Thường nghiệp

Vào thời Đức Phật có tỳ khưu Assajji bị bệnh nặng, Đức Phật tới thăm và hướng dẫn vị ấy thực hành vipassanā. Do cảm thấy đau đớn nên tỳ khưu Assajji không thể phát triển định tâm và sức mạnh tinh thần yếu đi. Đức Phật dạy rằng trong giáo pháp của Ngài, thiền định không được coi là giáo lý cốt lõi, cốt lõi là thực hành thiền quán. Có thể bạn đã thực hành trong khoảng thời gian khá dài mà vẫn chưa có định lực, nhưng đừng bao giờ để tâm yếu đuối. Thiền định không phải là bản chất thực sự trong giáo pháp của Đức Phật. Thiền định chỉ là pháp hỗ trợ và trí tuệ mới là pháp chính, hãy chú ý điều ta nói, rồi Đức Phật yêu cầu vị ấy thực hành vipassanā. Sau khi nghe lời hướng dẫn và khích lệ của Đức Phật, tâm tỳ khưu Assaji trở nên phấn chấn trở lại.

Đây là thọ (vedana), đây là tâm (citta), đây là năm uẩn (khandha). Tôi hỏi và ông hãy trả lời, rồi Đức Phật hướng tâm vị ấy đến các đối tượng cần quan sát. Do định lực của vị ấy không ổn định và đang bị ốm, nên Đức Phật hướng dẫn vị ấy thực hành chánh niệm dựa trên năm uẩn.

Ngay từ bây giờ, tất cả các bạn nên phát triển thường nghiệp, tức là tạo các nghiệp theo thói quen (āciṇṇakamma). Bất cứ cảm thọ nào sinh khởi, hãy quan sát tính vô thường của cảm thọ đó. Người có nhiều tà kiến nên quan sát tâm (cittānupassanā) và người có nhiều tham ái nên quán sát thọ (vedanānupassanā). Quan sát chúng bất cứ lúc nào và biến điều này trở thành thường nghiệp. Thường nghiệp có nghĩa là sự thực hành liên tục. Tôi thực sự nhắc nhở bạn về điều này. Tại sao? Bạn đang ước ao tìm kiếm sự giàu có cũng như không muốn rời xa những đứa con của mình. Của cải bạn làm ra sẽ để lại phía sau, kể cả gia đình và những đứa trẻ, điều này thật khó khăn cho cái chết. Tất cả những thứ đó đều không quan trọng, việc quan trọng là phát triển thường nghiệp được dạy bởi Đức Phật, trí tuệ (ñāṇa) nghĩa là thực hành liên tục.

Hãy quan sát nhiều lần trên tâm và cảm thọ. Vô thường và trí tuệ về vô thường (anicca ñāṇa) phải diễn ra khăng khít, đồng thời. Thực hành hàng ngày tạo nên thường nghiệp, với sự thực hành nhiều, thường xuyên sẽ tạo thành thói quen.

Tại thời điểm hấp hối, tâm không muốn rời xa các thành viên trong gia đình và cũng không muốn để mất của cải tài sản, tất cả những điều này xuất hiện trong tâm của bạn khi đó. Thường nghiệp (āciṇṇakamma) là một dòng nước chảy mạnh. Tâm không muốn rời xa gia đình giống như một khúc gỗ trôi ngang qua dòng nước, dòng chảy quá mạnh đã kéo khúc gỗ đi. Bạn cần thực hành vipassanā đều đặn hàng ngày giống như dòng nước chảy mạnh để khi hấp hối nghiệp lành theo thói quen sẽ cho kết quả và các cận tử nghiệp bất thiện (maraṇāsanna kamma) tránh xa. Để chết đúng cách, cần phải khẩn trương chuẩn bị ngay từ lúc này.

Thường nghiệp cần phải được thực hành mỗi ngày. Cận tử nghiệp (maraṇāsanna kamma) là nghiệp đến vào lúc gần chết. Nếu bạn không thực hành vipassanā, cận tử nghiệp sẽ cho ra kết quả, điều này rất khủng khiếp. Dính mắc với người thân trong gia đình là nguyên nhân dẫn đến tái sinh trong cảnh khổ. Dính mắc là tham ái. Theo pháp Duyên Sinh, tiến trình này là:

… → tham ái → thủ → nghiệp hữu → tái sinh trong cảnh khổ →…

Cận tử nghiệp ném bạn xuống các cõi khổ. Tất cả các bạn đều có nghiệp thiện và phước đức nhưng không phải lúc nào bạn cũng làm được những điều này, vì vậy bạn phải tiếp tục thực hành trên một trong bốn xứ Satipaṭṭhāna. Ô tô, tài sản, nhà cửa là những tên trộm, chúng sẽ tới khi bạn gần chết. Đây là những điều đáng sợ. Cận tử nghiệp gần với khoảnh khắc của cái chết, chúng sinh khởi gần với tâm tử. Một số đệ tử cư sĩ và tỳ khưu tái sinh trong các cõi khổ do những cận tử nghiệp này. Cận tử nghiệp xảy ra bởi vì họ đã không thực hành vipassanā hàng ngày. Với Đạo tuệ thì nghiệp không thể làm gì được bạn. Vì vậy bạn phải phát triển thường nghiệp vipassanā.

