền chánh niệm là một quá trình học hỏi để thấy rõ mối liên hệ giữa thân và tâm của mình. Hãy thật tự nhiên và đơn giản; bạn không cần phải làm mọi việc thật chậm chạp một cách gượng ép, thiếu tự nhiên. Bạn chỉ đơn giản nhìn mọi việc như chúng đang là.

Bạn không cần phải gắng sức, gồng người lên để chú tâm. Khả năng chú tâm sẽ phát triển một cách tự nhiên nhờ sự thực hành đều đặn, kiên trì. Mục đích của chúng ta là để có chánh niệm ngày càng miên mật, ngày càng thường xuyên hơn. Chánh niệm càng liên tục thì tâm càng nhạy bén và tiếp nhận đối tượng trung thực hơn.

Đừng quên: đề mục không quan trọng, tâm quan sát đang làm việc ở phía sau hay biết đề mục đó mới thực sự quan trọng. Nếu bạn quan sát với một thái độ đúng đắn, thì bất cứ đề mục nào cũng là đề mục đúng đắn cả. Bạn có thái độ đúng đắn hay không?

Sayadaw U Tejaniya

Tâm (CITTA)

Sát góc núi, nơi lối đi có mấy bậc đá tôi có đề 3 chữ “tâm dưới chân” để nhắc nhở mọi người lưu ý để khỏi bước vấp. Thế nhưng vẫn có người hỏi “tâm dưới chân” có nghĩa là gì? Nơi Am Mây Tía mấy chú điệu hay bước lên xuống, tôi cũng hay nói, “mắt dưới chân đó con”, thế mà có chú hiểu, chú không hiểu!

Có bữa, tôi kể chuyện:

“- Có một vị sư tu thiền suốt nhiều năm trên núi. Hôm kia, cảm thấy ‘thiền của mình đã đạt’ bèn xuống núi lặn lội đi tìm một vị đại thiền sư để xin ấn chứng.

Gặp vị đại thiền sư, đảnh lễ phải phép rồi vị sư kể lại mọi chứng nghiệm tu tập của mình cho thầy thẩm định.

Lẳng lặng và chăm chú lắng nghe xong, vị đại thiền sư hỏi:

– Vậy thì khi ông vào đây, cái dù của ông đặt bên phải hay bên trái cửa?

Vị sư ngớ ra!

Lại thêm mấy năm tu tập nữa, vị sư về trình pháp, vào cửa, ông chăm chăm ghi nhớ cái dù ở đâu.

Không như lần trước, lần này, đại thiền sư lại hỏi:

– Vậy thì khi bước lên thềm, ông bước chân phải hay chân trái?

Vị sư cũng không nhớ!”

Buồn chưa! Phải tu lại là cái chắc!

Người mà luôn luôn biết chú tâm, quan sát, cách nói khác của chánh niệm (định), tỉnh giác (tuệ) thì không bao giờ quên mình, không bao giờ để “tâm lang thang bất tại”, không bao giờ làm việc gì mà không để cái tâm của mình vào đấy!

Vậy thì cái tâm ai cũng có thể hiểu, có thể thấy!

Tâm là gì?

Tuy nhiên khi nói về tâm thì phần đông mọi người đều nghĩ rằng:

– Tâm là linh hồn của con người.

– Tâm là phần tinh hoa, tinh túy ở trong tinh thần của con người.

– Con người có tâm – tức là có nhân, nghĩa… có tấm lòng đối với cuộc đời. Hoặc có tâm tức có đức (chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài).

– Có người hiểu tâm là trái tim, là phần tình cảm của con người.

– Tâm là lòng, bụng…

Từ những nghĩa như vậy, chữ tâm được biến hóa rất phong phú: Tâm hồn, tâm can, tâm chí, tâm cơ, tâm đảm, tâm đắc, tâm đầu, tâm địa, tâm giao, tâm huyết, tâm hoa, tâm hương, tâm ý, tâm khảm, tâm linh, tâm lực, tâm phục, tâm sự, tâm trí, tâm đức, tâm minh, tâm đạo…

Đấy là cả một kho tàng ngôn ngữ xuất phát từ nền văn học của Phật giáo đã được thế tục hóa, thế gian hóa, thế tình hóa. Dĩ nhiên là nó đúng theo cách hiểu của đại chúng, nhưng chưa được chính xác so với chữ citta trong Abhidhamma. Citta có ngữ căn “cit” là suy nghĩ, tư tưởng, là cái nhận thức đối tượng; là cảm biết, thấy biết, nhận biết cái gì đang hiện hữu (đang có mặt):

– Thấy đóa hoa, là con mắt thấy biết – nhãn thức.

– Nghe âm thanh, là lỗ tai nghe biết – nhĩ thức.

– Mũi ngửi hương, là cái mũi ngửi biết – tỷ thức.

– Lưỡi nếm vị, là cái lưỡi nếm biết – thiệt thức.

– Thân xúc chạm, là thân cảm biết – thân thức.

– Ý tiếp nhận pháp, là ý nhận biết – ý thức.

Sáu thức ấy chính là tâm. Vậy có thể nói: Tâm thấy, tâm nghe, tâm ngửi, tâm nếm, tâm xúc chạm, tâm suy nghĩ. Ở đây, tâm (citta) và thức (viññāṇa) đồng nghĩa.

Đôi khi, ý (mana) cũng đồng nghĩa với tâm: “Các pháp do ý dẫn đầu. Các pháp do tâm dẫn đầu”.danh cũng đồng nghĩa với tâm khi phân chia con người gồm có 2 phần: Sắc (rūpa) và danh (nāma). Trong Abhidhamma thì ý (mana), thức (viññāṇa), danh (nāma), tâm (citta) thường sử dụng cùng một nghĩa.

Còn nữa, nói tâm thì phải nói đến tâm sở, là những sở hữu của tâm, phụ tùy của tâm, thuộc tính của tâm, phát sanh cùng lúc với tâm (Tâm và tâm sở đồng sanh, đồng diệt, đồng căn môn và đồng đối tượng).

– Nếu một tâm thiện khởi lên thì các tâm sở thiện cùng khởi theo: Niệm, tàm, quý, vô tham, vô sân, vô si… (là những tâm sở thiện).

– Nếu một tâm bất thiện khởi lên thì các tâm sở bất thiện cùng khởi theo: Vô tàm, vô quý, tham, mạn, tà kiến… (là những tâm sở bất thiện).

Ngoài ra, còn có những tâm sở không thiện, không ác; ví dụ xúc, tác ý, thọ, tưởng, tầm, tứ… Gồm chung cả ba loại, có cả thảy 52 tâm sở. Trong 52 tâm sở ấy, thì ở nơi các trạng thái tâm lý (hành) có 50, nơi cảm giác (thọ) có 1, nơi tri giác (tưởng) có 1. Vậy trong thọ, tưởng, hành, thức thì thức là tâm và thọ, tưởng, hành là tâm sở.

Có tất cả bao nhiêu loại tâm?

Chúng sanh ở đời có rất nhiều nghiệp khác nhau, tâm khác nhau, cảnh giới khác nhau. Tuy nhiên, ta có thể tạm thời phân loại tâm theo cảnh giới.

– Địa ngục:Do tâm độc ác, bạo tàn, hận thù… tạonghiệp rất nặng nên sanh vào cảnh giới này (Tâm địa ngục).

– Ngạ quỷ: Do tâm khao khát, tham lam quá độ, tạo nghiệp rất nặng nên sanh làm các loại quỷ đói khát (Tâm ngạ quỷ).

– Súc sanh: Do tâm ngu si, trì độn, bản năng, thú tính… tạo nghiệp nặng mà đọa vào cảnh giới các loài thú hai chân, bốn chân… (Tâm súc sanh).

– Atula: Do tâm hiếu chiến, tranh thắng; thích sử dụng binh khí miệng lưỡi, đao gậy, gươm súng… nên sanh vào cảnh giới này (Tâm a-tu-la).

– Người: Có hai loại là người bất hạnh và người hữu phúc.

Người bất hạnh: Là loại người mà tâm địa ngục, tâm ngạ quỷ, tâm súc sanh, tâm a-tu-la nhiều hơn tâm người; nên hiện tại họ khuyết tật, thiếu ngũ quan hoặc sống trong cảnh bất hạnh, thống khổ, đói khát, cơ cực… bị xã hội khinh khi, ghét bỏ, ruồng bỏ… Tuy nhiên, ta phải hiểu là do nghiệp quá khứ còn dư sót nên họ phải nhận chịu như vậy. Còn hiện tại, nếu có người đang trong hoàn cảnh hữu phúc mà các tâm xấu ác vượt trội tâm người thì họ phải thọ nhận ác báo ở kiếp sau.

Người hữu phúc: Do tâm biết phải trái, thiện ác, có nhân, có hiếu, có tình, có nghĩa, xử sự hợp đạo đức, luân lý ở đời. Họ cũng có thiện ác, tốt xấu nhưng đa phần thiện nhiều hơn ác, tốt nhiều hơn xấu. Họ được đầy đủ ngũ quan hoặc ngũ quan hoàn hảo; được thọ hưởng 5 loại phước báu: sức khỏe, tiền tài, sắc đẹp, trường thọ và trí tuệ. Nói tóm lại là họ gần hoàn hảo hoặc đã hoàn hảo tâm người (nhân tâm).

– Trời Dục giới: Do tâm biết ngăn ngừa việc ác, thích làm điều lành; biết giữ giới, biết bố thí, biết cúng dường, biết tham thiền niệm Phật; có tâm thương xót đến người, vật có hoàn cảnh bất hạnh… Tùy theo nghiệp lành nhiều ít, họ sẽ hóa sanh vào 6 cõi trời dục giới tương ứng.

– Trời Sắc giới và trời Vô sắc giới: Do tâm đã có như tâm của trời Dục giới, lại còn biết tu tập thiền định và đắc các tầng thiền hữu sắc và vô sắc; họ sẽ làm những vị Phạm thiên cao sang phước tướng.

– Đạo quả Tứ thánh và Niết-bàn: Đây là những tâm có giới, có thí, có định lại còn biết tu tập thiền quán, thấy rõ tam tướng vô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngã (anatta) để lần lượt cắt đứt những kiết sử phiền não; tuần tự chứng đắc Tứ thánh đạo, Tứ thánh quả và Niết-bàn.

Nói tóm lại, có nhiều loại tâm tương ứng với những cảnh giới như vậy, nhưng theo Abhidhamma đúc kết, chỉ có 4 loại tâm, như sau: Dục giới tâm (kāmāvacara-citta); Sắc giới tâm (rūpavacara-citta); Vô sắc giới tâm (arūpavacara-citta); Siêu thế giới tâm (lokuttaravacara-citta).

Tâm ở đâu?

Như vậy, tâm rất là rõ ràng khi thấy sự hiện khởi của nó như tâm tham, tâm sân… tuy nhiên, có người hỏi tâm ở đâu thì quả là câu hỏi khó có lời giải cho thoả đáng. Đây là một thắc mắc khá nghiêm túc, người học Phật, tu Phật cần phải liễu tri, chứ không thể mơ mơ hồ hồ được. Cũng không nên đưa những ví dụ có vẻ văn hoa nhưng vô thưởng, vô phạt như cách nói “huề vốn”. Cũng không nên lấy kinh điển mà bảo Phật nói như thế này, Phật bảo như thế kia – vì bao giờ “cái thực” cũng khác với những khái niệm khói sương!

Theo giáo pháp Theravāda, thì cần thấy biết tâm ở đâu mới có thể tu tập thiền vắng lặng (samatha) và thiền minh sát (vipassanā) được.

Đầu tiên, câu hỏi tâm ở đâu, tức là muốn hỏi cái “trú xứ” của tâm.

– Cái biết của con mắt (nhãn thức) có trú xứ là nhãn căn, tức là nương tựa nơi “con mắt thịt” mà khởi sanh. Con mắt thịt này có hai phần, phần thô tháo gọi là “phù trần căn”, phần tinh tế là “tịnh sắc căn”. Trong tịnh sắc căn này có thần kinh nhạy bén cảm biết đối tượng – mà ta gọi là nhãn thức.

Cả tai, mũi, lưỡi, thân đều tương tợ vậy nên có nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức. Cả 5 thức nầy đều yếu ớt, muội lược – nhưng Abhidhamma đều gọi chúng là tâm (thức và tâm đồng nghĩa, là cái biết). Như vậy, nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức có trú xứ là nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn và thân căn.

Nói cho rõ hơn:

– Nhãn thức y cứ vào nhãn tịnh sắc căn mà khởi sanh.

– Nhĩ thức y cứ vào nhĩ tịnh sắc căn mà khởi sanh.

– Tỷ thức y cứ vào tỷ tịnh sắc căn mà khởi sanh.

– Thiệt thức y cứ vào thiệt tịnh sắc căn mà khởi sanh.

– Thân thức y cứ vào thân tịnh sắc căn mà khởi sanh.

– Ý giới (tiếp thọ tâm).

– Ý thức giới (các tâm còn lại).

Hai cái ý giới và ý thức giới y cứ trên ý căn mà khởi sanh.

Đây được gọi là “7 thức tâm y cứ trên 6 trú căn”. Ý giới chỉ những thức tâm yếu ớt, muội lược; còn ý thức giới, chỉ cho những thức tâm đầy đủ nhận thức. Thế thì, 5 căn đầu thì có điểm tựa rõ ràng, còn ý giới, và ý thức giới nương tựa nơi ý căn, nhưng ý căn ấy nằm ở đâu trong tấm thân một trượng nầy? Đây là vấn đề “bí hiểm”“gay cấn” nhất từ xưa đến nay!

