Vô ngã

Chúng ta đang sống chung với những thứ không thuộc về mình. Chắc chắn là các uẩn này không tuân theo mong muốn của chúng ta, dù chỉ trong chốc lát. Sự tồn tại của thân này dựa trên năm uẩn. Nếu đưa ‘tôi’, ‘của tôi’ vào trong các uẩn, thân và tà kiến sẽ bị trộn lẫn, tạo thành ‘thân tôi’, ‘thân của tôi’ tạo nên thân kiến (sakkāya-diṭṭhi). Mọi người đang trộn lẫn cái ‘tôi’ không tồn tại vào các uẩn. Nếu thân tồn tại bởi chính nó thì không có vấn đề gì cả, nhưng cái ‘tôi’ đến trộn lẫn vào thân dẫn tới vô số vấn đề từ bên trong cho tới bên ngoài.

Một con rắn hổ mang sống một mình bởi chính nó thì không có chuyện gì xảy ra. Nếu bạn đến và chạm vào nó, bạn sẽ trở nên đau khổ, tương tự như vậy, bạn tới chạm vào thân này với tà kiến chính là nguyên nhân đưa bạn đến đau khổ. Các bạn cần nhớ rằng chỉ nên trộn ‘tôi’ với thân trong giao tiếp thông thường chứ không được tồn tại trong ý nghĩ.

Không phải là ‘tôi nhận thức’, mà chỉ là tưởng nhận thức. Không phải là ‘tôi đã làm’ mà là hành đã làm. Tự ngã phát sinh cùng với niềm tin vào thân kiến (sakkāya-diṭṭhi), tin rằng có cái ngã thường hằng, bất biến. Ngày hôm qua là tôi và hôm nay cũng là tôi. Hôm qua tôi không chết và hôm nay tôi vẫn còn tồn tại. Dựa vào thân kiến nên thường kiến (sassata-diṭṭhi) theo sau và đi bên cạnh. Tin vào thân kiến, tất cả các quan điểm sai lầm bám theo sau, nếu bạn bỏ rơi nó, tất cả sẽ đều tan biến. Thân kiến thực sự rất khủng khiếp.

Ai làm cho năm uẩn sinh khởi? Sắc uẩn (rūpa-khandha) sinh khởi bởi bốn nguyên nhân là nghiệp (kamma), tâm (citta), nhiệt độ (utu) và dưỡng chất (āhāra). Bốn danh uẩn (nāma-khandha) gồm thọ uẩn (vedanā-khandha), tưởng uẩn (saññā-khandha), hành uẩn (sankhāra-khandha), thức uẩn (viññāṇa-khandha) sinh khởi do các căn (dvāra) tiếp xúc với các đối tượng giác quan (ārammaṇa). Bốn nhân luôn luôn là điều kiện cho sắc uẩn sinh khởi, giống như ngôi nhà được chống đỡ bởi bốn cột trụ. Như vậy sắc uẩn là do bạn tạo ra hay tuân theo quy luật tự nhiên của chính nó? Sắc uẩn sẽ bị sụp đổ và diệt vong bởi một trong bốn nguyên nhân. Vậy chúng thuộc về bạn hay chúng bị điều khiển bởi bốn nguyên nhân?

Bây giờ bạn đã biết về sắc uẩn giống như sắc, và sau đó quan sát tiến trình thay đổi của sắc. Chúng là sắc và sắc là vô ngã. Dễ chịu hay khó chịu là thọ, thọ cũng thay đổi không ngừng, vì vậy đồng hoá cái tôi với thọ không thể xảy ra. Bạn nhận được những thứ mà không thuộc về mình, bạn sẽ vẫn sống nếu các uẩn ra lệnh cho bạn cuộc sống, nếu chúng muốn bạn chết thì bạn phải chết.

Chúng sinh bị áp bức và hành hạ bởi năm uẩn, bạn phải chấp nhận nếu chúng yêu cầu bạn sống tiếp, chịu đựng đau đớn hay thậm chí phải chết. Sau khi tái sinh đến bất kỳ sự tồn tại nào, chúng sẽ luôn coi bạn như nô lệ. Cũng đừng coi đó là điều không may mắn, nếu bạn cho đó là do nghiệp của hành động trong quá khứ thì trở thành tà kiến. Phàn nàn, đổ lỗi cho mọi thứ diễn ra xuất phát từ nhân của nghiệp sẽ trở thành tà kiến về nghiệp (kammavadi-diṭṭhi).