Hoàng hậu Mallika tại thời điểm hấp hối, nghiệp cận tử tới và rơi vào cõi địa ngục. Bà ấy đã cúng dường rất lớn trong thời Đức Phật. Nhưng bên ngoài Đạo tuệ thì không có gì là chắc chắn. Bắt buộc phải có Đạo tuệ hoặc phát triển thường nghiệp. Bạn cần ghi nhớ hai điểm này. Khi gần chết các vấn đề về gia đình và kinh doanh buôn bán có thể đến. Nếu không thực hành, đến lúc chia tay thì không dễ dàng.

Cận tử nghiệp cũng có thể đưa bạn đến tái sinh tốt đẹp hoặc thậm chí gửi bạn đến Niết Bàn. Chớ có lười biếng. Khi gần chết phải dồn toàn lực vào quan sát. Tại sao bạn dồn toàn lực vào quan sát? Đó là bởi vì thường nghiệp. Nếu không làm điều đó, nhìn thấy hình ảnh địa ngục trong tâm sẽ dẫn dắt bạn đến nơi giống như bạn thấy. Nhìn thấy súc sinh thì sẽ tái sinh giống như súc sinh. Một người đã đã phát triển thường nghiệp có thể thay đổi được tất cả hình ảnh cận tử (maraṇāsanna nimitta). Nếu nhìn thấy lửa địa ngục, anh ta biết rằng anh ấy phải đến đó hoặc anh ta cũng có thể nghe về những việc trước đó. Tại thời gian đó bạn phải nỗ lực thực hành quan sát.

Nhìn thấy tính vô thường dẫn tới thất vọng về vô thường và kết thúc của vô thường sẽ nhận ra Niết Bàn thực sự. Không có gì gọi là tinh thần yếu, một số người bằng thường nghiệp thậm chí có thể đắc quả Arahan khi gần chết. Nếu không có thường nghiệp một người có thể tái sinh dựa trên nimitta cận tử. Đức Phật giải thích sự khác biệt giữa cầu nguyện bằng tụng kinh và thực hành vipassanā. Người cầu nguyện dựa trên đức tin và sự nương tựa dẫn tới tái sinh hạnh phúc, còn người thực hành vipassanā dẫn đến Niết Bàn. Hãy cầu nguyện và tụng kinh ít đi và thực hành nhiều hơn. Nếu bạn thực hành nhiều, sẽ trở thành thường nghiệp. Đừng nghe những pháp thoại chỉ để lấy phước thiện, hãy nghe và áp dụng vào thực hành.

Đức Phật khuyến khích sự thực hành dẫn tới nhổ tận gốc dễ nghiệp thiện, nghiệp bất thiện cũng như nghiệp vừa thiện vừa bất thiện. Thực hành rồi dừng lại không thể trở thành thường nghiệp. Cần phải duy trì thực hành liên tục ngày này qua ngày khác. Nếu vô thường và Đạo trở nên khăng khít, thì bạn sẽ thành công. Ngài Assaji đã thực hành theo lời dạy của Đức Phật và trở thành vị thánh A La Hán trước khi chết. Thiền định chỉ hỗ trợ cho việc quan sát, đừng nghĩ rằng không có định thì không có đủ ba la mật. Thiền vipassanā được dẫn dắt bởi các yếu tố trí tuệ. Nếu bạn nhận ra được tính vô thường, định (samādhi) đã được bao gồm trong đó. Điều này cũng bao gồm giới (sīla) trong suốt quá trình thực hành.

Sư Chân Thiện dịch

Tiểu kinh phương quảng

Bạn sẽ có cơ hội tìm hiểu cuộc vấn đáp giữa thánh tỳ khưu ni Visākha và ông cư sĩ Dhammadinnā theo lộ trình từ thân kiến (sakkāyadiṭṭhi) cho đến Niết Bàn.

Sự tồn tại của thân (sakkāya) là như thế nào? Đó là năm thủ uẩn (khandha), năm thủ uẩn tồn tại nên thân này tồn tại. Quá trình tồn tại của thân tâm là sakkāya, đây là bản chất tự nhiên của các uẩn và chúng thực sự tồn tại, nên được gọi là sự tồn tại của thân, hay có thân. Điều này rất quan trọng cần phải hiểu rõ trước khi thực hành, vì giáo pháp dành cho mục đích thực hành để chấm dứt các uẩn, chứ không phải để cho tư duy lý luận.