Theo sớ giải, Hadayavatthu (hadaya là trái tim, vatthu là cõi, chỗ) là trú căn của tâm thức (tâm căn). Quan niệm trái tim là trú căn của tâm thức nguyên xưa thuộc truyền thống của Upanishad (Áo nghĩa thư), sau này ảnh hưởng vào các sớ giải. Đức Phật không chấp nhận cũng không phủ nhận điều ấy. Tuy nhiên, trong tập Paṭṭhāna (1) (tập 7, quan trọng nhất của tạng Abhidhamma) nói rằng đức Phật không xác định ý căn nằm ở đâu mà chỉ nói“y cứ trên sắc pháp này” (Yaṃrūpamnissāya) mà tâm khởi sanh – chứ không xác định trú căn ấy là ở tim hay ở não bộ!

Đến đây, “y cứ trên sắc pháp nầy” hé lộ cho ta về giáo lý duyên khởi, cái tư tưởng độc sáng của đức Phật, làm nền tảng cho giáo pháp.

Y cứ trên sắc pháp nầy?

Theo giáo lý duyên khởi, không cái gì tự dưng có mặt, lại càng không thể quan niệm được có một cái gì đó tồn tại độc lập mà không nương theo cái khác, kết hợp với cái khác. Từ trăng sao, vũ trụ, cho đến một hạt vi trần thảy đều duyên sinh, kết hợp. Lý tương duyên tương sinh cho ta biết rằng, cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không! Từ sự thật này, nên ai nói rằng, có một cái tâm ở đâu đó, có một cái tâm thường còn ở đâu đó hoặc có một cái tâm độc lập (nhất nguyên luận) thì lại rơi vào cái thường kiến trong 62 tà kiến.

Vậy, tâm, thức (cái biết) cũng do kết hợp mà có, do duyên sinh.

Ta hãy quan sát.

– Khi nhìn một chiếc lá, ta nhận biết đó là chiếc lá: Tâm nhận biết chiếc lá có mặt do có nhãn căn tiếp xúc với chiếc lá (sắc). Tương tợ như vậy là nhĩ thức với âm thanh (sắc), tỷ thức với các mùi (sắc), thiệt thức với các vị (sắc), thân thức với đất, lửa, gió (sắc) (2). Vậy thì tâm, cái nhận biết là do duyên sinh. Rõ hơn, do sự vận hành của căn, trần, và thức. Căn là lục căn, trần là lục trần và thức là lục thức. 18 giới ấy là toàn bộ vận hành của ta và cả vũ trụ. Nó duyên sanh đồng khởi, đồng vận động, đống tác động, chẳng có cái nào trước, cái nào sau; và cũng chẳng có trong, có ngoài, chủ và khách không thể lập!

“Y cứ trên sắc pháp nầy” – nghĩa là tâm ở đó, khi nào ý thức, nhận thức có mặt. Khi đang ăn, uống, đi, đứng, nằm, ngồi… mà không có tâm biết (chánh niệm, tỉnh giác) đang ăn, đang uống, đang đi, đang đứng, đang nằm, đang ngồi… thì gọi là thất niệm hoặc gọi là “tâm bất tại”, vì nó đang lang thang ở chân trời góc biển, ở quá khứ hay tương lại nào đó! Người có tu tập minh sát tuệ có lẽ hiểu rõ điều này hơn ai hết khi tâm tham biết tham, tâm sân biết sân (cả 16 loại tâm). Huệ Khả cũng được Đạt Ma dạy cho chỗ này: “Tâm tán loạn tuệ tri tâm tán loạn; tâm không an, tuệ tri tâm không an” (3) Chỉ tuệ tri như vậy thôi, ngay hiện tiền như vậy, không đánh giá, không phê phán – thì đấy mới gọi là thấy rõ thực tánh. Cái gì cũng phải tuệ tri như thực, không thêm bớt, không thủ xả, không “đầu thượng trước đầu” không “tuyết thượng gia sương!”, “tri lập tri tức vô minh bổn” vậy!

Như thế thì người tu minh sát luôn thấy rõ tâm mình trong mọi lúc, mọi nơi – sao còn phải hỏi tâm ở đâu nữa? Nó duyên sanh!

Không ở trái tim, không ở não bộ, mà vẫn là duyên sanh.

Khoa học ngày nay cho rằng cái biết sơ khởi, ban đầu ở các giác quan (họ gọi là hưng phấn) là trạng thái được xác định bởi tương quan lực” do sự phân cực điện trong các axon thần kinh (4). Mà hệ thần kinh có nhiệm vụ thu nhận tín hiệu kích thích từ các cơ quan cảm giác, xử lý phân tích các tín hiệu và phát các thông tin phản ứng nhằm điều khiển các hoạt động của các cơ và các tuyến tiết. Sự truyền tín hiệu này liên quan đến các neuronsynapse là các tế bào mang thông tin. Bất kỳ cung phản xạ thần kinh nào dù đơn giản hay phức tạp cũng đều được cấu tạo từ một số neuron nối với nhau qua các synapse nhỏ bé. Nhờ các synapse nhỏ bé này mà xung thần kinh được truyền từ neuron này sang neuron khác.

Còn nữa, hệ thần kinh gồm có hệ thần kinh trung ương và hệ thần kinh ngoại biên. Hệ thần kinh trung ương gồm tuỷ và não bộ được xem như là bộ phận điều khiển trung ương có chức năng thu nhận và xử lý phân tích tất cả các thông tin và phát thông tin trả lời. Hệ thần kinh ngoại biên gồm các tế bào và toàn bộ dây thần kinh còn lại, nó có chức năng nối liên lạc giữa thần kinh trung ương với các mô và các cơ quan của cơ thể.

Nói khái quát như thế để biết rằng, thu nhận và xử lý thông tin là cả một bộ máy khổng lồ, là cả một hệ thống tinh vi, tinh tế liên quan chặt chẽ với nhau, nó duyên khởi, nương tựa nhau trùng trùng.

Trở lại với giáo pháp, đức Phật khi nói về con người, ngài chỉ nói đến sắc thọ tưởng hành thức. Ngũ uẩn ấy nếu được nhìn ở thế giới khái niệm thô tháo (vĩ mô) thì có sắc thân, cảm thọ, cảm giác, tâm hành và nhận thức, một bên thân, một bên tâm. Nhưng nếu được nhìn trong thế giới cực vi (vi mô), vận động liên tục, hoạt dụng liên tục, duyên khởi liên tục – thì sắc chỉ là các phân tử, nguyên tử, hạt cơ bản, hạt nhân… Cảm giác, tri giác, tâm hành và nhận thức chúng chỉ là những sát-na cực vi trong những hạt chuỗi sinh, trụ, diệt (6) trùng trùng. Nơi ngũ uẩn, thì cảm giác là cái biết sơ khởi, tri giác là cái biết tổng quát và ý thức là cái biết có chức năng xử lý phân tích các thông tin và cả phát thông tin nữa.

Vậy nếu ai đó nói, cái tâm (cái biết) tồn tại độc lập thì rõ ràng là phản khoa học; và nên nhớ rằng thiên tài khoa học vĩ đại Albert Einstein có nói rằng: Phật giáo không cần phải tu chỉnh, cải sửa những quan điểm của mình mà theo khoa học vì Phật giáo không chỉ bao hàm khoa học mà nó còn vượt xa, vượt quá khoa học nữa!” (5) Đức Phật chỉ nói: “Y cứ trên sắc pháp này” dường như là câu nói cô đọng và minh triết nhất cho mọi vận động duyên khởi ở trên, mà từng cái biết ở thần kinh mắt, thần kinh tai, thần kinh mũi, thần kinh lưỡi, thần kinh thân, thần kinh tuỷ sống, thần kinh não bộ – là toàn bộ vận hành ấy, trao truyền tín hiệu ấy lại còn nhờ cậy vào các neuron synapse là các tế bào mang thông tin nữa. Vậy, cái biết ở khắp mọi nơi khi nhận thức, ý thức có mặt trong sự vận hành của căn trần thức. Đến đây, những hành giả tu tập minh sát chắc sẽ tâm đắc tại sao trong Tứ Niệm Xứ, đức Phật dạy, đừng bao giờ “rời khỏi cái biết”!

Không có vọng tâm, không có chân tâm.

Vậy cái biết (tâm) là duyên sanh trong sự vận động trùng trùng của căn trần thức. Và nếu duyên khởi là vọng thì tất cả đều là vọng hết làm gì có chơn? Nhưng nếu tất cả duyên khởi đều được “tuệ tri như thực” như tham, tuệ tri tham, như sân, tuệ tri sân – thì chúng đều là chơn (như thực) hết, làm gì có vọng?

Hay vọng với nghĩa là khi nó khởi và chơn là khi nó chưa khởi? Điều này cũng không đúng lắm, và coi chừng cũng chỉ ngang bằng tư tưởng của Khổng và Lão thôi!

Khổng nói rằng, chưa có dâm, nộ, si (tham, sân, si) là chỗ vào ra của đạo; nói cách khác, đạo là khi dâm nộ si chưa khởi! Còn Lão thì nói đạo sinh nhất, sinh nhị, sinh tam, tam sinh vạn vật – thì khi chưa sinh khởi là đạo!

Đức Phật là bậc Toàn Giác, ngài nói cái chỗ chưa khởi ấy là khi chưa có 6 nhân: tham, sân, si, vô tham, vô sân, vô si; và ngài không hề cho đây là đạo, mà ngài còn nói rằng, có duyên thì nó khởi đấy; và nó khởi thì khởi trùng trùng! Lại nữa, trong tâm của mỗi chúng sanh đang ngủ ngầm vô lượng hạt giống tốt có, xấu có – nghĩa là còn vô lượng năng lực ngầm (tuỳ miên kiết sử). Vậy thì từ chỗ chưa khởi này cũng phải thường trực chánh niệm, tỉnh giác; không thường trực chánh niệm tỉnh giác thì nó sẽ khởi lung tung đấy! Vậy nếu có khởi thì khởi làm việc lành, việc tốt, khởi thọ trì tam quy, ngũ giới, tu thập thiện, tu bố thí, tu tứ vô lượng tâm v.v.và v.v…

Để kết luận: Chỉ có sự khổ và sự diệt khổ.

Biết được cái tâm ở đâu là biết được hành tung của nó, là để mà tu tập. Ví dụ như đâu là tâm địa ngục, tâm ngạ quỷ, đâu là tâm người, tâm trời. Nói có hình tượng hơn là như bức tranh “thập mục ngưu đồ” đi tìm dấu chân trâu là đi tìm cái tâm của mình vậy! Và ai cũng biết rằng, tâm dẫn đầu các pháp, tâm chủ, tâm tạo tác. Vậy hãy dè chừng cái tâm. Và dè chừng kiểu nào cũng được hết, tu sao cũng được hết, miễn là có tu.

– Nếu ai thấy tâm mình có khuynh hướng xấu ác thì nên tu giới, mấy giới cũng được để ngăn chừng, ngăn ngừa chừng nào tốt chừng ấy.

– Nếu ai thấy mình thiếu phước, lại keo kiệt, bủn xỉn thì nên tu bố thí vừa được phước vừa mở rộng tấm lòng của mình ra.

– Nếu ai thấy mình lao xao, rối loạn, thiếu tự chủ, thiếu bình tĩnh thì nên tu thiền định.

– Nếu ai thấy mình vô cảm, xơ cứng, lạnh lùng thì nên tu tập tâm từ, tâm bi.

– Nếu ai thấy mình tối tăm, cố chấp thì nên tập tành tu tập thiền tuệ để tâm trí nó sáng ra…

Tất cả, tất cả sang hèn, giàu nghèo, trí ngu, vui khổ… đều do tâm, bởi tâm. Vậy hãy tu tập đi thôi, lửa đang bốc cháy ở khắp nơi; vậy hãy là hòn đảo an lành, an toàn cho mình nương tựa – là lợi mình và lợi người, lợi cả hai vậy.

MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNH

Ghi chú:

(1) Thường dịch là Vị trí, Đại xứ hay Nhân duyên thuyết. Trong bộ này trình bày chi tiết về 24 duyên – trong ngoài duyên khởi, duyên sanh rất phức tạp – nó cũng không có trong ngoài, không có chủ thể và khách thể.

(2) Thân xúc cái gì cứng, mềm chiếm chỗ trong không gian là đất, cái gì nóng, lạnh là lửa, cái gì rung động, chuyển động là gió. Riêng nước, thân không xúc chạm được vì nó là cái kết dính các sắc. Do vậy, ngũ căn (5 sắc), có 7 đối tượng sắc pháp (sắc, thanh, hương, vị, địa, hoả, phong).

(3) Vikkhitaṃ vā cittaṃ ‘vikkhitaṃ cittan’ ti pajānāti hay Asamāhitaṃ vā cittaṃ ‘asam āhitaṃ cittan ‘ ti pajānāti.

(4) Tôi mạo muội học lóm một vài kiến thức cũng như một số thuật ngữ chuyên môn về cấu tạo tế bào và thần kinh học – mà tôi chưa thật sự hiểu cho tường tận. Ở đây chỉ nhằm chứng minh cho lý duyên khởi thôi!

(5) Buddhism requires no revision to surrender its views to science, because it embraces science as well as goes beyond science.

(6) Mỗi sát-na có 3 tiểu sát-na, một tiểu sát-na sinh, một tiểu sát-na trụ, một tiểu sát-na diệt.

Căn của ý thức

Trong Tâm lý học Phật giáo, có sáu Thức nhận biết: Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỉ thức, Thiệt thức, Thân thức và Ý thức. Mỗi Thức được phát sinh do sự giao tiếp đầy đủ của Căn (cũng gọi là Vật) với đối tượng là Cảnh (cũng gọi là Trần). Căn của Nhãn Thức là mắt, của Nhĩ Thức là tai, của Tỉ Thức là mũi, của Thiệt Thức là lưỡi, của Thân Thức là thân; còn căn của Ý Thức (được gọi là ý căn) thì chưa được xác định rõ rệt. Phải chăng ý căn là Tim, Não Bộ, Thần Kinh Hệ hay cái gì khác? Một câu hỏi thường đi đôi với vấn đề này là Tâm có còn hiện hữu sau khi chết (não bộ ngưng hoạt động, tim ngừng đập)?