Có ba cách để loại bỏ tà kiến là bằng kiến thức, bằng thực hành với trí tuệ (ñāṇa) và bằng từ bỏ (magga). Tôi muốn các bạn nhận ra vô ngã bằng trí tuệ chứ không phải bằng kiến thức hay tư duy, trong năm uẩn bạn phải thấy một trong số chúng là vô ngã (anatta). Chỉ khi nhìn thấy được vô ngã bằng trí tuệ, tự ngã (atta) sẽ biến mất. Tà kiến về tự ngã (atta-diṭṭhi) và quan kiến về sự tồn tại của một thực thể (sakkāya-diṭṭhi) là giống nhau. Vô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngã (anatta) là ba đặc tính của tất cả các pháp hữu vi (saṅkhāra), nhận ra chúng là điều rất quan trọng, chỉ cần nhìn thấy một trong số chúng thì sẽ nhận ra các đặc tính còn lại. Để hiểu biết về vô ngã, trí tuệ cần phải thâm nhập vào trong các uẩn. Trí tuệ liên quan tới ba đặc tính này là chánh pháp, là vô thường và Đạo, khổ và Đạo, vô ngã và Đạo, nghĩa là hiểu trực tiếp ba đặc tính này với trí tuệ.

Tại sao Đức Phật dạy cả ba đặc tính này. Một số người có thể hiểu về vô thường và Đức Phật dạy về vô thường, một số người hiểu về vô ngã và Đức Phật dạy về vô ngã, một số người hiểu về khổ và Đức Phật dạy về khổ. Tuỳ theo căn cơ và trí tuệ của người nghe mà Đức Phật đưa ra lời dạy tương ứng. Vô thường là sinh khởi và biến mất, khổ cũng sinh khởi và biến mất, chúng đều có cùng bản chất tự nhiên.

Bạn sẽ biết tất cả về chúng nếu bạn quan sát chúng sinh khởi và biến mất. Bạn cũng sẽ đạt được trí tuệ siêu thế (magga-phala) nếu bạn đạt được trí tuệ hiệp thế (vipassanā-ñāṇa). Hãy quán tưởng về sự sinh và diệt của các pháp là vô ngã. Tại sao? Sinh ra không phải bởi ai đó, diệt đi cũng không phải do ai đó, các pháp diễn ra một cách tự nhiên. Nếu cái tôi không đến làm phiền thì là vô ngã. Tại sao con người không nhận ra được dù là Đạo Tuệ thấp nhất? Bởi vì bạn làm phiền quá trình sinh và diệt bằng cái ‘tôi’, ‘của tôi’, ‘tự ngã của tôi’.

Nếu trộn các uẩn với ‘tôi’, ‘của tôi’ thì trở thành thân kiến, sẽ không trở thành thân kiến nếu bạn không trộn chúng lại. Vì vậy phải xua tan thân kiến trước, nếu bạn đang làm những việc khác trước thì đúng là ngu ngốc. Trí tuệ không xua tan được tà kiến về thân kiến trước, thì ngay cả Đức Phật thuyết pháp cũng không thể nhận ra Niết Bàn. Trên thế giới chỉ tồn tại vô ngã, và bên ngoài thế giới cũng tồn tại vô ngã, đó là Niết Bàn. Một số người nói rằng bất cứ điều gì xảy ra đều là vô ngã, tức là bạn không thể làm được gì. Đây là ngôn ngữ của kẻ nô lệ, nó có nghĩa là bất cứ điều gì xảy ra, tôi chấp nhận điều đó. Bạn phải thay đổi loại vô ngã này, nếu không bạn sẽ không bao giờ vượt qua được nó.

Nếu bạn muốn trộn lẫn, hãy trộn lẫn với trí tuệ. Với mỗi sự sinh và diệt của các hiện tượng, bạn biết điều này với đạo lộ. Theo cách này, sẽ không còn dính mắc vào tà kiến, và không còn phải tái sinh trong các cõi khổ nữa. Đức Phật đã so sánh khổ ban đầu và khổ khi tà kiến đã mất giống như cát ở núi Meru và cát trên móng tay của Ngài. Khi tà kiến đã bị xoá bỏ, khổ vẫn còn tồn tại nhưng chỉ như số hạt cát trên móng tay của Ngài.