Có thân thì không có lỗi, lỗi nằm ở tà kiến, sự tồn tại của thân nghĩa là cả thân (rūpa) và tâm (nāma). Sắc (rūpa) là sakkāya, nếu bạn coi sắc là ‘tôi’, là ‘của tôi’ sẽ trở thành tà kiến. ‘Tôi bị lạnh’, ‘tôi nóng’…theo cách đó, ‘tôi’ đang xen vào sự tồn tại của thân. Mọi người không biết rằng bản chất của sắc là khổ và cho rằng ‘sắc giống như tôi’, ‘sắc là của tôi’, do đó dẫn đến các cõi khổ. Quan niệm về sự tồn tại của thân theo những cách sai lầm trở thành thân kiến (sakkāyadiṭṭhi), vì vậy bạn cần phải biết rằng sắc chỉ là sắc, đó là trí tuệ.

‘Tôi có một bữa ăn ngon’, ở đây ‘tôi’ đang xen vào với thọ uẩn (vedanā-khandha). ‘Tôi nhận thức được điều đó’, ‘tôi’ đang xen vào với tưởng uẩn (saññā-khandha). ‘Đừng hiểu lầm ý định của tôi’, đây là ‘tôi’ đang can thiệp vào hành uẩn (saṅkhara-khandha). Cần phải lưu ý rằng ‘tôi’ trong cách nói chuyện hàng ngày thì không có lỗi, mọi người đã rõ ràng về điểm này và dùng trong giao tiếp thì không vấn đề gì. Đây là sự thật tương đối và chúng ta cần sử dụng để giao tiếp, Đức Phật cũng sử dụng điều này trong lời dạy của Ngài.

Nếu xen tà kiến vào trong bất kỳ một uẩn nào đó, nó có thể trở thành tà kiến về sự huỷ diệt hay còn gọi là đoạn kiến (ucchedadiṭṭhi). Ví dụ, ‘nếu tôi chết, tôi sẽ kết thúc’, ‘khi tâm tôi đi tới điểm kết thúc, tôi sẽ chết’, đây là ý tưởng của sự đoạn diệt hoàn toàn. ‘Tôi sẽ chết với thọ này’, điều này chứa đựng cả thân kiến (sakkāya-diṭṭhi) và đoạn kiến (ucchedadiṭṭhi).

Nếu một người có tà kiến thì sự chấp thủ vào tà kiến đó đi liền theo sau. Khi còn đang sống mọi người có quan điểm về thường kiến (sassatadiṭṭhi) và gần chết thì quan điểm là đoạn kiến. Khi kinh doanh buôn bán tiến triển tốt thì tin vào thường kiến, và khi bệnh tật ốm đau thì tin vào đoạn kiến. Không biết những điều này dẫn tới đời sống con người trở nên thấp kém.

Tà kiến là hạt giống của địa ngục. Tại sao? Nguyên nhân vì bám víu vào tà kiến đó, ‘tôi không bao giờ từ bỏ quan điểm của tôi’, trở thành chấp thủ (upādāna) và ‘làm cái mà tôi tin’ trở thành hành động (kamma). Hành động hay tà kiến dẫn tới tái sinh trong cõi khổ? Chúng ta thường nghĩ rằng rơi vào các cõi khổ là bởi vì hành động bất thiện. Thực tế thì không như vậy, tà kiến cài đặt chương trình và hành động bất thiện đi liền theo sau. Chúng đều là tham ái, Đức Phật còn nhấn mạnh rằng tà kiến là tham ái lớn, tâm tham chỉ là tham ái nhỏ.

‘Tôi không thể vượt qua thọ này’, đây là tự ngã (atta) đến và trộn lẫn với thọ (vedanā). Thọ sinh khởi và đoạn diệt bởi chính nó. Phải quan sát cảm thọ như một người xa lạ, cảm giác đau đến rồi đi, cảm giác dễ chịu đến rồi đi. Cảm giác trung bình đến rồi đi theo cách đó, tâm quan sát cũng giống như vậy, tất cả chúng đến rồi đi và đây chính là công thức để phá bỏ tà kiến. Cảm thọ sinh khởi và tâm quan sát đang diễn ra bên cạnh. Vì vậy, đừng có trộn lẫn chúng. Nếu bạn không trộn chúng vào nhau thì tà kiến không thể sinh khởi. Hãy coi đó như một người xa lạ và xem rằng đó không phải là chính mình. Khi đó hiểu biết về vô ngã (anatta) xuất hiện. Bạn phải quan sát các uẩn theo cách như vậy, coi các uẩn xuất hiện giống như những vị khách và chết cũng giống như những vị khách.