1. Khái niệm dẫn nhập: Trước khi trình bày một số tài liệu để suy gẫm về ý căn, có lẽ cần nói qua khái niệm về Tâm, Tiến Trình Tâm và định nghĩa về ý căn, ý môn.

1.1. Tâm và Thức : Tâm (Mind, Citta) và Thức (Consciousness, Viññāna ) cùng một nghĩa, đó là sự nhận biết một đối tượng, nói cách khác đó là cái biết, cái gì hay biết một đối tượng. Theo Vi Diệu Pháp (Abhidhamma, còn gọi là A-Tỳ-Đàm) không có gì khác biệt giữa Tâm và Thức. Khi phân tích chúng sanh ra hai phần vật chất và tinh thần thì Tâm được dùng để chỉ phần tinh thần, còn gọi là Danh (Nāma). Tâm luôn luôn được dùng để đề cập đến những loại tâm khác nhau (Vi Diệu Pháp chia tâm ra 121 loại hoặc 89 loại tùy theo cách phân loại). Khi chúng sanh được chia làm năm uẩn thì Thức được dùng (Thức uẩn). Tâm còn gọi là Tâm Vương; có 52 Tâm Sở (Cetasika) hay trạng thái tâm, đồng liên hợp với tâm vương, đồng phát sinh và đồng hoại diệt với tâm vương. Các loại tâm sở chia ra 13 sở hữu trợ tha, 14 sở hữu bất thiện và 25 sở hữu tịnh hảo.

Thức phát sinh do sự giao tiếp đầy đủ của Căn với đối tượng là Cảnh; sự giao tiếp, giao lưu, nối kết đầy đủ là điều kiện thiết yếu để Thức phát sinh. Chẳng hạn, nói về năng lực nhận thức “thấy” thì nhãn thức chỉ phát sinh được khi có đầy đủ ánh sáng, không có sự ngăn ngại giữa nhãn căn và cảnh sắc, thần kinh con mắt phải tốt, hệ thống thần kinh không bị hư hỏng…. Tuy nhiên phải hiểu rằng trong năm thức đầu (nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức và thân thức), thức chỉ mới ghi nhận đối tượng, chưa phải là nhận biết. Cần có Tưởng (một Tâm Sở Biến Hành) mới nhận biết ở mức độ tri giác. Tưởng có chức năng phân tích chi tiết, tổng hợp, hình thành vật khái niệm và danh khái niêm.

Như đã nói ở trên, Thức phát sinh do Căn giao tiếp với Cảnh, nhưng thực ra Căn, Cảnh, Thức tác dụng với nhau, tương giao, tương tác với nhau mà Tâm Sở Xúc phát sinh. Ngoài Xúc ra, các Tâm Sở Biến Hành khác là Thọ, Tưởng, Tư, Nhất Tâm, Mạng Căn và Tác Ý. Theo Duy Thức thì có 4 Tâm Sở Biến Hành cơ bản (Xúc, Thọ, Tưởng, Tư) và thêm 1 Tâm Sở Biến Hành nữa thôi là Tác Ý. So với Duy Thức thì Vi Diệu Phápđầy đủ hơn với 7 Tâm Sở Biến Hành và Tâm nào cũng phải có mặt 7 Tâm Sở này. Có vài sự khác biệt trong việc phân loại trong Duy Thức Học và Vi Diệu Pháp tuy nhiên ta không nên câu nệ ở nơi phân loại mà chỉ quan sát ngay nơi cái tâm đang hiện khởi mà thấy diễn tiến, vận hành của nó.

1.2. Tiến Trình Tâm (Citta-vīthi) – Tâm diễn tiến qua một lộ trình gọi là tiến trình tâm. Diễn tiến của một tâm sinh diệt như sau: Dòng tâm thức trôi chảy có thể hoặc ở trạng thái tiêu cực hoặc ở trạng thái tích cực. Tiêu cực là trôi chảy ngấm ngầm, tàng ẩn sâu trong nội tâm của sự sống nên gọi là Hữu Phần (Hữu Phần tương đương với Căn Bản Thức trong Duy Thức). Hữu Phần (Bhavanga) duy trì sự hiện hữu của tiềm thức và trôi chảy liên tục. Dòng Bhavanga ở trạng thái thụ động, có vẻ như tĩnh nhưng luôn luôn chảy xiết như một dòng nước cuồn cuộn nên Duy Thức gọi là “hằng chuyển như bộc lưu”. Khi đang trôi chảy như vậy, chợt có một đối tượng tác động vào, khiến Hữu Phần này trôi qua 1 sát-na nữa, rồi rung động 2 lần và ngưng trạng thái tiềm ẩn. Hữu Phần dừng nghỉ và tâm bắt đầu trạng thái tích cực khởi qua các căn để thu nhận, đánh giá, phản ứng… trên đối tượng tác động.

Khi Hữu Phần dừng lai, tâm khởi lên theo trình tự như sau (đối với ngũ căn):

1) 1 sát-na – Ngũ môn hướng tâm: phản xạ tự nhiên của căn tương ứng hướng đến đối tượng, làm gạch nối cho thức khởi sinh.

2) 1 sát-na – Ngũ thức: khi 1 trong 5 môn hướng về đối tượng thì thức liên hệ môn ấy phát sinh.

3) 1 sát-na – Tiếp thọ tâm: phân tích chi tiết, đối chiếu với ký ức để biết từng phần của đối tượng.

4) 1 sát-na – Suy đạc tâm: tổng hợp các chi tiết để có đầy đủ dữ kiện về đối tượng.

5) 1 sát-na – Xác định tâm: nhận biết đối tượng (vật khái niệm) và đặt tên (danh khái niệm).

6) 7 sat-na – Tốc hành tâm: giai đoạn tạo tác của tâm, vai trò của Hành trong Ngũ Uẩn (Mạt Na thức trong Duy Thức Học là một phần chức năng của Tốc hành tâm).

7) 2 sát-na – Đồng sở duyên (tâm Mót): ghi nhận, thu lượm toàn bộ tiến trình tâm vừa kinh nghiệm để lưu giữ vào Bhavanga. (Tâm Mót là chữ của Ngài Tịnh Sự trong bản dịch Tạng Diệu Pháp của Ngài). Đồng sở duyên có chức năng như Sở Tàng của A-Lại-Da thức trong Duy Thức.

Nếu kể cả 3 sát-na của giai đoạn Hữu Phần thì toàn bộ tiến trình diễn ra trong 17 sát-na, nhưng nếu chỉ kể phần của tiến trình tâm thì chỉ có 14 sát-na. Tuy nhiên tiến trình sẽ lập đi lập lại trên cùng đối tượng rất nhiều lần, nếu chú ý nhiều trên đối tượng.

Tâm vận hành quả là rất nhanh. Sát na là đơn vị thời gian rất nhanh: 1 sát-na nhanh hơn nhiều lần 1 nanosecond (1 phần tỷ của giây)!
(Phần sơ lược về tâm và tiến trình tâm trên đây được dựa theo “Thực Tại Hiền Tiền” của Tỳ Kheo Viên Minh, Vi Diệu Pháp Toát Yếu của Narada Maha Thera).

1.3. Ý Căn và Ý môn:

Tâm và Tâm Sở phát sinh tùy thuộc vào điều kiện gọi là Căn (base, vatthu). Căn là sắc hổ trợ cho Thức phát sinh. Tuy rằng năm căn đầu (không kể ý căn) trùng với năm môn đầu, một căn không giống hệt như là một môn, vì nó đóng vai trò khác trong việc phát sinh ý thức. Môn (door, dvāra) là cửa qua đó những tâm và tâm sở của tiến trình nhận biết đạt đến được đối tượng.

Sau khi nhắc sơ qua khái niệm về tâm, tiến trình tâm và căn môn, xin trình bày dưới đây vài quan điểm về Ý căn của khoa học gia cũng như cuộc thực nghiệm khoa học về tâm gần đây, các trường hợp của tâm hiện hữu chưa chứng nghiệm được và sau đó tìm hiểu ý căn theo quan điểm Phật Giáo Tây Tạng và theo kinh điển Nguyên Thủy:

2. Quan Điểm của Khoa Học Gia và Thực Nghiệm về Tâm:

2.1. Quan điểm của các nhà khoa học: Các khoa học gia cho rằng tâm hay tư tưởng hay sự suy nghĩ là do từ não bộ mà phát sinh, tuy nhiên họ nhìn nhận rằng đó là một vấn đề mà khoa học chưa giải thích được, cũng như chưa giải thích được chức năng của tâm. Đa số khoa học gia cho rằng có những hoạt động điện-hóa xẩy ra trong não bộ nhưng họ không thể giải thích sự liên hệ với Ý thức như thế nào. Họ dựa trên một giả định rằng Ý thức phụ thuộc vào một cơ sở vật lý (như não bộ) nên mọi tư tưởng khởi lên đều phải kèm theo hoặc gây ra bởi những biến đổi bên trong não bộ; lý thuyết này vẫn chưa được chứng minh bằng thực nghiệm.

2.2. Sự thực nghiệm khoa học gần đây về Tâm: Bác sĩ Sam Parnia, người điều khiển dự án “Human Consciousness Project” tại Anh Quốc với mục đích nghiên cứu về trường hợp cận tử (near-death experiences) và áp dụng phương pháp khoa học thử nghiệm mới nhất hiện nay trong cuộc khảo cứu về tâm. Đầu tháng 10/2008, Bác sĩ Parnia dã dành cho AOL (1 cơ quan truyền thông) một cuộc phỏng vấn trong đó ông chứng minh 1 điều quan trọng:“ Tâm có mặt, hiện hữu như một thực thể độc lập với não bộ ”. Đây là điều được khám phá nhờ các cuộc thực nghiệm với những người có kinh nghiệm cận tử, sống sót qua cơn đứng tim và kể lại những kinh nghiệm sau khi tim ngừng dập và não bộ ngưng hoạt động. Bác sĩ Parnia đã dùng một dụng cụ kỹ thuật tối tân trong việc khảo sát não bộ gọi là INVOS (in-vivo optical spectroscopy) để đo lượng oxy trong não và thiết lập các kệ chứa đựng hình ảnh để kiểm tra kinh nghiệm cận tử của bệnh nhân sau khi hồi sinh. Sau khi tim và não bộ ngưng hoạt động một thời gian, bệnh nhân kể lại các kinh nghiệm trong thời gian đó và bác sĩ kiểm chứng lại các kinh nghiệm đó. Bác sĩ đã thiết lập những cuộc thực nghiệm này trong 18 tháng tại các bệnh viện tại Anh quốc và Hoa kỳ. Tuy nhiên, vì tỷ lệ số người có kinh nghiệm cận tử (hồi sinh sau khi não bộ ngưng hoạt động) rất là ít ỏi, chỉ khoảng 2%, cho nên Bác sĩ Parnia muốn thiết kế phòng thực nghiệm cho trường hợp cận tử ở khoảng 25 bệnh viện và nâng đối tượng nghiên cứu lên 1500 người. Bác sĩ nói khám phá này quan trọng nhưng những dữ kiện trên còn rất mực tiên khởi.

3. Các trường hợp chứng tỏ Tâm hiện hữu sau khi chết:

3.1. Ý kiến về sự thực nghiệm Tâm hiện hữu sau khi chết: Khám phá nói trên của Bác Sĩ Parnia đối với khoa học là một sự thực nghiệm là đáng kể. Các cuộc thực nghiệm về trường hợp cận tử tương tự như “Human Consciousness Project” rất đáng được khích lệ và hổ trợ, không những để chứng minh sư hiện hữu của tâm sau khi chết mà còn tăng cường kiến thức cho chuyên viên y-khoa để biết nên xử lý thế nào trong truờng hợp cận tử và giúp bệnh nhân có thể hồi sinh sau khi não bộ và tim ngưng hoạt động. Tuy nhiên, điều gọi là mới khám ra của khoa học (tâm hiện hữu sau khi chết) chẳng có gì mới lạ với những người có học hỏi Phật Pháp và thực hành Phật Pháp. Trong Phật Pháp, ta học về sự sinh diệt của thân tâm, tiến trình của tâm, dòng tâm thức trôi chảy…Khi chết thì có tâm Tử, rồi tiếp nối với tâm Tục Sinh đầu thai qua một kiếp sống mới. Ở đây không có sự chứng nghiệm khoa học, ở lãnh vực tôn giáo nên cần có lòng tin. Tuy nhiên, có thể lòng tin chỉ cần thiết lúc khởi đầu, không phải là sự tin tưởng vô căn cứ mà với sự hiểu biết rằng tâm thức cần được tịnh hóa, thanh lọc để có thể tự có một năng lực riêng và có thể được tăng lên qua sự học hỏi kinh sách, qua việc tư duy để phát triễn kiến thức, tăng trưỡng Trí để biến nó thành Tuệ, để thấy được bản chất của sự vật bằng sự tu chứng mà không qua sự thực nghiệm khoa học. Các tiến bộ của khoa học, như ta đã thấy, thường đi sau kiến thức của các bậc có Trí Tuệ.

3.2. Các trường hợp khác chứng tỏ tâm hiện hữu sau khi chết :

3.2.1. Trường hợp các nhà ngoại cảm: Một dữ kiện mà nay nhiều người chấp nhận có thật là trường hợp các nhà ngoại cảm có khả năng liên lạc với các “vong linh” của những người đã chết để tìm ra nơi chôn xác những người đó trong thời chiến tranh vừa qua ở Việt Nam, giúp thân nhân chôn cất lại xác kể như đã thất lạc (chính những người không tin gì về vấn đề tâm linh trước đây, nay cũng xác nhận công khai những khả năng liên lạc với người đã chết của các nhà ngoại cảm). Đây là một trường hợp khó phủ nhận và vẫn chưa có thể giải thích được.