Việc tìm đá quý trong lòng đất không phải là điều chắc chắn, nhưng  mọi người ở đây đang làm việc chăm chỉ cho những điều không chắc chắn. Không muốn nhìn vào vô thường luôn luôn tồn tại, các bạn buông bỏ điều chắc chắn để làm việc chăm chỉ cho điều không chắc chắn. Các bạn phải rất cẩn thận, nếu không cái bạn đang làm sẽ dẫn bạn tới đau khổ hơn. Vì vậy, hãy làm việc cho mục đích hạnh phúc thực sự.

Tác ý bố thí cúng dường

bố thí cúng dường

Quả của bố thí. Bố thí cho kết quả ở các kiếp sau cũng như kết quả ở hiện tại (pavatti). Kết quả hiện tại có nghĩa là gặp được một người thầy tốt và là yếu tố hỗ trợ quyết định cho đạo lộ (magga). Bố thí bản thân nó cũng là một yếu tố hỗ trợ quyết định cho đạo lộ. Để được tái sinh làm người và được gặp giáo lý của Đức Phật là upanissaya. Nếu không có upanissaya và không có đôi tai tốt để lắng nghe giáo pháp thì không thể biết tới đạo lộ. Đức Phật dạy rằng chính upanissaya là nhân của đạo lộ và có thể dẫn đến Đạo và Quả.

Chủ ý bố thí. Bố thí được kết hợp giữa sự thật và chủ ý (cetana). Chủ ý cần phải theo sau bởi hiểu biết, trí tuệ (paññā). Đức Bồ Tát trong vô số kiếp quá khứ đã thực hành hoàn thiện các ba-la-mật bố thí (dana-parami) với mục đích trở thành Đức Phật Toàn Giác (Sammāsambuddho), nếu ý định ấy không được tuân theo thì không thể trở thành một vị Phật. Do ý định theo sau trí tuệ nên Ngài chứng ngộ Niết Bàn và trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Chánh Giác. Trí tuệ là phẩm chất quan trọng nhất để nhìn thấy khổ. Trí tuệ với tư cách là nhà lãnh đạo trong khi chủ ý theo sau. Bố thí với ý định chân chánh làm cho sức mạnh nghiệp lực suy giảm mặc dù trí tuệ vẫn đang tạo ra sức mạnh cho nghiệp lực. Do đó đây gọi là pháp cắt đứt nghiệp.

Bố thí cần phải hội tụ ba phẩm chất tâm linh bên trong, phải có sự quyết định mạnh mẽ trước khi bố thí, trong khi bố thí và sau khi bố thí. Từ khía cạnh của chư tăng, chúng tôi nhận những vật dụng này với mục đích tu tập để thoát khỏi tham dục, sân hận và si mê. Cúng dường mà không có dính mắc vào tự ngã thì sẽ thoát khỏi tà kiến. Đây là sự cúng dường giết chết tham ái và tà kiến, vì vậy nó mang lai vô số lợi ích và đang dẫn đến Niết Bàn.

Giàu có và tài sản có thể thay đổi bất cứ lúc nào trước khi chết. Chúng có thể gặp năm loại hiểm nguy, bị sử dụng sai mục đích hoặc mất mát bởi những người phiền não. Bạn không thể mang theo của cải tài sản sau khi chết, bạn phải bỏ tất cả lại phía sau.

Những người không làm việc thiện như bố thí, chia phước, và những việc lành khác thật sự là những người ngu ngốc, bởi vì thế giới của con người là nơi tốt nhất để chúng sinh vun bồi phước thiện và thực hành để dẫn tới thoát khỏi mọi khổ đau, nhưng thay vào đó con người đang lãng phí thời gian và cơ hội quý báu của mình vào các khoái lạc giác quan cũng như các pháp bất thiện.

Hãy thực hiện bố thí và kết thúc với tính vô thường. Điều này cũng có tính chất tương tự như bạn không bố thí. Bố thí với sự làm giàu trí tuệ cũng được hoàn thành như vậy, nhưng theo sau với vô tham, từ bi và trí tuệ. Nếu bố thí theo sau bởi tham, sân, si sẽ kết thúc bởi chính chúng. Sự khác biệt là kết thúc cái khổ này sẽ liên hệ và kết nối với cái khổ khác.

Bố thí với vô tham, vô sân và vô si thì không kết nối với vòng luân hồi. Bố thí với nhìn thấy khổ thì không kết nối với khổ. Không muốn là con đường vô tham, không muốn các uẩn và tài sản đang bố thí là đạo lộ. Các uẩn luôn luôn bị thiêu đốt bởi mười một ngọn lửa, các uẩn đang trở thành nhiên liệu. Do đó vì mong muốn chấm dứt nhiên liệu và dập tắt ngọn lửa nên các bạn bố thí.