Tôi sẽ hướng dẫn bạn cách quan sát về vô ngã. Đức Phật vẫn còn khổ thọ trên thân nhưng không còn khổ thọ trên tâm. Đây là điều khác biệt với những người bình thường. Đức Phật chỉ còn đau trên thân mà không còn đau trên tâm. Tại sao như vậy? Bởi vì Ngài đã có khả năng quan sát các uẩn giống như một vị khách. Tất cả năm uẩn hay bất cứ cái gì sinh khởi là những vị khách, những vị khách đến rồi đi.

Nếu coi các uẩn như vật chủ, bạn sẽ đau khổ, như ví dụ ‘nếu con trai tôi chết, tôi sẽ bị tổn thương’. Trong thực tế thì không có gì là của bạn, con trai chỉ là một vị khách. Cậu ta đến với bạn nhưng không phải là bạn muốn thì cậu ta đến. Khi bạn muốn cậu ta đến và cậu ta không đến, bạn khóc lóc, vì bạn đã coi vị khách là ‘của tôi’. Phần lớn phụ nữ khóc, bởi vì họ coi khách giống như chủ. Trong cụm từ ‘con tôi’, ‘mẹ của tôi’ hay ‘con gái của tôi’, ‘tôi’ và ‘của tôi’ đang xen vào. Thân tâm cô con gái thì không liên quan gì tới thân tâm người mẹ. Con người khóc không phải vì những điều bất hạnh, mà nguyên nhân là do tự ngã (atta) xen vào. Chuỗi tà kiến của người mẹ kết nối với năm uẩn của cô con gái và sau đó chấp thủ vào tà kiến đó phát sinh (diṭṭhupādāna). Do đó nước mắt sẽ không rơi nếu không có sự lẫn lộn tạo ra thân kiến.

‘Dù cho có bất cứ điều gì xảy ra với thế giới, tâm tôi không lay động’, điều này không có tà kiến. Tâm bậc thánh nhân không lay động trước tám ngọn gió đời, không kết nối với chuỗi đau khổ của tà kiến. Một số người ở đây sẽ lo lắng trầm cảm khi có chuyện xảy ra với con cái của họ ở nước Anh, cách đây 600 dặm. Quá dài là chuỗi quan điểm sai lầm. Bạn khóc vì ai đó hành hạ bạn hay vì bạn đã trộn lẫn mọi thứ? Buộc hai con bò với nhau lại bằng một sợi dây, nếu một con rơi xuống vách đá thì con còn lại cũng sẽ bị rơi xuống.

Không còn thân kiến, bất cứ điều gì diễn ra với người mẹ, người con gái luôn ổn. Tương tự bất cứ điều gì xảy ra với cô con gái, người mẹ không sao cả. Theo cách này sẽ không tái sinh trong cảnh khổ và luôn an vui trong cuộc sống. Đừng có trộn lẫn các uẩn với thân kiến. Đức Phật nói rằng không có lỗi nào lớn hơn lỗi tà kiến. Tà kiến có thể dẫn đến làm năm trọng nghiệp. Giết cha của chính mình là tà kiến, với tà kiến không có gì là không dám làm. Trong các pháp bất thiện, tà kiến là pháp đáng sợ nhất.

Nếu tôi chết, thọ cũng sẽ chết, khi ngọn lửa tắt thì ánh sáng cũng biến mất. Vì vậy ngọn lửa và ánh sáng đi cùng nhau. Nhưng ngọn lửa và ánh sáng là hai thứ khác nhau, lửa là nóng và ánh sáng là sự sáng. Có nhiều loại thọ khác nhau lần lượt xuất hiện và bộc lộ sự không ổn định của chúng. Hãy thử quan sát sự sinh khởi và biến mất của các cảm thọ. Theo cách này sẽ không có ‘tôi’, ‘của tôi’ trộn vào trong quá trình của các cảm thọ, không có ‘tôi’ trong sự sinh khởi và không có ‘tôi’ trong sự biến mất, xem tất cả cảm thọ như những người lạ. Chúng sinh rơi xuống các cõi khổ không phải bởi cảm thọ mà bởi tà kiến nhưng cảm thọ điều kiện nên tà kiến (vedanā paccaya diṭṭhi).