3.2.2. Trường hợp cầu cơ: Một tài liệu gần đây trích từ cuốn “La Revue Spirite” được phổ biến gần đây trên Internet (do Nguyên Phong dịch) kể lại chuyện một “Lá Thư Từ Bên Kia Thế Giới” do một người cha (tên là bác sĩ Henri Desrives) chết cách đây khoảng hai năm gởi cho các con còn sống (Bác sĩ Pierre Desrives và các người em). Lá thư này là do cơ bút đã viết ra trong một bàn cầu cơ, xẩy ra trong 1 bệnh viện. Vong hồn Bác sĩ Henri Desrives đã nhập vào một người trong bàn cầu cơ và yêu cầu gọi con là Bác sĩ Pierre Desrives và mấy người em đến, từ đó một bức thư đã được viết ra. Trong thư, người cha kể lại những gì xẩy ra khi mới mất và sau đó:

“… một lúc sau khi lịm đi, không hay biết gì thì thấy mình lơ lững trong một bầu ánh sáng trong suốt, thấy rõ mấy mẹ con đang quay quần và xúc động …, cảm thấy bưồn bực khó chịu khi thấy gia đình đang xúc động, nhưng sau đó cảm thấy mình bình tĩnh, thoải mái và được an ủi khi người thân lên tiếng cầu nguyện … thấy ánh sáng bao quanh trở nên sáng chói và cả cuộc đời của mình từ lúc thơ ấu đến khi trưỡng thành hiện ra rõ rệt như trên màn ảnh, cảm thấy sung sướng về những điều thiện đã làm và hối tiếc về những điều đáng lẽ không nên làm… Sau đó đi vào tình trạng vật vờ rồi di chuyển nhanh chóng đến một bầu ánh sáng khác, thấy một số người nhưng muốn tiến đến gần họ thì thấy khó chịu; một lúc sau tiến đến một đám đông mà những ngưòi này thì có những rung động dễ chịu. Một người cho biết tùy theo tần số rung động thích hợp mà mình có thể tiếp nhận…”.

Những điều nói đến trong “ Lá thư từ bên kia thế giới ” kể lại những gì xẩy ra sau khi chết, không khác mấy với diễn tiến của Thần Thức được mô tả trong “ Tạng Thư Sống Chết ” của Sogyal Rinpoche. Trong tạng thư này, danh từ “ Bardo ” được nhắc đến rất nhiều; Bardo chỉ trạng thái trung gian giữa chết và tái sinh và có nhiều nghĩa rộng lớn hơn… Điều đáng nói ở đây là tâm thức rời bỏ sắc thân để bắt đầu một kiếp sống khác.

4. Liên hệ giữa Ý thức, Cảm Thọ và Thần kinh hệ:

Giáo Sư cổ nhạc nỗi tiếng Trần văn Khê khi gỉảng về kỹ thuật trình diễn Hát Bộ có nói rằng: Khi muốn diễn tả một tâm trạng đau đớn của một người mẹ mới nghe tin con mình vừa tử trận, thì diễn viên phải dồn hết cảm xúc, ý tưởng về ruột để diễn tả qua tiếng ca nỗi đau đớn như đứt từng khúc ruột; sự rung động phải đi từ ruột mà ra. Tương tự, để diễn tả nỗi uất hận, căm giận của một vị tướng can trường mà nay phải bó tay nhìn quân giặc dày xéo quê hương, diễn viên phải dồn hết cảm tưởng bức xúc, uất hận về lá gan và sự rung động phải phát xuất từ đó…Điều này chứng tỏ hệ thần kinh ở mỗi cơ phận là tương quan với cảm xúc và ý thức liên hệ tới cơ phận đó và từ đó mới tạo sự rung động liên hệ tới cảm xúc và ý tưởng đang có. Điều này phù hợp với quan điểm của Phật Giáo Tây Tạng về sự liên hệ của thần kinh hệ với ý thức và cảm xúc như sẽ trình bày kế tiếp dưới đây.

5. Quan Điểm về Ý căn của Phật Giáo Tây Tạng

Sau đây là vài đoạn được trích dẫn từ loạt bài pháp thoại của Ngài Dalai Lama thứ 14 giảng ở Luân Đôn tháng 7 năm 1996 (in thành sách “ Tứ Diệu Đế ” do Ngô Quang Nhân dịch):

5.1. “Ý thức và tất cả kinh nghiệm của chúng ta phụ thuộc vào thân xác, vì thế nên tâm và thân trong một ý nghĩa nào đó là không thể tách biệt. Nhưng đồng thời, tôi cảm thấy rằng sự nghiên cứu dường như chỉ ra rằng tâm thức con người rất có thể tự có một năng lực riêng và có thể được tăng lên thông qua sự quán chiếu và thiền định, hay sự rèn luyện tâm thức. Thêm nữa, ai cũng biết rằng y học hiện đại ngày càng phải thừa nhận năng lực của ý chí trong quá trình hồi phục bệnh tật. Năng lực ý chí của một người ảnh hưởng tới sinh lý của người đó”.

5.2 “Tâm thức luôn có khuynh hướng bị chi phối bởi các ý nghĩ tản mạn hoặc bởi các cảm xúc. Vì thế ta hãy thử khảo sát xem các cảm xúc và ý nghĩ tản mạn đã khởi lên trong tâm như thế nào… Ta có thể xét cảm xúc đơn thuần về mặt lý tính như là cảm giác (sensations), nhưng cố nhận hiểu cảm xúc về mặt nhận thức tinh thần ( feeling: thọ, vedanā) thì sẽ phức tạp hơn nhiều. Và cho dù chúng ta mặc nhiên chấp nhận là phải có các mối liên lạc giữa ý thức và hệ thần kinh của cơ thể, bằng cách nào đó ta vẫn phải xem xét được đến các cấp độ sâu hơn của cảm xúc. Tôi muốn chỉ rõ rằng … không cần có bất kỳ vật lý chuyển động nào của cơ thể, một người (hành thiền) vẫn có thể gây ảnh hưởng tới trạng thái sinh lý của chính mình bằng cách sử dụng năng lực tâm thức thông qua một trạng thái nhất tâm, tập trung tâm ý (a focused, single-pointed state)”.

5.3. “Dĩ nhiên cơ sở thể chất của ý thức (nghĩa là ý căn – chú thích của người viết) phải bao gồm hệ thống thần kinh mặc dù các kinh văn Phật Giáo cổ điển không đề cập đến điều này. Tuy nhiên nguyên nhân chính yếu của ý thức hẳn không phải là những thực thể vật chất này. Nó phải được hiểu theo sự tương tục của chính nó, dù là ở dạng tiềm tàng hay một khuynh hướng, hay bất kỳ dạng nào khác. Đây là một đề tài rất khó, nhưng ta có thể nói rằng nguyên nhân chính yếu của thức có thể được hiểu như là dòng tương tục của thức vi tế, ở trạng thái tiềm tàng…”. (Đây là nói về ý môn, tuy nhiên Phật Giáo Tây Tạng thuộc Bắc Tông nên không dùng danh từ trong tạng Luận Vi Diệu Pháp trong Nam Tông – chú thich của người viết).

Ba đoạn trích dẫn trên đây cho ta thấy quan điểm của Phật Giáo Tây Tạng rằng các cơ sở thể chất của ý thức bao gồm hệ thống thần kinh tuy nhìn nhận rằng kinh văn Phật Giáo không đề cập đến điều này. Tuy nhiên điều này rất phù hợp với sự rung động và hệ thần kinh liên quan tới cơ sở, căn cứ của ý thức và cảm xúc tương ứng (như kỹ thuật hát bộ do GS Trần văn Khê giảng dạy). Điều quan trọng đáng để ý là Ngài cũng nói về nguyên nhân chính yếu của thức, được hiểu là ý môn, chính là dòng tương tục của chính nó, của thức vi tế (the continuum of the subtle consciousness).

6. Ý căn và Ý môn từ Kinh điển Phật Giáo:

Định nghĩa, sự phân tích về ý môn và ý căn cũng như các quan điểm khác biệt về ý căn được tìm thấy qua các đoạn trích dẫn dưới đây:

6.1. Trích dẫn Chương III, phần Phân loại theo căn môn, cuốn Thắng Pháp Tập Yếu Luận, do Tỳ Kheo Thích Minh Châu dịch và thích nghĩa:

– Pali văn dịch ra Việt văn: “Nhãn môn, nhĩ môn, tỷ môn, thiệt môn, thân môn và ý môn, như vậy có sáu môn tất cả. Ở đây, mắt gọi là nhãn môn, lỗ tai gọi là nhĩ môn v.v… còn ý môn tức là Hữu Phần (Bhavanga)”.

– Thích nghĩa: “Dvāra là cửa; …cửa này dùng vừa cả lối ra và lối vào. Khi một đối tượng đến với tâm, bhavanga được rung động và dừng lại. Rồi Hướng tâm (Āvajjana) khởi lên. Nếu là đối tượng ở ngoài ngang qua năm căn thì ngũ môn hướng tâm khởi lên. Nếu là đối tượng nội tâm thì ý môn hướng tâm khởi lên; Hữu Phần dừng nghỉ (Bhavangapaccheda) khởi lên trước ý môn hướng tâm và gọi là ý môn (manodvāra)”.

Tỳ Kheo Thích Minh Châu dịch chữ vatthu là trú căn, dùng chữ đoàn tâm thay vì ý căn để dịch chữ hadayavatthu, có lẽ do chữ hadaya có nghĩa là trái tim. Dịch hadayvatthu là đoàn tâm hàm ý rằng ý căn là trái tim, điều mà Đức Phật không xác nhận hay bác bỏ, như được trích dẫn dưới đây (Phần 6.4).

6.2. Phần 193 – Ý môn Tổng Hợp, cuốn Vi Diệu Pháp Nhập Môn của Tỳ Kheo Giác Chánh: “… Ý môn là Tâm Hộ Kiếp để cho Ý thức khởi lên thâu bắt Cảnh pháp”.

6.3. Chương III, trang 144, Bản trích yếu về Căn – Compendium of Bases (vatthusangaha), “A Comprehensive Manual of Abhidhamma”, Bhikkhu Bodhi, 1993:

Phân tích các Căn: Trong cõi Dục Giới, các Tâm và Tâm Sở phát sinh tùy thuộc vào điều kiện gọi là Căn (vatthu). Căn là sắc hổ trợ cho Thức phát sinh. Mặc dầu năm căn đầu (ngoại trừ ý căn) trùng với năm môn đầu, một căn không giống hệt như là một môn, bởi vì nó đóng một vai trò khác trong sự phát sinh ý thức. Môn là cửa ngõ qua đó tâm và tâm sở của tiến trình nhận biết đi tới được đối tượng. Căn là sắc hổ trợ cho sự phát sinh của tâm và tâm sở.”

Tỳ kheo Bodhi dùng chữ heart-base để dịch chữ hadayavatthu và nói rằng, theo các nhà chú giải Pali, trái tim là sắc hổ trợ cho tất cả mọi tâm chỉ trừ ngũ song thức. Tuy nhiên Tỳ Kheo Bodhi nói rằng trong tạng Vi Diệu Pháp, heart-base không được nhắc đến một cách rõ rệt. Bộ Patthāna, cuốn cuối của Tạng Vi Diệu Pháp, chỉ nói đến ý căn một cách gián tiếp như “sắc mà ý thức tùy thuộc vào để phát sinh”. Tuy vậy, chú giải cũng cho rằng “sắc ý vật ấy phải là heart base, một lổ hỗng ở bên trong quả tim (a cavity situated within the physical heart).”

6.4. Chương VI (Sắc pháp) – Cuốn “A Manual of Abhidhamma” của Narada Maha Thera (Phạm Kim Khánh dịch) nói về ý căn như sau:

“Bộ Dhammasangani không đề cập đến sắc pháp này. Trong sách Atthasālīni, danh từ hadayavatthu được giải thích là cittassa vatthu, căn cứ từ nơi đó tâm phát sinh.

Rõ ràng Đức Phật không nhất quyết chỉ nơi nào là căn của tâm như Ngài đã chỉ rõ khi đề cập đến các giác quan khác. Vào thời của Ngài, phần đông người ta tin rằng quả tim là ý căn và thuyết này hiển nhiên được kinh Upanishads hổ trợ. Nếu muốn, Đức Phật đã chấp nhận lý thuyết rất phổ thông thời bấy giờ, nhưng Ngài không nói đến. Trong bộ Patthana, bộ sách đề cập đến Duyên Hệ Tương Quan, Ngài nhắc đến căn cứ của thức (ý căn) bằng những danh từ gián tiếp như “yam rūpam nissāya”, “tùy thuộc nơi sắcpháp ấy”, mà không quả quyết xác nhận sắc ấy là trái tim hay bộ não. Nhưng theo quan niệm của các nhà chú giải như Ngài Buddhaghosa và Anuruddha thì ý căn nhất định là tim. Chúng ta hiểu rằng Đức Phật không hề chấp nhận hoặc bác bỏ lý thuyết rất phổ thông vào thời xa xưa ấy, cho rằng ý căn là tim”.

7. Phần kết luận

7.1. Khoa học từ trước đến nay đã cho rằng ý thức có cơ sở là não bộ, nhưng đó là dựa vào một định kiến hơn là chứng cứ thực nghiệm. Gần đây, nhóm “Human Consciousness Research Group” do Bác sĩ Sam Parnia thiết lập tại Anh quốc đã có một số thực nghiệm chứng minh rằng sau khi não bộ ngưng hoạt động, tâm có mặt, hiện hữu như một thực thể độc lập đối với não bộ. Đây là một khám phá có chứng nghiệm của khoa học, nhưng điều khám phá này đã được nói đến từ lâu trong kinh điển Phật Giáo.