Các bạn đang thay đổi suy nghĩ của mình vì không muốn cảm giác đau khổ của cái chết. Với sự nhàm chán khổ đau và cúng dường những vật dụng này, các bạn nên có tâm cúng dường chỉ với mục đích duy nhất hướng đến Niết Bàn.

Bố thí với trí tuệ

Bố thí (dāna) với mục đích trở thành con người hay chư thiên là nguyên nhân của đau khổ (dukkha), hay bố thí để cho các uẩn được hạnh phúc thì sự thật vẫn là khổ. Bố thí như vậy sẽ tiếp tục bị lạc trong Khổ Đế (dukkha-sacca). Vì vậy các bạn phải bố thí với mong ước giác ngộ Niết Bàn và sợ hãi tái sinh, vì sợ Khổ Đế nên phải bố thí với trí tuệ. Xuyên suốt quá trình bố thí các bạn làm giàu bằng trí tuệ, với mong muốn thoát khỏi các kinh nghiệm trực tiếp về khổ.

Như vậy thực hiện bố thí phải được quan sát trên các uẩn (khandha) với trí tuệ, không có sự quan sát về các uẩn thì chỉ là bố thí bình thường, đó không phải là cách bố thí tốt nhất. Đầu tư nhiều mà thu lãi ít thì không nên kinh doanh mặt hàng này. Các bạn hãy thực hành quan sát các uẩn trong năm phút.

Bất cứ uẩn nào bạn có đều chẳng tốt đẹp gì. Tất cả chúng là khổ, bất tịnh và vô dụng. Trong thân này là phân, nước tiểu, đờm, rãi, máu, mủ,… đều là sự bất tịnh, không có ai muốn lại gần sau khi bạn chết. Nếu bạn bố thí để cầu nguyện cho các uẩn thì cũng giống như cầu nguyện rằng: “Mong cho tôi nhận được những thứ ghê tởm và vô ích!”.

Ý nghĩa của samudaya (nguyên nhân của đau khổ) là pháp tạo nên những điều xấu. Do đó bạn đang mong cầu pháp xấu từ samudaya sacca. Mong cầu với pháp xấu xí, bạn nhận được điều xấu xí. Đó là pháp gian dối và xảo quyệt. Tôi đang nói về bản chất của sự thật, vì vậy bạn phải lắng nghe sự thật bằng đôi tai trí tuệ. Phần lớn mọi người  không có đôi tai trí tuệ, họ chỉ có đôi tai bị ô uế và thích nghe những điều ô uế.

Bạn cần phải tác ý khôn khéo (yoniso-manasikāra) với các uẩn già cỗi và mục nát này, để đổi lấy Niết Bàn không già và không mục nát. Bạn phải thay đổi cơ thể đang bị thiêu đốt này bằng Niết Bàn mát lạnh. Đây là cách bố thí để thay đổi từ khổ đau sang an lạc. Nếu bạn sử dụng tiền để ăn uống và chi tiêu rồi sẽ bị lửa phiền não thiêu rụi thành tro bụi. Do đó cách bố thí này đang kéo bạn ra khỏi lửa phiền não (kilesa).

Thực hiện bố thí không phải là sử dụng hết tiền từ người bố thí, thay vào đó người bố thí thu được lợi ích từ bố thí, một số Chư Thiên đã đến và đề cập điểm này với Đức Phật. Hầu hết mọi người, kể cả Phật tử, thường hỏi những người đã bố thí rằng “bạn đã bố thí hết bao nhiêu tiền?” Câu hỏi đúng phải là “bạn đã thu được lợi ích gì từ bố thí?”

Một ngôi nhà đang bị cháy, cái mà người ta lấy ra khỏi ngôi nhà là cái mà người ta thu được từ nó. Giống như ngôi nhà đang bị cháy, con người bị thiêu đốt bởi mười một loại lửa hay năm loại kẻ thù, và bố thí giống như cứu lấy những đồ vật trong ngôi nhà đang bị cháy. Điểm khác biệt ở đây là không bố thí vì mục đích cho thế giới con người hay thế giới chư thiên. Các uẩn sẽ vẫn bị cháy bởi lửa nếu các bạn làm vì mục đích này. Bây giờ chúng ta làm để tạo nhân cho Niết Bàn, theo cách này chúng ta có thể lấy ra tài sản vô giá không thể đốt cháy được.