Nguyên nhân của thân tâm này từ đâu? Từ tham ái (taṇhā), tham ái trong dục lạc giác quan (kāma taṇhā), tham ái trong sự trở thành (bhava taṇhā) và tham ái trong sự không trở thành (vibhava taṇhā). Nguyên nhân của thân tâm đến từ tham ái. Các uẩn sinh khởi từ tham ái (taṇhā), chấp thủ (upādāna) và nghiệp (kamma), trong đó nguyên nhân chính là tham ái. Tham ái không mất đi thì các uẩn vẫn tồn tại, các uẩn tồn tại thì già, bệnh, chết vẫn đi theo bên cạnh. Tất cả chúng sinh khởi bởi vì tham ái vào sự trở thành và bị vây quanh bởi các loại đau khổ. Vì mùi của con cá nên những con ruồi bay đến, vì thân này tồn tại nên sự nguy hiểm đang đến. Nguyên nhân từ pháp xấu xa chỉ mang lại điều xấu xa. Chúng đang sinh khởi, nếu bạn nhìn thấy sự thay đổi của sakkāya, bạn sẽ vượt qua đế chế của nó. Sự thật của sakkāya là khổ. Nhìn thấy Khổ Đế thì Tập Đế (taṇhā samudaya) phải gầy đi, sau khi làm giảm bớt tham ái, đau khổ ngày càng ít đi. Người có tình cảm sẽ gặp phải đau khổ và tự làm tổn thương mình, càng nhiều tình cảm thì càng nhiều đau khổ.

Khi nào thân tâm này kết thúc? Nếu tham ái kết thúc, thân tâm này sẽ kết thúc. Tóm lại, sự kết thúc của Tập Đế (samudaya-sacca) sẽ dẫn tới sự kết thúc của Khổ Đế (dukkha-sacca). Tham ái kết thúc thì Niết Bàn xuất hiện, đoạn diệt của tham ái là Niết Bàn. Đức Phật có thể nhập vào trạng thái của Niết Bàn thậm chí trong suốt thời gian Ngài thuyết pháp hay trong thời gian của hơi thở vào hay hơi thở ra, Ngài bắt đầu từ vô thường và ngay lập tức hướng về Niết Bàn.

Thực hành như thế nào để kết thúc sakkāya? Thực hành theo con đường Bát Thánh Đạo. Để đạt được Thánh Đạo thì phải nỗ lực thực hành phát triển năm chi phần là chánh niệm (sammā sati), chánh tinh tấn (sammā viriya), chánh định (sammā samādhi), chánh kiến (sammā diṭṭhi) và chánh tư duy (sammā saṅkappa). Chúng được gọi là năm chi đạo (pañca maggaṅga)

Sau khi đạt được Thánh Đạo đầu tiên, quá trình sẽ tiếp tục với tám chi đạo. Tại sao những yếu tố đó được gọi là tám chi đạo (aṭṭha maggaṅga). Bởi vì chúng cắt bỏ phiền não tạm thời. Nếu phiền não được cắt bỏ hoàn toàn sẽ trở thành pháp hướng tới Niết Bàn. Chỉ cần quán tưởng về vô thường và không cần làm gì hơn, bạn đang tạm thời ở trong Niết Bàn. Bố thí (dāna), trì giới (sīla) và thiền định (jhāna) chỉ là các yếu tố hỗ trợ cho maggaṅga. Năm chi đạo là các yếu tố hỗ trợ quyết định (upanissaya paccayo) và maggaṅga là con đường điều kiện (maggaṅga paccayo) tức là nguyên nhân xa và gần cho các Thánh Đạo. Bát Thánh Đạo bao gồm giới, định, tuệ, trong đó tuệ lãnh đạo, là yếu tố quan trọng nhất.

Sự bám víu vào năm uẩn (upādānakhandha) diễn ra như thế nào? Năm uẩn là đối tượng cho sự chấp thủ (ngũ thủ uẩn).  Tôi đến đây để giải thích cho bạn hiểu rõ hơn. Các uẩn tồn tại bởi chính nó, giống như các uẩn của con trai hay các uẩn của người vợ. Nếu chỉ có thân tồn tại, thì đó chỉ là các đối tượng giác quan mà không thể trở thành các đối tượng của sự bám víu (upādāna). Sự bám víu từ bên này kết nối với các uẩn bên kia tạo thành các uẩn bám víu. Bên kia là năm uẩn (khandha) và bên này là tham ái (taṇhā), hai khía cạnh này kết hợp với nhau trở thành các uẩn bám víu (upādānakhandha). Nếu không có sự kết nối thì chỉ là sự tiếp xúc giữa các đối tượng giác quan (ārammaṇa) và các căn (āyatana).

Các uẩn và tham ái không giống nhau, có tham ái vì bám chấp vào các uẩn. Mọi người không chịu đựng được thậm chí chỉ là bị muỗi đốt, do đó chúng kết nối với nhau. Các bạn không thể chịu đựng được khi chúng làm tổn thương các uẩn thân yêu của mình. Các uẩn là nơi trốn cho sự bám víu. Một số người trộn chúng lại với nhau, một số thì không. Những bậc thánh nhân (ariya) thì không có trong đó. Khi các bạn hạnh phúc hay đau khổ các bạn đều kết nối với tham ái. Chúng đang được kết nối giống như mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả, mặc dù chúng có bản chất khác nhau và không giống giống nhau.