7.2. Những trường hợp cầu cơ trong đó người đã chết nhập vào thân xác người sống để gởi thông điệp cho người thân, tuy chưa được chứng nghiệm, nhưng khó mà phủ nhận được. Tương tự, khả năng của các nhà ngoại cảm liên lạc được với “vong linh” người đã chết cũng khó mà phủ nhận tuy chưa giải thích một cách khoa học được.

7.3. Ngài U Silananda Sayadaw, một Thiền Sư Miến Điện có thẩm quyền về Vi Diệu Pháp có nói rằng: “Ý căn là một sắc pháp, nhưng kinh điển không chỉ rõ sắc nào là Ý căn”. Điều này đã nói trong phần trích dẫn 6.4 từ Vi Diệu Pháp Toát Yếu của Ngài Narada Maha Thera, chỉ ý căn là một sắc pháp. Tuy rằng có vài nhà chú giải nỗi tiếng cho rằng ý căn là trái tim, Đức Phật đã không nói như vậy là đúng hay sai.

Chữ “vatthu” tiếng Pali nghĩa là “vật” hay là “căn” (physical base) của một trong 6 thức. Chữ “hadayavatthu” phân ra hai từ với từ “hadaya” có nghĩa là tim (heart) hoặc ý (mind); nguyên chữ “hadayavatthu” thì có thể dịch là “ý vật” hoặc “ý căn” và có nghĩa là căn của ý thức, căn cứ từ đó thức phát sinh (Tỳ Kheo Thích Minh Châu dịch là đoàn tâm; Bhikkhu Bodhi dùng chữ heart base). Quả tim được nhiều người vào thời Đức Phật cho là ý căn và được kinh Upanishads hỗ trợ và các nhà chú giải như Anuruddha và Buddhaghosa quả quyết là đúng (Buddhaghosa là luận sư nỗi tiếng đã sáng tác, vào thế kỷ thứ V sau tây lịch, bộ sách “Thanh Tịnh Đạo”, the Path of Purification mà đa số người hành thiền đều biết). Tuy vậy, Đức Phật đã không nói đến Ý căn, chỉ gián tiếp nhắc đến “yam rūpam nissāya ” “ tùy thuộc nơi sắc pháp ấy ”, mà không xác nhận sắc ấy là trái tim hay bộ não hay gì khác. Ngài đã không chấp nhận hoặc bác bỏ thuyết cho rằng Ý căn là tim. Câu Pali “yam rupam nissaya” trong Tạng Vi Diệu Pháp có thể hiểu là “tâm nương vào sắc nào, sắc ấy là sắc ý vật”. Với ý nghĩa này, phải chăng ý vật hay ý căn có thể là bất cứ sắc pháp nào trong thân mà tâm nương vào, tùy thuộc vào? Phải chăng ở đây hệ thần kinh mà Ngài Dalai Lama XIV nói trên đây, như là cơ sở thể chất của ý thức, hoặc trái tim, não bộ hay bất kỳ pháp nào mà tâm nương vào đều có thể là ý căn? Thật khó mà có câu trả lời rõ rệt nào. Chỉ có một điều chúng ta biết chắc chắn là ý căn là một sắc pháp, nhưng Đức Phật không nói rõ sắc pháp nào là ý căn cả.

Kết luận là chưa có sự giải đáp thỏa đáng cho câu hỏi về ý căn. Đây là một vấn đề còn bỏ ngõ, cần nhiều nghiên cứu sâu hơn. Thông thường chúng ta nói thế khi chưa có thể trả lời thỏa đáng một vấn đề, tuy nhiên nghiên cứu sâu hơn cũng không bảo đảm chắc chắn sẽ tìm được câu trả lời thỏa đáng. Chúng ta biết rằng văn huệ và tư huệ giúp ta giải quyết nhiều vấn đề, nhưng những vấn đề khác thì phải cần đến tu huệ. Hiện tại, các dữ kiện nêu trên về các vấn đề cầu cơ, các nhà ngoại cảm, câu hỏi về ý căn… vẫn còn là những vấn đề chưa giải thích được. Có lẽ với những vấn đề này chúng ta phải cần đến tu huệ mới hy vọng có sự tiến triễn về “sự hiểu biết bản chất của tâm và chức năng của nó qua các sự trải nghiệm của công phu hành thiền”, nói theo lời Ngài Dalai Lama thứ 14. Một hành giả đi trên con đường Giới, Định, Huệ, hành thiền tích cực, có thể phát triễn trí tuệ, đạt được trí tuệ rốt ráo, thì có thể hiểu rõ bản chất, chức năng của tâm và hy vọng sẽ giải quyết được mọi vấn đề liên quan tới tâm.

Ngoài các kinh sách được trích dẫn trên đây, các tài liệu khác được tham khảo:

(1) Abhidhamma classes /CD /U Silananda Sayadaw /Tathagata Meditation Center
(2) Các dĩa CD, DVD ghi bài giảng về Vi Diệu Pháp của Sư Cô Tâm Tâm
(3) Abhidhamma In Daily Life của Nina Van Gorkom
(4) Buddhist Dictionary (Mannual of Buddhist Terms and Doctrines) by Nyanatiloka
(5) Tạng Diệu Pháp (Abhidhamma Pitaka Patthana) – dịch giả: Sư Cả Tịnh Sự, Trưởng Ban Phiên Dịch Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy – 1976.
(6) Thực Tại Hiện Tiền của Viên Minh (2005)

Cư sĩ Liễu Pháp (5/2009)

*Đây là bài của Cư sĩ Liễu Pháp, không phải bài của Tỳ Khưu Ni Liễu Pháp, chỉ trùng pháp danh và bút hiệu.;

Thái độ đúng đắn

Thư giãn và chánh niệm là những điểm cốt yếu, song có thái độ hành thiền đúng đắn và biết đặt tâm mình trong một khuôn khổ thích hợp cũng là điều rất quan trọng. Thái độ đúng đắn nghĩa là gì? Thái độ đúng đắn (yoniso manāsikāra) là một cách nhìn nhận sự việc, sao cho bạn luôn cảm thấy bằng lòng, tri túc-biết đủ, thoả mái và dễ chịu với bất cứ điều gì bạn đang trải nghiệm. Những quan kiến sai trái (tà kiến), những thông tin lệch lạc hay sự dốt nát, thiếu hiểu biết về những phiền não đang có trong mình sẽ có ảnh hưởng xấu đến thái độ của bạn.

Tất cả chúng ta đều có những thái độ sai lầm; bởi chúng ta không thể không có chúng. Vì vậy, đừng cố để có được thái độ đúng đắn ngay lập tức, mà thay vào đó bạn hãy cố gắng nhìn nhận rõ xem: mình đang có thái độ đúng đắn hay sai lầm. Biết mình đang có thái độ đúng đắn là điều quan trọng, song nhận rõ và thẩm ngiệm, xem xét những thái độ sai lầm của mình còn quan trọng hơn. Hãy cố gắng hiểu rõ hơn về những thái độ sai lầm của mình; phát hiện xem chúng ảnh hưởng đến sự thực hành của mình như thế nào, chúng khiến mình cảm nhận ra sao. Do vậy, bạn hãy luôn quan sát bản thân mình, luôn nhìn lại và kiểm tra xem mình đang thực hành với thái độ như thế nào.

Có thái độ đúng sẽ giúp bạn chấp nhận, hay biết và quan sát bất cứ điều gì đang diễn ra, một cách thư giãn và tỉnh thức – dù nó là dễ chịu hay khó chịu. Bạn phải chấp nhận và quan sát cả kinh nghiệm tốt lẫn kinh nghiệm xấu. Mọi đối tượng, mọi kinh nghiệm dù tốt hay xấu, đều đem lại cho bạn cơ hội học hỏi, để biết tâm mình có chấp nhận được mọi việc như chúng đang là hay không, hay là nó vẫn quanh quẩn, vương vấn với thích hoặc không thích, vẫn còn tiếp tục phản ứng hay đánh giá, phán xét.

Thích một điều gì có nghĩa là bạn đang khao khát, mong cầu điều đó (tham); không thích nghĩa là bạn đang muốn chối bỏ nó (sân). Tham và sân là những phiền não bắt nguồn từ si ám, vô minh – vô minh cũng là một loại phiền não. Vì vậy, đừng cố tạo ra một điều gì cả; bởi cố tạo ra điều gì là tham. Đừng chối bỏ những gì đang diễn ra; bởi chối bỏ điều đang diễn ra là sân. Không biết điều gì đó đang diễn ra hay đã chấm dứt không còn diễn ra nữa, đó là si.

Bạn đừng cố gắng bắt buộc mọi thứ phải xảy đến như mình mong muốn, mà hãy cố gắng hay biết những gì đang diễn ra như nó đang là. Nghĩ rằng mọi thứ nhất định phải như thế này thế kia, mong muốn điều này điều nọ phải xảy ra hoặc không được xảy ra, đó là chính mong cầu, mong đợi. Mong cầu sẽ tạo ra lo lắng, bất an và có thể dẫn đến sân. Điều quan trọng là bạn phải ý thức được thái độ của mình như thế nào!

Đánh giá, phán xét về pháp hành của mình rồi trở nên bất mãn, không hài lòng với cách thực hành của mình, đó chính là thái độ sai lầm. Sự bất mãn sanh khởi khi bạn cho rằng mọi thứ đã không diễn ra như mình nghĩ; hoặc do bạn mong muốn nó phải khác đi chứ không phải như thế này, hoặc do bắt nguồn từ sự ngu dốt, thiếu hiểu biết về một pháp hành chân chánh. Những thái độ này sẽ đóng

chặt tâm bạn và cản trở pháp hành của bạn. Hãy cố gắng nhận rõ sự bất mãn này, chấp nhận nó một cách hoàn toàn và quan sát nó một cách thật tỉnh táo. Trong quá trình quan sát và khám phá, những nguyên nhân của nó sẽ dần dần bộc lộ rõ ràng. Hiểu được nguyên nhân sẽ làm tan biến sự bất mãn và giúp bạn nhận diện rõ ràng mỗi khi chúng quay trở lại. Bạn sẽ ngày càng thấy rõ hơn những tác hại sự bất mãn gây ra cho thân, tâm mình. Bạn sẽ chánh niệm hơn về những thái độ đánh giá, phán xét củamình và sẽ dần dần từ bỏ chúng. Bằng cách này, bạn sẽ phát triển được những kỹ năng cần thiết để ứng phó với phiền não.

Thái độ sai lầm bắt nguồn từ vô minh. Chúng có mặt ở trong tâm của tất cả chúng ta. Tất cả thái độ sai lầm đều là những phiền não tham và sân, hoặc là bà con, họ hàng của chúng như là: mừng vui, sung sướng hay lo lắng,  buồn khổ. Không chấp nhận phiền não thì chỉ làm cho chúng gia tăng thêm sức mạnh mà thôi. Các loại phiền não sẽ cản trở sự tiến bộ của bạn và không cho bạn sống cuộc đời mình một cách hoàn toàn. Chúng cũng gây trở ngại cho bạn trên con đường đi tìm giải thoát và sự bình an đích thực. Đừng coi thường phiền não, chúng sẽ cười vào mũi bạn đấy!

Hãy nhìn cho rõ những loại phiền não đang có trong mình. Cố gắng hay biết những phiền não đang sanh khởi trong tâm. Hãy quan sát và cố gắng thấu hiểu chúng. Đừng dính mắc vào chúng, đừng chối bỏ hay làm ngơ, bỏ qua và cũng đừng tự đồng hoá mình với chúng (nhận chúng là mình). Khi bạn không còn dính mắc hoặc tự đồng hoá với chúng, thì chúng sẽ dần dần mất sức mạnh. Bạn phải luôn kiểm tra lại xem mình đang hành thiền với thái độ như thế nào.

Luôn ghi nhớ rằng, thiền chánh niệm là một quá trình học hỏi để thấy rõ mối liên hệ giữa thân và tâm của mình. Hãy thật tự nhiên và đơn giản; bạn không cần phải làm mọi việc thật chậm chạp một cách gượng ép, thiếu tự nhiên. Bạn chỉ đơn giản nhìn mọi việc như chúng đang là.

Bạn không cần phải gắng sức, gồng người lên để chú tâm. Khả năng chú tâm sẽ phát triển một cách tự nhiên nhờ sự thực hành đều đặn, kiên trì. Mục đích của chúng ta là để có chánh niệm ngày càng miên mật, ngày càng thường xuyên hơn. Chánh niệm càng liên tục thì tâm càng nhạy bén và tiếp nhận đối tượng trung thực hơn.

Đừng quên: đề mục không quan trọng, tâm quan sát đang làm việc ở phía sau hay biết đề mục đó mới thực sự quan trọng. Nếu bạn quan sát với một thái độ đúng đắn, thì bất cứ đề mục nào cũng là đề mục đúng đắn cả. Bạn có thái độ đúng đắn hay không?

Sayadaw U Tejaniya

Đi lên hay đi xuống?

tà kiến chánh kiến

Nhiều người thường bối rối khi làm một việc gì đó vì không biết là thiện hay bất thiện. Vì vậy, họ thực hiện nó, nghĩ rằng nó là tốt. Nhưng nếu họ nghĩ theo cách khác, họ đã không làm điều đó.

Vì nhiều người không hiểu điều gì là tốt hay xấu hoặc nhân và quả, điều gì sẽ hướng dẫn họ trong cuộc sống? Đó là tâm thích thú trong những hành vi sai trái, tự mình vui vẻ hưởng thụ trong đó.

Hãy so sánh hai hoạt động: đến để nghe pháp và đi xem một chương trình giải trí. Bạn thấy rằng việc đi xem chương trình giải trí sẽ dễ dàng hơn. Bất kể bạn đang làm công việc gì, tâm trí của bạn luôn hướng đến việc được giải trí. Tuy nhiên không phải tất cả mọi người đều giống nhau. Một số nói “chúng tôi không xem các chương trình giải trí. Chúng tôi chỉ nghe các bài thuyết pháp”. Điều này sẽ yêu cầu thay đổi tính cách của một con người và nuôi dưỡng những thói quen tốt. Nhưng thông thường việc lựa chọn giữa việc xem một chương trình giải trí và nghe một bài pháp thoại, tâm trí của bạn sẽ quan tâm hơn đến chương trình giải trí. Thật khó khăn để đi nghe thuyết pháp.