Nếu bạn đang lấy ra những thứ trong ngôi nhà cháy như một người mù, thì chỉ lấy được những tài sản vô giá trị. Giả sử có một đứa bé trong ngôi nhà đang cháy, thay vì cứu lấy đứa bé trước thì người mù lấy những thứ khác ra, và hầu hết các Phật tử đang hành động như người mù này. Giữa một người mù và một người nhìn xa trông rộng thì hoàn toàn khác biệt, 31 cõi luân hồi không thoát khỏi lửa, chỉ có bên ngoài mới không có lửa.

Các uẩn đang bốc cháy, của cải cũng đang bốc cháy. Các uẩn đang bốc cháy bởi lửa của tái sinh, của già và chết. Của cải đang bốc cháy bởi năm tên trộm như nước lũ, hoả hoạn, trộm cướp, quan tham hay bởi thành viên trong gia đình. Do đó hôm nay các bạn thực hiện cúng dường với chánh kiến. Cho người khác theo cách thông thường thì rất dễ, tuy nhiên ngay cả điều này cũng khó đối với mọi người vì họ không biết lợi ích của nghiệp thiện hay quy luật nhân quả.

Tái sinh là Khổ Đế (dukkha sacca) và biết về Khổ Đế là Đạo Đế (magga sacca). Bạn cần quán tưởng rằng tôi đang bố thí những thứ này với hiểu biết về Khổ Đế. Đức tin đi theo sau và trí tuệ dẫn đầu. Bạn phải tin rằng ngoại trừ Niết Bàn, bố thí sẽ không bao giờ cho kết quả khác. Những thứ này được cúng dường cho mục đích Niết Bàn, do đó ngoại trừ Niết Bàn, đừng ham muốn những thứ khác. Trước đây các bạn khao khát những thứ khác nên đến tận bây giờ các bạn vẫn chưa thoát khỏi khổ. Những người sợ hãi khổ đau sẽ sớm nhận ra Niết Bàn, ai đó không sợ hãi khổ đau thì không bao giờ đạt tới Niết Bàn.

Sayadaw Mogok

Thời gian & vượt thời gian

thời gian và vượt thời gian

Nguồn gốc của thời gian (kāla) là mặt trời và mặt trăng, không có mặt trời và mặt trăng thì sẽ không có thời gian. Bởi vì có mặt trời, mặt trăng nên ngày và đêm xuất hiện, theo đó nhiệt độ (utu) cũng sinh khởi. Do có nhiệt độ nên con người mắc các loại bệnh tật và cơ thể trở nên già đi. Mỗi ngày trôi qua nhiệt độ đang ăn và đang nhai các uẩn (khandha), thời gian đang ăn và nuốt trôi các uẩn.

Con người cảm thấy hạnh phúc mỗi khi ngày mới đến và khi đêm đến họ cũng cảm thấy hạnh phúc. Mọi người đi làm vào ban ngày và nghỉ ngơi, thư giãn vào ban đêm nên họ không nhìn thấy sự hiểm nguy của thời gian. Tâm muốn vượt qua thời gian không thể sinh khởi. Ban ngày và ban đêm đang ăn các uẩn, cơ thể ngày càng già và trở nên yếu đi. Đừng sống dưới mặt trăng và mặt trời, khi bạn già mọi thứ sẽ bị mất. Bất cứ uẩn nào các bạn có, chúng sẽ không bao giờ được tự do khỏi mặt trời và mặt trăng vì các uẩn luôn luôn bị ăn bởi thời gian. Lợn, gà và các loài động vật bị ăn thịt bởi con người nhưng con người thì bị ăn mòn bởi thời gian.

Thời gian đang nuốt chửng tất cả các loại chúng sinh. Đây là con đường của những người không biết về sự thật, do đó bạn cần phải đốt cháy thời gian. Con người không biết về sự nguy hiểm, mất mát, thiếu sót của thời gian. Sự mất mát quả thực rất là sâu sắc. Chỉ tới khi Đức Phật xuất hiện trong thế gian này để hướng dẫn chúng sinh vượt qua thời gian, chúng ta mới biết đến cách vượt khỏi thời gian. Giáo pháp của Ngài là Akāliko, ngay lập tức vượt khỏi thời gian, không có thời gian, có thể kinh nghiệm tại đây và bây giờ, bằng sự thực hành theo Bát Thánh Đạo.