Nguyên nhân của thân kiến đến từ đâu? Không có đầy đủ kiến thức, không lắng nghe giáo pháp từ các bậc thánh nhân và coi năm uẩn là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Nếu có đủ kiến thức và trí tuệ về các uẩn thì sẽ không còn tin vào thân kiến. Các uẩn là sakkāya và thân kiến đang xen vào chúng. Thật khó để xua tan thân kiến nếu không nghe giáo pháp. Có bốn nguyên nhân để trở thành bậc thánh Tu Đà Hoàn:

1/ Thân cận bậc Thiện Tri Thức

2/ Lắng nghe giáo pháp

3/ Tư duy chân chánh

4/ Thực hành dựa trên lời dạy

Tri thức và trí tuệ bắt nguồn từ đâu? Bắt đầu lắng nghe giáo pháp và thực hiện tròn đủ bốn yếu tố trên để liễu ngộ giáo pháp. Pháp thoại của tôi mỗi ngày đều nhắc đến tà kiến như là hạt giống của địa ngục. Nó nguy hiểm hơn so với tham lam, sân hận, si mê, ganh tỵ và hám lợi. Nếu thân kiến bị đoạn diệt, một phần tư tham sân si bị phá bỏ, bao gồm cả ganh tỵ, hám lợi và bất cứ cái gì liên kết với chúng. Nếu bạn không muốn rơi xuống cõi khổ thì hãy phá huỷ thân kiến trước. Thậm chí nếu bạn không sợ các phiền não khác thì bạn phải sợ thân kiến. Bố thí, giữ giới, thiền định có thể dẫn tới cảnh giới tái sinh tốt đẹp, nhưng sau đó bạn sẽ tiếp tục bị kéo xuống cõi khổ bởi tà kiến. Nếu bạn không phá huỷ thân kiến, nó sẽ tạm thời tăng lên.

Không có gì đáng sợ hơn là tà kiến. Xuất phát từ tà kiến, một số người có thể giết cha, giết mẹ của mình, năm trọng nghiệp tới từ tà kiến. Đối với bậc thánh Tu Đà Hoàn những điều đó không bao giờ diễn ra. Mọi người nói rằng sợ các pháp bất thiện. Đừng sợ hãi! Nếu bạn phá huỷ tà kiến, không cần phải lo lắng về bất cứ pháp bất thiện nào.

Thân kiến sẽ dẫn dắt các pháp bất thiện khác và gửi chúng sinh tới tám địa ngục lớn và mười hai0 địa ngục nhỏ. Nếu bạn thấy sakkāya, tà kiến sẽ bị xua tan. Tại sao? Vì trở thành chánh kiến nên tà kiến biến mất. Tà kiến phải được tiêu diệt bởi chánh kiến. Bất kỳ bệnh tật nào cũng được chữa khỏi bằng thuốc cho bệnh đó. Bố thí, giữ giới và thiền định thì không thể vượt qua được tà kiến. Tốt hơn là hãy làm nghiệp tốt sau khi đã xua tan được tà kiến, nếu không bạn lại bị rơi xuống lần nữa. Đức Phật khuyến khích bố thí, giữ giới, thiền định để phát triển vipassanā. Thân kiến sinh khởi bởi vì không biết về thực tại. Do đó, nhận biết về sự khác biệt rõ ràng trước rồi hãy làm phước thiện sau.  Ví dụ như thợ săn bắn một con chim bằng mũi tên độc nhưng mũi tên chỉ trúng vào da. Con chim tiếp tục bay xa khi chất độc chưa lan ra, nhưng khi chất độc lan ra khắp cơ thể thì nó bị rơi xuống. Theo cách tương tự, bất kỳ phước thiện nào làm với tà kiến chỉ tạm thời đi lên và sau đó lại rơi xuống bởi tà kiến.

Tại sao tà kiến sinh khởi? Khi Đức Phật xuất hiện, có nhiều bậc thánh nhân xuất hiện theo, nhưng con người vẫn bị tà kiến bởi vì họ không được gặp và không được nghe giáo pháp từ các bậc thánh nhân ấy. Ngày nay con người vẫn bị tà kiến bởi vì họ không có cơ hội nghe giáo pháp, nên không bao giờ xua tan được tà kiến. Không có gì quan trọng hơn là xua tan thân kiến. Khi năm uẩn sinh khởi và không  biết chúng sinh khởi sẽ trở thành thân kiến.