Bạn có thể hỏi, “Tại sao điều này lại khó đến vậy?” Câu trả lời là: “Pāpasmiṃ ramati mano“. Tâm trí có xu hướng duy trì theo phe ác hoặc bất thiện. Bên cạnh đó, nó dễ dàng hơn nhiều để làm như vậy. Cái nào ít đòi hỏi hơn: đi xuôi dòng hay ngược dòng? Đi xuôi dòng luôn được thực hiện một cách dễ dàng. Đặt mái chèo sang một bên, bạn chỉ cần ngồi lên con thuyền rồi để cho nó tự trôi theo dòng chảy. Nhưng điều này không thể thực hiện được khi bạn đi ngược dòng. Bạn không thể bỏ lỡ ngay cả một lần đánh của mái chèo. Nếu bạn làm như vậy, con thuyền lại trôi về phía hạ lưu.

Học giáo pháp và làm việc thiện có thể được so sánh với việc đi ngược dòng. Bạn luôn phải chèo thuyền, luôn phải phấn đấu. Nếu không nỗ lực phấn đấu, sự tiến bộ hoặc kết quả tự nó sẽ không xảy ra.

Dr Sayadaw Nandamalabhivamsa

Tám nguyên nhân phát triển tà kiến

(1) Suy xét sai trên các uẩn

(2) Vô minh (avijja)

(3) Tiếp xúc (phassa)

(4) Tưởng (saññā)

(5) Suy nghĩ (vitakka)

(6) Không khéo tác ý (ayoniso manasikāra)

(7) Thân cận với người thiếu trí

(8) Nghe những lời dạy sai.

(1) Nếu không có sự giúp đỡ từ Đức Phật và các bậc Thiện Tri Thức, khi thẩm tra và suy xét sai trên các uẩn sẽ phát triển tà kiến (micchādiṭṭhi) bởi vì suy xét đó dựa trên hiểu biết sai. Trước khi Đức Phật xuất hiện, con người đã tìm hiểu về nguồn gốc của mình, sau đó tạo ra một Đấng Tạo Hoá và phát triển các dạng tà kiến. Những người bám chấp vào tà kiến cố định (niyata-micchadiṭṭhi) và không từ bỏ quan điểm này, thì sau khi chết phải chịu đựng trong địa ngục. Làm thế nào để một vị Thần Sáng Tạo nào đó tạo nên bầu trời, bầu trời là một khái niệm và không bao giờ tồn tại. Tà kiến cố định nghĩa là tin rằng không có nguyên nhân (ahetukadiṭṭhi), không có kết quả (natthikadiṭṭhi), không có việc thiện, không có việc ác (akiriyadiṭṭhi). Tà kiến cố định thậm chí còn nguy hiểm hơn ngũ nghịch đại tội. Những người này, sau khi chết xuống thẳng đại địa ngục, phải chịu quả khổ thiêu đốt trong suốt thời gian lâu dài. Ngay cả khi thế giới bị phá huỷ, những chúng sinh này sẽ bị chuyển đến một thế giới khác để tiếp tục chịu đựng những đau khổ của họ.

(2) Vô minh (avijjā) phát triển tà kiến. Ở đây vô minh có nghĩa là không biết về Tứ Diệu Đế. Có hai loại trí tuệ: chân chánh và không chân chánh, trí tuệ chân chánh (samma ñāṇa) là về Tứ Diệu Đế, trí tuệ không chân chánh (micchā ñāṇa) là kiến thức thế gian, vì nó dựa trên tự ngã, tham ái, sân hận và si mê. Kiến thức này tạo ra tất cả các vấn đề trên trái đất, từ ô nhiễm nội tâm cho đến ô nhiễm trường.

(3) Tiếp xúc phát triển tà kiến. Với sự tiếp xúc của sáu căn và sáu đối tượng nên sáu thức sinh khởi. Từ đó mọi người sẽ bắt đầu cho rằng tôi thấy, tôi nghe, tôi ngửi,…theo cách này, tà kiến phát triển. Là một thiền sinh, điều quan trọng là phải quan sát khi ngay khi có sự tiếp xúc, vì vậy xúc (phassa) là một trong những yếu tố quan trọng để phát triển tà kiến hoặc trí tuệ. Trong pháp Duyên Sinh, xúc là điều kiện cho ái (taṇhā) sinh khởi. Điều này được miêu tả trong quá trình: Xúc → Thọ → Ái, nhưng xúc cũng có thể là điều kiện để tà kiến (micchādiṭṭhi) hoặc sân (dosa) phát triển.

Đức Phật dạy rằng đó là tà kiến về tham ái (diṭṭhi taṇhā). Sáu căn là sáu mảnh đất cho tà kiến tăng trưởng. Thân kiến không ngăn cản chúng sinh tái sinh vào cảnh giới tốt, nhưng tà kiến phát triển từ thân kiến, và tà kiến dẫn chúng sinh vào các cõi khổ. Do đó, thân kiến là pháp đáng sợ.

Vào sáng sớm, khi bạn bắt đầu mở mắt và nhìn xung quanh, tà kiến sẽ xuất hiện. Một người không có chánh niệm sẽ bị dẫn dắt bởi tà kiến, chỉ những người có tuệ minh sát mạnh mẽ mới tự do khỏi chúng. Từ khi mở mắt cho đến nhắm mắt đi ngủ, tất cả con người đang di chuyển xung quanh với tà kiến. Từ tà kiến, sau đó trở thành tham ái, và bám chặt vào tà kiến đó (diṭṭhupadhi). Khi chết sẽ chết cùng với tà kiến và tham ái trong của cải và vợ con.

Mỗi sự tiếp xúc của sáu căn với sáu cảnh nếu không chánh niệm thì tà kiến sẽ theo sau ngay lập tức mọi lúc, mọi nơi. Quan kiến về vô ngã rất sâu sắc, khó để hiểu hoặc chấp nhận rằng không có ai ở đó cả. Phần lớn mọi người không biết điều này, nếu tôi nói với bạn, bạn sẽ hỏi rằng vấn đề gì sẽ đến với tôi? Bạn cần biết rằng tà kiến sẽ theo sau cho tới khi đạt tới Tu Đà Hoàn Đạo.

(4) Tưởng tượng (saññā) sai dẫn đến phát triển tà kiến. Saññā là tưởng, tưởng tượng, tạo nên các tưởng về cha, mẹ, vợ con. Thực tại về tâm và thân (danh và sắc) biến mất, tưởng tượng xuất hiện và coi thân tâm giống như cha mẹ thật sự và nương tựa vào chúng. Không biết rằng đó chỉ là sự thật chế định (paññatti), tưởng coi chúng giống như sự thật tuyệt đối (paramattha) rồi phụ thuộc và bám víu vào chúng.

Có hai loại tưởng, đó là tưởng đúng và tưởng sai. Tưởng đúng trở thành chánh kiến và tưởng sai trở thành tà kiến. Bạn phải biết sự khác biệt giữa chúng. Tưởng sai đến từ tác ý sai (ayonisomanasikāra), hoặc thiếu kiến thức về giáo pháp. Tưởng đúng thì không phát triển tà kiến,  trong khi nhìn chỉ là cái nhìn, trong khi nghe chỉ là cái nghe,..

Nhưng do có khái niệm nên tà kiến đi vào, ví dụ: “tôi nhìn thấy một cô gái”. Bởi vì tưởng tượng sai lầm nên trở thành tà kiến, phần lớn tà kiến đến từ tưởng tượng. Do vậy con người đang sống dựa trên sự vô thường, đau khổ, vô ngã cũng như sinh, già và chết.

Tưởng điên đảo (saññā vipallāsa) dẫn tới tâm điên đảo (citta vipallāsa) và kiến điên đảo (diṭṭhi vipallāsa) tương ứng. Hiểu về bản chất của thân tâm hay ngũ uẩn rằng chúng chỉ là quá trình nhân quả được gọi là Tiểu Tu Đà Hoàn (cūla sotāpanna), và sau đó thoát khỏi kiếp sống từ các cõi khổ. Trở thành Đại Tu Đà Hoàn (mahāsotāpanna) bằng việc  từ bỏ tà kiến và sự chấp thủ vào tà kiến. Sau đó hoàn toàn thoát khỏi các cảnh khổ, bởi vì không còn phiền não ngủ ngầm về tà kiến (diṭṭhianusaya).

Mỗi khi tưởng (saññā) sinh khởi, bằng sự quan sát về vô thường của tưởng thì tà kiến không xuất hiện. Tưởng sinh khởi mà không quan sát kịp thì tà kiến theo sau. Ví như khi bạn nhìn đứa con trai, biết rằng chỉ là đứa con trai thì không tạo nên sai lầm, nhưng tôi sẽ nương tựa vào cậu ta, và kết quả là dính chặt vào tà kiến. Mỗi khi tưởng tới, hãy quan sát về tưởng. Nếu tưởng đúng trở thành thói quen thì sau đó không còn khó nữa, cái khó là thực hành để trở thành thói quen, đây là điểm rất quan trọng đối với thiền sinh.

(5) Suy nghĩ (vitakka) thiếu trí tuệ dẫn tới phát triển tà kiến. Vitakka có nghĩa là suy nghĩ dựa trên các đối tượng giác quan. Các quan điểm sai lầm trong khi suy nghĩ do thiếu kiến thức, hoặc do nghĩ về những điều không nên nghĩ. Suy nghĩ cần phải đi cùng với trí tuệ. Có hai kiểu suy nghĩ, suy nghĩ thiếu trí tuệ dẫn tới phát triển tà kiến và suy nghĩ với trí tuệ để phát triển chánh kiến. Hai chi đạo đầu tiên của Bát Thánh Đạo là chánh kiến (sammā-diṭṭhi) và chánh tư duy (sammā-saṅkappa) là suy nghĩ. Một số phật tử chuyển sang tôn giáo hay tín ngưỡng khác đã suy nghĩ mà không có trí tuệ đi cùng. Họ coi tà kiến là chánh kiến và chuyển sang các tôn giáo khác. Quan điểm sai lầm của các niềm tin khác đến từ những người thiếu trí tuệ nên không có khả năng tư duy đúng. Nghiệp và thiền định cũng có thể phát triển tà kiến, thậm chí ngay cả Chư Thiên và Phạm thiên. Chỉ có thực hành vipassanā là không liên quan với tà kiến.

(6) Không như lý tác ý (ayonisomanasikāra) dẫn tới phát triển tà kiến. Cho rằng vô thường (anicca) là thường (nicca), đau khổ (dukkha) là hạnh phúc (sukha), vô ngã (anatta) là có tự ngã (atta) và bất tịnh (asubha) là đẹp đẽ (subha). Đó là những ví dụ về không khéo tác ý. Bố thí với sự làm giàu vipassanā sẽ ngày càng đi lên cao hơn và không bị rơi xuống nữa. Đó là bố thí với khéo như lý tác ý, sau khi bạn đi lên vì trí tuệ sắc bén thì sẽ chỉ đi cao hơn nữa. Ngược lại với bố thí và thiền định mà không như lý tác ý, sau khi hết hiệu lực thì sẽ lại rơi xuống.

(7) Thân cận với người tà kiến dẫn tới phát triển tà kiến. Thân cận với bạn xấu (pāpamitta) sẽ phát triển tà kiến, thân cận với bạn tốt (kalyāṇa mitta) sẽ phát triển chánh kiến. Những người bạn xấu ở đây không chỉ là những người làm hành động bất thiện mà còn là những người có niềm tin vào các tín ngưỡng sai trái. Có một người Cơ Đốc Giáo chuyển sang Phật Giáo không phải vì nghiệp trong quá khứ mà do anh ta có liên hệ với một người phật tử. Anh ta nói rằng đó là nghiệp hiện tại của anh ấy, tức là được gặp gỡ với bạn tốt.

Tà kiến rất xa Niết Bàn, nhưng Niết Bàn thì khăng khít với chánh kiến. Thấy được vô thường sẽ trở thành chánh kiến, Niết Bàn tồn tại ở điểm cuối của vô thường. Giữa tà kiến và Niết Bàn là một khoảng cách không thể đo lường được. Do vậy Đức Phật đã cảnh báo mọi người về tầm quan trọng của việc thực hành để phá huỷ tà kiến, điều này còn khẩn cấp hơn cả khi đầu bạn đang bị bốc cháy và ngực bạn bị đâm bởi cây thương. Có nghĩa là đầu bị lửa đốt và ngực bị đâm bởi cây thương sẽ chỉ phải chết một lần nhưng nếu tà kiến không bị phá huỷ thì đau khổ không bao giờ chấm dứt.

(8) Nghe giáo lý sai sẽ dẫn đến phát triển tà kiến. Ví dụ, nghe những lời dạy sai rồi tin vào đấng sáng tạo như Thượng Đế hay Đức Chúa Trời. Thực ra, phần đông các Phật tử vẫn còn tà kiến và họ nghe những lời dạy của Đức Phật với tà kiến. Khi bố thí, cúng dường, họ sẽ nghĩ “nếu tôi làm phước, tôi sẽ nhận được kết quả”. Đây là chỉ là hiểu biết về sự thật chế định (kammassakatā ñāṇa), điều này không thể vượt ra khỏi các lậu (āsava), và vẫn nằm bên trong quan kiến về lậu (diṭṭhāsava).

Tà kiến sẽ bị tiêu diệt nếu bạn luôn được nghe được những lời pháp thoại như: “Quan điểm của tôi về năm uẩn là các hiện tượng có điều kiện (saṅkhata dhamma), chúng có bản chất là vô thường, khổ và vô ngã, vì vậy không coi chúng là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi”.