Phẩm chất của giáo pháp không phải chỉ để đảnh lễ, giáo pháp là dành cho thực hành. Vượt khỏi thời gian chính là Niết Bàn (nibbāna), Đức Phật dạy rằng trong Niết Bàn không có mặt trăng và mặt trời. Không có mặt trăng và mặt trời thì không có thời gian, không có ngày và đêm, sẽ không còn bệnh tật hay già chết, chỉ có sự hạnh phúc và giải thoát.

Chúng ta đã bị ăn bởi thời gian trong vô số kiếp quá khứ mà không thể đếm được. Bây giờ chúng ta phải ăn lại chúng. Đầu tiên chúng ta ăn thời gian, sau đó chúng ta phải vượt thoát ra khỏi dòng thời gian. Nếu ai đó đang cầu nguyện để trở thành một con chuột, điều đó có nghĩa là “cầu mong cho tôi bị con mèo ăn thịt”. Cầu nguyện để trở thành chư thiên hay phạm thiên cũng giống như cầu nguyện để thành một con chuột, tất cả đều bị già bởi thời gian, và cái chết đến gần bởi thời gian.

Bạn cần giải phóng chính mình dưới tác động của thời gian. Thời gian bị ăn bởi Đức Phật và các vị thánh A La Hán (arahant). Thậm chí, chỉ cần trở thành vị thánh Nhập Lưu (sotāpanna), một lượng lớn thời gian đã bị ăn bởi vị thánh Nhập Lưu ấy. Thời gian chỉ có thể ăn vị Thánh ấy không nhiều hơn bảy kiếp sống nữa. Niết Bàn là tự do và an toàn khỏi các hiểm nguy. Bạn có muốn đi tới đó không? Niết Bàn ở xa hay ở gần? Tại sao người ta không đến được đó. Bởi vì họ không được gặp  vị thầy có trí tuệ và không biết đến con đường thực hành Bát Thánh Đạo. Niết Bàn tồn tại ở điểm cuối cùng của các uẩn.

Trong vòng tròn mười hai duyên sinh (paṭiccasamuppada) có tám mắt xích từ thức (viññāna) tới nghiệp hữu (kammabhava) là quá trình hoạt động của các uẩn ở hiện tại. Đối với người bình thường, không thực hành Bát Thánh Đạo, cả tám mắt xích đều diễn ra và phát triển mọi lúc, mọi nơi. Nhưng bằng việc thực hành chỉ còn năm mắt xích hoạt động, từ thức (viññāna) cho tới thọ (vedanā), và cắt đứt sự tiếp tục của quá trình tại dây xích giữa thọ và ái (taṅhā). Bạn cần phải thực hành giữa thọ (vedanā) và ái (taṅhā). Kết thúc của các uẩn là Niết Bàn, kết thúc của ái là Niết Bàn.

… → Thức → Danh sắc → Sáu căn → Xúc → Thọ.

(cắt đứt mắt xích dẫn tới → Ái)

Ví dụ: Một cảm giác ngứa sinh khởi trên thân, đừng vội dùng tay gãi nó ngay mà hãy để ý cảm giác ngứa đó. Cảm giác ngứa sẽ có nhiều mức độ khác nhau, liên tục thay đổi theo thời gian, ban đầu chỉ là ‘hơi ngứa’, sau đó ‘ngứa’ rồi có thể là ‘rất ngứa’. Sau khi ‘hơi ngứa’ sinh khởi và mất đi thì cảm giác ‘ngứa’ sinh khởi. Sau khi cảm giác ‘ngứa’ sinh khởi và mất đi thì cảm giác ‘rất ngứa’ sẽ sinh khởi. Tất cả chúng sinh khởi và biến mất lần lượt từng cái một. Hãy quan sát sự khác biệt của chúng.

Tương tự như vậy, bạn xem xét các cảm thọ (vedanā) một cách liên tục. Sau khi cảm thọ dễ chịu (sukhā vedanā) biến mất, cảm thọ khó chịu (dukkhā vedanā) sẽ sinh khởi. Sau khi cảm thọ khó chịu biến mất, cảm thọ dễ chịu khác lại sinh khởi. Biết về khoảng không gian giữa chúng là trí tuệ trong hiện tại. Theo cách này bạn phải ăn mòn thời gian trong tương lai với Đạo Tuệ (magga ñāṇa). Sau đó bạn sẽ vượt qua thời gian và giải thoát khỏi sự ăn của chúng. Nếu đạt được Đạo Tuệ thì bạn sẽ ăn thời gian. Ngược lại chưa đạt được Đạo Tuệ thì thời gian sẽ tiếp tục ăn bạn.