Ví dụ, có cảm giác căng cứng trên cơ thể, bạn lấy tính chất căng cứng của yếu tố đất (paṭhavī) và nghĩ rằng ‘tôi đang căng cứng’. Đối với người hiểu biết, thì đó chỉ là sự thay đổi của yếu tố đất. Đừng trộn lẫn yếu tố ‘đất’ với ‘tôi’, đất chỉ là đất, nóng và lạnh cũng vậy, đừng trộn thành ‘tôi nóng, tôi lạnh’, nóng lạnh chỉ là yếu tố lửa (tejo). Khi bị tiêu chảy, ‘tôi không biết điều gì đang xảy ra’, coi yếu tố nước (āpo) giống như ‘tôi’, ‘của tôi’,… cứ như vậy họ coi tứ đại (mahābhūta) như là ‘tôi’. ‘Chân tôi bị ngứa’, không biết về thọ uẩn sinh khởi và biến mất trở thành thân kiến. ‘Tôi quên’ là tạo nên cái ‘tôi’ vào trí nhớ. ‘Tôi muốn ngủ’, tạo cái ‘tôi’ vào hôn trầm và thuỳ miên của hành uẩn. ‘Đừng kiểm tra tôi’, nhận thức giống như ‘tôi’. Mỗi khi các hiện tượng thực tại chân đế sinh khởi và biến mất đều bị trở thành tà kiến. Chúng diễn ra bao nhiêu lần trong một ngày? Không thể đếm được!

Khi nào không có thân kiến ở đó? Bất cứ hiện tượng nào sinh khởi, quan sát hiện tượng đó giống như ‘không phải là tôi’, ‘không phải là của tôi’, ‘không phải là tự ngã của tôi’, sau đó thân kiến sẽ bị xua tan. Quán tưởng sự sinh khởi của thọ, của tâm cũng như các trạng thái của tâm là vô thường, khổ và vô ngã. Những người đã xua tan được thân kiến sẽ không bao giờ rơi xuống bốn cõi khổ.

Pháp nào có thể phá huỷ thân kiến? Thực hành Bát Thánh Đạo sẽ vượt qua được thân kiến.

Có sự khác biệt giữa các yếu tố của Bát Thánh Đạo? Bát Thánh Đạo được chia làm ba nhóm riêng biệt: nhóm về giới (sīla), nhóm về định (samādhi) và nhóm về tuệ (pañña).

Tại sao có ba yếu tố khác biệt trong nhóm về định? Bởi vì chúng không thể thực hiện công việc một cách riêng lẻ. Với sự trợ giúp của chánh niệm (sammā-sati) và chánh tinh tấn (sammā-viriya) nên chánh định (sammā-samādhi) phát triển. Chú giải đưa ra một ví dụ, làm thế nào để hái bông hoa trên cao mà bạn không thể với tới? Người thứ nhất đưa tay và cong lưng của anh ta cho người thứ hai leo lên. Người thứ hai leo lên lưng người thứ nhất còn người thứ ba đứng bên cạnh người thứ nhất và đưa vai cho người thứ hai bám vào. Tương tự như vậy trong thực hành vipassanā, người thứ nhất uốn cong lưng được ví như chánh tinh tấn. Người thứ ba đứng bên cạnh tương tự như chánh niệm. Chánh định giống như người thứ hai hái bông hoa đó. Chánh niệm và chánh tinh tấn là các yếu tố hỗ trợ cho chánh định. Trong vipassanā, không có nỗ lực, không có chánh niệm thì không thể có chánh định. Chỉ sau đó định mới có thể trực tiếp hướng tới đối tượng. Muốn phát triển định thì đừng rời xa niệm và cũng đừng giảm nỗ lực. Phải có định tâm mới có thể nắm bắt được vô thường. Nếu bạn không thể nắm bắt được vô thường, nghĩa một trong ba yếu tố này đang bị thiếu.

Ba yếu tố này rất quan trọng, chánh tinh tấn đang đẩy từ phía sau và chánh niệm đang giúp chánh định hái bông hoa trên cao. Điều này chỉ diễn ra khi hội tụ đủ ba yếu tố lại với nhau. Nếu thiếu một trong ba yếu tố, bạn phải nhận ra và sửa chữa. Chánh định sẽ hướng đến đối tượng của vô thường, nhưng định không thể nhìn thấy, chỉ dẫn đến đối tượng. Để hướng tâm về một nơi thì cần phải có định. Chỉ có trí tuệ mới nhìn thấy vô thường. Vô thường cũng không được thấy bởi chánh niệm, chánh niệm chỉ hướng về phía đó. Ba yếu tố kết hợp với nhau và trực tiếp hướng đến một đối tượng giác quan nhưng không thể nhìn thấy vô thường. Bạn phải biết điểm này, đây là điều quan trọng đối với thiền sinh. Định chỉ chạm tới bông hoa, nó không thể chọn tốt hay xấu. Tại sao vậy? Nó chỉ trỏ đến đối tượng. Cái này là vô thường và là hiện tượng có điều kiện, ở đó không liên quan tới định, định là yếu tố giúp ích cho trí tuệ.