Nếu mọi người thực sự hiểu biết đâu là quan điểm đúng, đâu là quan điểm sai thì tà kiến sẽ không bao giờ xảy ra. Vì vậy các nhà sư có nhiệm vụ giải thích những điều này cho họ./.

Tà kiến: thường kiến và đoạn kiến

  • Quan điểm về thuyết vĩnh cửu hay còn gọi là thường kiến (sassata-diṭṭhi) là muốn hưởng thụ trong kiếp sống kế tiếp, sau kiếp sống này. Họ sẽ nhận được điều đó nếu họ thực hiện nó. Những người này sẽ đi tới kiếp sau và thích thú trong kết quả của thường kiến. Sau khi bạn làm xong thì không còn gì xảy ra nữa, và coi đó chỉ là các chức năng (kiriya matta). Đây là quan điểm về thuyết đoạn diệt, hay còn gọi là đoạn kiến (uccheda-diṭṭhi). Quan điểm này cho rằng không có bất kỳ sự kết nối nào.

Mỗi người đều có quan điểm riêng của chính mình. Người thường kiến không thể nhận ra Niết Bàn nhưng có thể đi tới nơi tái sinh tốt đẹp (sugati). Người đoạn kiến thì thậm chí còn không thể đi tới nơi tốt đẹp mà chỉ dẫn đến các cảnh khổ (apāya bhūmi). Bạn không thể nhận ra Niết Bàn nếu bạn không từ bỏ các tà kiến, thậm chí ngay cả khi bạn thực hành. Chúng ngăn cản trí tuệ về Đạo (magga-ñāṇa) và Quả (phala-ñāṇa). Nếu dạy pháp Niết Bàn cho những người tin vào thường kiến thì họ sẽ không thích. Họ thích ẩn mình trong vòng quay của sự tồn tại, không muốn nghe về sự kết thúc của cuộc sống vì muốn nhận ra Niết Bàn một cách chậm rãi.

Một số người rất nghèo với nhiều đau khổ, buồn phiền trong cuộc sống, họ tin rằng cái chết là giải pháp duy nhất cho họ. Triết lý của họ là sinh ra một lần, chết đi một lần và mong muốn chấm dứt sự sống. Đây là những người tin vào đoạn kiến, họ muốn lắng nghe về sự chấm dứt cuộc sống.

Tất cả những người này đều có quan điểm sai trái, bị dẫn dắt bởi tà kiến. Thường kiến không thích Niết Bàn vì tham ái trong sự hiện hữu (bhavataṇha). Hiểu biết sai đang ngăn cản họ nhận ra điều đó. Họ thích nghe những bài kinh giảng về tận hưởng cuộc sống. Đối với những người đoạn kiến, khi họ nghe pháp vipassanā, họ thích sự chấm dứt cuộc sống nhưng không hiểu về sự chấm dứt của khổ. Tất cả họ đều không đi theo con đường Trung Đạo, đều bị nghiêng về một trong hai cực đoan, hoặc là vĩnh cửu, hoặc là huỷ diệt.

Tôi sẽ nói về bản chất của họ. Người thường kiến tin vào hành động thiện và tránh xa các hành động bất thiện trong đời này và đời sau. Thật là khó để vượt qua khổ đối với họ, thậm chí ngay cả khi Đức Phật và các đệ tử của Ngài dạy họ về sự thật, bởi vì họ thích thú trong sự hiện hữu và trở thành.

Người đoạn kiến tin trong kiếp này và chuẩn bị để chấm dứt cuộc sống. Họ không làm các việc thiện, ngược lại họ dám làm các việc bất thiện. Nhưng họ có thể nhanh chóng từ bỏ tà kiến của mình nếu có cơ hội nghe những lời dạy của Đức Phật hoặc các đệ tử của Ngài. Sau đó họ sẽ nỗ lực thực hành để chứng ngộ Niết Bàn một cách nhanh chóng.

Những người đi trên con đường Trung Đạo thì biết rằng đó chỉ là năm uẩn với bản chất vô thường, khổ, vô ngã và bất tịnh. Bản chất của chúng chỉ là khổ. Bằng việc phân tích các uẩn với lý thuyết và thực hành bạn sẽ nhìn thấy chúng đến và đi như các bong bóng nước. Nhìn thấy các pháp sinh khởi thì sẽ thoát khỏi niềm tin đoạn kiến và nhìn thấy các pháp diệt đi thì thoát khỏi niềm tin vào thường kiến. Người đi theo con đường Trung Đạo thoát khỏi cả hai cực đoan của tà kiến. Người này không chấp nhận quan điểm về thường kiến và đoạn kiến. Trong thế giới hiện hữu chỉ có các pháp sinh khởi và pháp diệt đi, không có hiện tượng trường tồn vĩnh cửu hay đoạn diệt hoàn toàn. Trước đây mọi người có quan điểm thường kiến vì không nhìn thấy các pháp biến mất, và những người có quan điểm đoạn kiến vì không nhìn thấy các pháp sinh khởi. Họ không có những thông tin chi tiết như thế này trước đây. Do đó khi thực hành và nhận ra vô thường họ sẽ đi trên con đường Trung Đạo.

Bạn thử lấy móng tay cào lên cánh tay, bạn sẽ thấy các cảm giác xuất hiện rồi biến mất. Đối tượng của quan sát là vô thường và tâm quan sát, nhận biết đối tượng đó cũng vô thường. Đây là lý do chính tại sao tôi dạy các bạn về những điều này trong nhiều năm qua.

Tà kiến đến từ điên đảo (vipallāsa), những quan điểm sai lầm và niềm tin sai lầm đến từ sự điên đảo. Một số người tin vào thường kiến đang cố gắng tận hưởng cuộc sống, nên họ không thích Niết Bàn và ở rất xa Niết Bàn. Những người tin vào đoạn kiến mong muốn không còn gì xảy ra nữa, tin rằng sinh ra một lần và chết đi một lần duy nhất trong đời, nên họ đánh giá cao Niết Bàn. Tôi kêu gọi những người có quan điểm sai lầm này phải tự mình thực hành để tìm ra sự thật.

Sự thật và hiểu biết phải phù hợp với nhau. Trên thân này, bất cứ lúc nào bạn quan sát, cũng chỉ tồn tại vô thường, khổ, vô ngã. Nếu sự thật về thân này và sự hiểu biết trên tâm khăng khít với nhau, thì sẽ trở thành cakkhumanto ca passanti, người với cặp mắt có thể nhìn thấy điều đó.

Nếu bạn sinh ra bị mù loà thì cũng chết đi với mù loà. Đây là điều được nói bởi Đức Phật trong udāna pali. Phần lớn mọi người chết mà không nhận ra vô thường, họ chỉ biết sinh ra một lần rồi chết đi một lần trong đời sống. Những người này sinh trong bóng tối và chết trong bóng tối. Cơ thể này tồn tại như những hiện tượng vô thường và không nhìn thấy điều đó nghĩa là bị mù loà. Luôn coi những thứ không tồn tại thành ‘thân tôi, con trai của tôi, vợ tôi’ tức là bị điên. Vì vậy, đừng muốn trở thành xác chết điên khùng và mù loà.

Kẻ điên và người mù đều phải chịu đựng trong các cảnh khổ và chìm xuống dưới địa ngục trần gian. Con người chỉ coi trọng hình thức bên ngoài nhưng không biết điều gì xảy ra bên trong, cho đến cuối cuộc đời họ chết giống như kẻ điên và người mù. Thậm chí nếu bạn là người nhị nhân (dvihetukapuggala), bằng nỗ lực thực hành và nhận ra được vô thường, bạn sẽ kết thúc mục tiêu trong đời sống kế tiếp. Ngược lại không thực hành thì kiếp tới bạn sẽ tiếp tục tái sinh vào bóng tối và chết trong bóng tối. Bạn không chỉ sống trong bóng tối mà còn bị điên. Nếu không chữa khỏi chứng mù loà và điên khùng, thì thậm chí một vị Phạm thiên có thể trở thành một con lợn và một bậc Chuyển Luân Thánh Vương có thể trở thành một con chó, bởi vì bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra trong thế giới này. Mọi thứ đều có thể xảy ra, ngoại trừ Niết Bàn, bởi vì vòng luân hồi dài vô tận đối với tất cả chúng sinh.

Những người không đi trên con đường Trung Đạo đang bước đi ngẫu nhiên và theo cách cực đoan. Cả hai cực đoan đều không thoát khỏi già, bệnh, chết, cũng như không thể tìm thấy con đường tự do. Nếu không chữa trị thì người mù và kẻ điên sẽ không bao giờ đi trên con đường Trung Đạo. Chúng sinh đang di chuyển giống như những con giun. Một con gà đang đợi ở phía trước mặt nó, nhưng con giun không biết về điều đó và vẫn đang di chuyển hướng về phía con gà. Do đó con giun trở thành thức ăn cho con gà. Theo cách tương tự, chúng sinh bị Thần Chết ăn thịt. Bạn có thể mỉm cười khi bạn đi trên con đường Trung Đạo. Bạn có thể mỉm cười sau khi nhìn thấy vô thường, chán nản, và kết thúc các hiện tượng có điều kiện. Không có những điều này thì chỉ là nụ cười của những kẻ mù quáng và điên khùng.

Kiến điên đảo (diṭṭhi vipallāsa) chế ngự các bạn và hướng các bạn đến con đường chết. Nếu bạn nhìn với trí tuệ thì sẽ thấy các uẩn này chết vô số lần trong một ngày. Nếu ai đó trở thành thánh Nhập Dòng (sotāpanna) thì Đức Phật gọi người đó là āloko udapādi, người đạt được ánh sáng trí tuệ. Có được ánh sáng khi nhận được hạt giống của Đạo Tuệ. Sau khi nhận ra vô thường, bạn sẽ có được trí tuệ phù hợp với chân lý (sacca anulomika ñāṇa) và khi trí tuệ lớn mạnh sẽ nhìn thấy sự thật về khổ. Thật khó để nói cho mọi người trân trọng những điều này vì họ chỉ thích tái sinh trong những cảnh giới tốt đẹp. Nếu bạn nhìn thấy vô thường, thì bạn đang đi trên con đường Trung Đạo. Nhận ra vô thường và trở thành hạt giống của bậc thánh nhân (ariya). Phần lớn con người tái sinh làm súc vật trong nhiều tiền kiếp bởi vì sự tồn tại của con người là rất khó có được. Vì vậy các bạn phải chán gét và ghê tởm các uẩn này.

Đức Phật đã giải thích tính cách của người mù và kẻ điên. Người nắm giữ thường kiến tin vào kiếp sống kế tiếp là kết quả của thiện và ác, những người này thích làm điều thiện và sợ điều ác. Các bạn sẽ nghĩ rằng điều đó giống người có giới đức. Tuy nhiên nếu gặp được một vị thầy tốt, người ấy vẫn dời xa việc thực hành để nhận ra Niết Bàn, thậm chí nếu gặp được Đức Phật họ vẫn không chịu thực hành cũng như không từ bỏ quan điểm của mình. Lỗi của họ tuy nhỏ nhưng thật khó để vượt qua khổ. Họ rất miễn cưỡng cắt bỏ quá trình của các uẩn và không muốn từ bỏ dục lạc ngũ trần. Họ là những người có bản chất hiền lành, giả vờ là người đạo đức và không muốn thoát khỏi vòng tròn sinh tử (vaṭṭa). Do đó rất khó để giúp họ giải thoát. Đây là một niềm tin sai lầm và tinh vi, giống như rất khó để cạo tóc trên đầu của một đứa bé.

Người đoạn kiến thì mắc lỗi nặng, nhưng họ dễ dàng từ bỏ quan điểm của mình. Họ tin vào cuộc sống, không muốn trau dồi những hành động lành mạnh nhưng có thể làm điều bất thiện. Tuy nhiên họ dễ dàng vượt qua đau khổ nếu họ lắng nghe các bài thuyết giảng và có niềm tin vào đó.

Điều khó khăn là hầu hết mọi người tin vào thường kiến. Nếu bạn có đôi mắt sáng thì cả hai quan điểm này sẽ bị mất. Người đoạn kiến có thể phát nguyện thành đức Bồ Tát cho dù họ gặp rất nhiều khó khăn. Trong hai tà kiến này, đoạn kiến gần với Niết Bàn hơn. Nếu bạn thấy được vô thường của bất kỳ các uẩn nào thì cả hai tà kiến đều biến mất. Vì vậy nhìn thấy vô thường là vô cùng lợi ích. Nếu không bạn sẽ nghiêng về một bên. Do đó tôi thường xuyên hỏi rằng “bạn có nhận ra vô thường không?”

Ở đây thọ sinh khởi và sau đó không còn nữa, tâm sinh khởi và sau đó không còn nữa. Cần phải hiểu biết về chúng một cách tổng quan, đây là những điều quan trọng tôi phải nói với bạn. Bạn có thể đã gặp một vị Phật nào đó trong những kiếp trước, nhưng một trong các tà kiến này đã ngăn cản bạn giải thoát. Bây giờ bạn đã gặp được lời dạy của Đức Phật và phải thực hiện nhiệm vụ này.

Phân biệt theo tính cách thì người thường kiến có xu hướng nhiều về tham dục (rāga carita). Người đoạn kiến thì có tính cách sân hận (dosa caritta), người này sẽ không làm bất cứ điều gì nếu họ không muốn cho dù bất kể lý do gì, họ là những người thẳng tính. Nếu những người này có niềm tin trong giáo pháp thì họ có thể từ bỏ mạng sống của mình để tu hành. Người đoạn kiến là người sắc sảo, còn người thường kiến là người mềm mại.

Đức Phật đã dạy mọi thứ rất chi tiết và không giữ lại điều gì. Tất cả các bạn đều hiểu rõ về pháp Duyên Sinh, vì vậy đừng nghi ngờ về bản thân các bạn có đang ở con đường Trung Đạo hay không. pháp Duyên Sinh hướng dẫn các bạn về nhân và quả của các hiện tượng vô thường, vì vậy các bạn đang ở trên con đường Trung Đạo. Năm uẩn giống như giòng nước tuôn chảy, luôn ở trong trạng thái vô thường. Trí tuệ nói cho bạn biết điều này, trí tuệ giống như đang xem dòng nước ngũ uẩn tuôn chảy. Nước chảy vào phần trên và chảy ra phần dưới. Sự chấm dứt của sinh và diệt là Niết Bàn.

Tính không

Thật lợi ích khi nghe về pháp trống rỗng (suññata dhamma). Nhìn thấy sự trống rỗng (tính không) sẽ nhận ra Niết Bàn, đây là điều quan trọng. Trong Kinh Tập (sutta-nipāta), Đức Phật dạy Mogharaja rằng  nhìn thấy tính không sẽ nhận ra Niết Bàn. Quán tưởng các pháp là sự trống rỗng của cái tôi. Cái gì cần phải quan sát? Quan sát con mắt và cảnh sắc không phải là tôi, không phải là của tôi. Với sự tiếp xúc giữa mắt và cảnh sắc, nhãn thức sinh khởi, đây cũng không phải là tôi hay của tôi. Nếu bạn quan sát theo cách này sẽ thoát khỏi vương quốc của sự chết.

Tại sao tôi dạy về tính không (suññata dhamma)? Bởi vì nó sẽ biến mất cùng với Niết Bàn. Ngay cả bây giờ trong giáo lý của Đức Phật (Buddha sasana), lời dạy về thân và tâm đã gần như biến mất. Mọi người không biết về tính không bởi vì rất khó để hiểu rằng không tồn tại con người hay chúng sinh thực sự nào, tất cả chỉ là các hiện tượng trống rỗng. Nếu tôi nói về năm uẩn đang sinh và diệt, chỉ có vài người muốn chú ý đến điều này. Năm uẩn (khandha), mười hai căn (ayatana), mười tám giới (dhatu) và sự thật (sacca) là các hiện tượng trống rỗng. Sự sinh khởi và hoại diệt là trống rỗng của cái tôi, tương lai không còn một ai có thể dạy những điều này nữa. Trong các uẩn không có ‘tôi’ hay ‘của tôi’, nghĩa là nó trống rỗng về một con người hay một thực thể.

Vì không thể nhìn mọi hiện tượng là trống rỗng nên không nhận thấy tính không, như vậy quá trình duyên sinh sẽ tiếp tục tạo nên vòng tồn tại mới. Khi pháp trống rỗng biến mất thì lời dạy về pháp này cũng biến mất.

Nếu không thâm nhập được vào trong tính không, ‘tôi’ và ‘của tôi’ sẽ đi theo mọi lúc mọi nơi. ‘Tôi đang bị đau’ là tà kiến, rồi theo sau bởi sự chấp thủ (diṭṭhupādāna) vào tà kiến đó, và trở thành nghiệp (kamma). Bởi vì cảm giác nên trở thành ‘tôi cảm giác’. Điều này diễn ra bởi vì mọi người không thể nhận ra tính không nên dẫn đến các cõi khổ.

Một số người nói rằng “không có tôi” là một điều khó, trong thực tế, không có tôi dẫn đến Niết Bàn. Không cần tìm kiếm một nơi trốn thật đặc biệt để thực hành, chỉ cần chú ý và quan sát bất cứ cảm thọ nào sinh khởi, tuổi thọ của nó chỉ là một và hai. Một là sinh khởi và hai là diệt đi, nhìn thấy thọ diệt đi, khái niệm về tôi và của tôi không còn tồn tại nữa. Nhìn thấy vô thường, cả tôi và của tôi đều biến mất. Trong 31 cõi luân hồi chỉ tồn tại sự vô thường, ngoài ra đều là những cái tên được gắn vào. Cảm thọ có nhiệm vụ là cảm nhận chứ không phải là công việc của cái tôi.

Thiền minh sát là thực hành với sự chú ý và quan sát. Cảm thọ sinh khởi và biến mất, biến mất vì không phải là của tôi và tham ái cũng biến mất. Sau đó bạn biết về sự trống rỗng của cảm thọ. Quan sát với trí tuệ trở thành hiểu biết về tính không. Vì vậy Đức Phật nói rằng đến với sự rỗng không để thoát khỏi cái chết, có nghĩa là nhìn thấy Niết Bàn. Không nhận ra Niết Bàn lần đầu là do không hiểu biết về tính không, trí tuệ không thể đến từ kiến thức sách vở mà phải bằng kinh nghiệm trực tiếp.

Khi một cảm giác dễ chịu xuất hiện trên thân, biết trực tiếp rằng cảm giác dễ chịu xuất hiện, sau đó cái tôi sẽ biến mất. Cảm giác đó không phải là tôi, chỉ là cảm giác mà thôi, và trở thành trống rỗng với cái tôi. Nó không phải của tôi, cái mà vừa mất đi. Do đó nhìn thấy vô thường và không có cái gì là tôi hay của tôi. Đây là hiểu biết về tính không.

Liên tục quan sát hết lần này qua lần khác sẽ trở thành đạo lộ (magga). Khổ sinh khởi và biến mất cũng là khổ. Với sự hiểu biết hoàn toàn (pariññā) về điều này, sau đó tuệ Minh Sát sẽ trở thành Đạo Tuệ, và cuối cùng tất cả các hiện tượng sinh diệt đều đi đến chỗ kết thúc.

Vô thường là pháp trống rỗng cái tôi và của tôi, vì vậy hãy quán tưởng tính vô thường để vượt qua tham ái và tà kiến. Mục đích chủ yếu của tính không là phá tan tà kiến, nhưng cũng đồng thời xua tan cả tham ái.

Dukkha nirodho nibbānaṃ

Khổ diệt là Niết Bàn

Taṅhā nirodho nibbānaṃ

Ái diệt là Niết Bàn

Khi tham và sân diễn ra trên thân và tâm, bạn phải theo chúng. Tâm có tham tạo ra các hình thức tham lam. Pháp thiện, pháp bất thiện và pháp vô ký tạo ra các sắc thân tương ứng với chúng. Do đó cơ thể vật chất này là tập hợp của các pháp và phải tuân theo bản chất của các pháp. Pháp bất thiện tạo nên thân bất thiện trong cõi khổ. Hướng tâm vào bên trong sẽ thấy các pháp thiện và bất thiện sinh khởi lên mà không có một con người hay một chúng sinh nào cả. Tất cả chỉ là tập hợp các trạng thái tâm thiện hoặc bất thiện cùng sắc pháp tương ứng. Điều này đang xua tan tà kiến dẫn tới bốn cõi khốn khổ. Bằng việc nhìn nhận theo cách này các bạn đang trở thành đệ tử của Đức Phật. Đó chính là sự trống rỗng của con người hay bản thể, không có kiến thức này tà kiến sẽ không chịu rời đi.

Con người hay chúng sinh chỉ tồn tại trong giao tiếp mà không có thực. Thực hành nỗ lực sẽ nhận thấy cơ thể này được hình thành từ các hiện tượng có điều kiện và vô thường, chúng luôn thay thế và ra đi, thay thế nhau và ra đi. Ăn uống là thay thế và đại tiện là ra đi, đây là nhiệm vụ của các uẩn, chúng làm việc bận rộn suốt cả ngày. Thay thế liên tục là điều kiện bởi khổ. Pháp vô thường đang phá huỷ chúng. Mỗi khi con nai được sinh ra, nó bị con hổ ăn thịt, quá trình diễn ra theo cách này. Bạn đã vỡ mộng với chúng hay chưa?

Mọi người chỉ hướng tâm đến công việc kinh doanh buôn bán chứ không hướng đến các uẩn. Nếu các bạn hướng đến năm uẩn thì sẽ muốn chấm dứt các hiện tượng có điều kiện và vô thường. Vì vậy Đức Phật nói rằng không có sự thay thế và ra đi là Niết Bàn, nơi an vui lớn nhất. Mọi người nghĩ về Niết Bàn theo nhiều cách nhưng không cách nào đúng. Bằng kinh nghiệm trực tiếp, Niết Bàn là không thể thay thế và thay đổi.

Khi nhìn thấy tiến trình thay thế và ra đi càng nhiều, tâm càng trở nên ghê tởm, không hài lòng và không mong muốn nữa. Quá trình này trở nên tăng tốc và nhanh chóng hơn, sau đó chỉ còn thấy sự ra đi. Điều này tức là trí tuệ của bạn đang phát triển, ban đầu thấy rất nhiều sự sinh và diệt của các hiện tượng. Tiếp tục nỗ lực quan sát, tâm trí trở nên sắc bén hơn, không nhìn thấy sinh khởi nữa mà chỉ còn thấy sự diệt vong.

Đến một lúc nào đó sẽ không thấy bất kỳ sự sinh và diệt nào thì được gọi là thoát khỏi các uẩn. Khi đó bạn không thể tìm thấy các uẩn, tâm quan sát được trải nghiệm sự tự do khỏi các uẩn. Tôi đang hướng dẫn điều này cho các bạn, nhìn thấy sự tan rã ngày càng nhiều sẽ phát triển tuệ giác về sự sợ hãi (bhayañāṇa), và sau đó là tuệ giác về hiểm nguy (ādīnavañāṇa).

Khi bắt đầu giác ngộ hoàn toàn, ngài Sariputta muốn dời bỏ xác thân của mình. Không có niềm vui và sự tự do nào khi mang theo tấm thân ngũ uẩn đầy gánh nặng này. Vì vậy ngài Sariputta muốn đặt gánh nặng xuống và nhập Niết Bàn. Tất cả các bạn đều không giống như vậy, các bạn muốn đi chỗ này và chỗ kia bằng cách mang theo gánh nặng ngũ uẩn này. Bạn không nhìn thấy vấn đề của chúng và thậm chí rất hạnh phúc khi trở thành một người đàn ông.

Mọi người đều phải mang một bao tải lớn đang cháy trên lưng, tham ái luôn muốn bạn mang những bao tải lớn. Nếu sinh nhiều con, bạn sẽ trở thành một người cu li mang vác nhiều túi gạo. Hay tương tự như những người bốc vác ở bến cảng, họ không thích người khác làm công việc giống mình, vì họ muốn được được mang vác nhiều hơn. Thậm chí một số cư sĩ mong muốn được mang gánh nặng này và họ đang cầu nguyện điều đó trước các ban thờ tượng Phật.

Niết Bàn là nơi kết thúc của sự thay thế và ra đi. Tesam vupasamo sukho – kết thúc của chúng là hạnh phúc. Các hành và các uẩn là đối tượng để các bạn quan sát, tức là sinh và diệt của các uẩn. Cuối cùng không nhìn thấy bất kỳ ai trong số họ là đến giai đoạn đầu của Niết Bàn, tức là thấy Pháp. Ai không thấy vô thường thì vẫn còn mù quáng và điên khùng.

Có bốn đống phân trong phòng, nếu bạn không dọn dẹp sạch, về sau nó sẽ trở nên nặng mùi. Khi chứng ngộ Niết Bàn, nghiệp lực trên thân vẫn tồn tại nhưng bạn sẽ không thấy nó trên tâm. Mọi người xung quanh nhìn thấy cơ thể bạn nhưng bạn thì không bởi vì phiền não đưa bạn đến các cõi thấp hơn đã bị đoạn trừ. Khi Đức Phật nhập trạng thái Quả sẽ không còn nhìn thấy thân thể của chính Ngài.

Kinh nghiệm của mình và những người xung quanh là khác nhau. Nếu ai đó vẫn còn phiền não, những bậc thánh nhân không thể chịu đựng được mùi của họ. Trước kỳ kết tập tam tạng kinh điển lần đầu tiên, ngài Maha Kassapa đã nhận xét về ngài Ananda là: “có một con dê hôi ở giữa chúng ta”. Điều đó không làm phiền bạn nhưng làm phiền đối với các bậc thánh nhân. Các hành (sankhara) và vô thường (anicca) cũng giống như sinh và diệt.

Aniccā vata saṅkhārā, Uppādavayadhammino, Uppajjitavā nirujjhanti, Tesaṃ vūpasamo sukho.

Các pháp hữu vi thật không bền vững, nó có tính sinh diệt là thường, vì nhân sinh rồi diệt, diệt rồi sinh, nên thường hay có sự khổ não. Chỉ có Niết Bàn là pháp tịch diệt, dứt các pháp hữu vi ấy được, mới có sự an vui tuyệt đối.

Niết Bàn không có các uẩn có thể bị hiểu nhầm giống như sự trống rỗng, không có gì cả. Đừng coi Niết Bàn là hư vô. Khi bạn bị loét dạ dày và đau đớn không chịu nổi, bạn rất mong muốn được chữa khỏi. Khi được chữa khỏi, bạn có thoả mãn hay không? Khi đó bạn đang ở trong tình trạng không bệnh tật. Do đó Niết Bàn tồn tại và chỉ dành cho những người bị loét dạ dày muốn được chữa khỏi. Cơ thể này là ngôi nhà của viêm loét và các loại bệnh tật (roga), tất cả chúng ở đó. Với con mắt của bậc thánh nhân có thể nhìn thấy chúng. Không có bệnh là Niết Bàn. Biết rằng không có bệnh là Đạo Tuệ và sau đó là Quả Tuệ. Niết Bàn tồn tại nơi mà Đạo và Quả có thể sinh khởi.

Có các nhà sư, có người chưa được sinh ra, chưa được trở thành, chưa được tạo ra. Nếu không có cái không sinh, không trở thành, không tạo ra thì đây sẽ không phải là sự giải phóng từ cái được sinh ra, được trở thành, được chế tạo. Nhưng chính xác bởi vì đó là cái không sinh ra, không trở thành, không được tạo ra từ cái được sinh ra, được trở thành, được chế tạo. Vì vậy, Niết Bàn tồn tại (atthi).