Tại sao tuệ được chia làm hai yếu tố khác nhau? Đó là chánh kiến (sammā-diṭṭhi) và chánh tư duy (sammā-saṅkappa). Tại sao chúng lại đi cùng với nhau? Đôi mắt đang trong tình trạng tốt, nhưng để chọn một vật là tốt hay xấu, cần phải có một cái gì đó quay xung quanh đối tượng đó. Ví dụ, khi bạn thấy một đối tượng nhưng chỉ mới nhìn được một phần của đối tượng, bạn không thể nhìn thấy những phần khác của đối tượng. Để nhìn thấy những phần khác của đối tượng, bạn phải đi xung quanh đối tượng để quan sát. Phần này  như thế này, phần kia như thế kia. Chánh tư duy cung cấp cái nhìn, cái nhìn về vô thường.

Trí tuệ đang quan sát đối tượng. Sinh khởi là một cái gì đó và biến mất là một điều khác. Ai đó phải cung cấp cái này để quan sát, chỉ thấy sinh mà không thấy diệt, chỉ thấy diệt mà không thấy sinh, và sau đó chánh tư duy trở nên yếu.

Sammā là đúng, chân chánh và saṅkappa là tư duy, suy nghĩ; sammā saṅkappa là suy nghĩ, tư duy đúng đắn. Tôi muốn đưa ra một ví dụ: dùng kính để hỗ trợ cho người có thị lực yếu. Khi đeo kính sẽ thấy một chàng trai trẻ và nhìn thấy rất rõ ràng với sự giúp đỡ của cái kính. Không có kính bạn vẫn thấy nhưng không rõ ràng. Mắt ở đây là chánh kiến, và cái kính là chánh tư duy. Theo cách này có thể nhìn thấy toàn bộ quá trình. Nếu bạn không thể nhìn rõ, sẽ được trợ giúp từ chánh tư duy. Tư duy, suy nghĩ là vitakka, và nó mang lại sức mạnh cho sự quan sát.

Tại sao giới lại được chia làm ba yếu tố khác nhau? 

Do cùng là kiêng tránh nên chúng cùng thuộc nhóm giới (sīla) nhưng có nhiệm vụ khác nhau. Nếu một yếu tố tồn tại thì hai yếu tố kia không được bao gồm. Chánh ngữ (sammā vāca) và chánh nghiệp (sammā kammanta) thực hiện những công việc khác nhau, do vậy cái này không thể giúp cái kia trong quá trình chúng xuất hiện. Chúng có nghiệp khác nhau. Đối với thiền sinh, giữ gìn năm giới và thỉnh thoảng giữ tám giới. Định và tuệ có thể đi cùng nhau nhưng giới thì không, vì vậy giới không thể giúp những yếu tố khác. Xuyên suốt quá trình thực hành vipassanā giới không được bao gồm. Nếu cái này được bao gồm thì cái kia không.


Khi nào thì giới, định, tuệ đi cùng với nhau? 

Đó là thời điểm tâm hướng về Niết Bàn. Tuy nhiên không có nghĩa là chúng không đi cùng nhau, khi thực hành bạn phải giữ giới, giới không trong sạch là một trong các nguyên nhân khiến chúng không đến được với nhau. Chưa có chánh kiến thì giới vẫn chưa ổn định, chánh kiến giúp phát triển vipassanā. Ai đó có tà kiến không thể dựa vào giới và dễ dàng phá vỡ các quy định của giới. Những nhà sư có giới nhưng chưa xua tan được tà kiến vẫn có thể tái sinh thành naga hay con rận. Hãy tự do khỏi bốn cõi khổ bằng cách phá huỷ tà kiến. Tà kiến là mầm mống của địa ngục, cái mà tôi nhắc nhở các bạn hàng ngày, điều này đang trở nên rõ ràng.

Nếu bạn nhổ tận gốc dễ thân kiến, thì thường kiến và đoạn kiến cũng biến mất theo. Cả hai đều bắt nguồn từ thân kiến, chỉ khi thân kiến mất đi bạn mới nhận ra được Thánh Đạo đầu tiên.

Diṭṭhi nirodho Nibbānaṃ

Chấm dứt của tà kiến là Niết Bàn.

Sau khi tà kiến ra đi, không có pháp nào có thể ngăn cản hay cản trở đối với những Thánh Đạo cao hơn. Từ đây trở đi giáo pháp sẽ dẫn đầu, và công việc thực hành vẫn được tiếp tục. Sau khi tà kiến bị phá huỷ thì không cần ai dạy về Đạo lộ cao hơn. Đức Phật chỉ dạy về bốn nhân để nhập vào dòng thánh, và không áp dụng cho các Đạo lộ cao hơn. Tà kiến biến mất thì hoài nghi cũng biến mất. Do vậy, ngăn cản tất cả các Đạo Quả là tà kiến. Sau khi nhổ tận gốc dễ tà kiến, không ai có thể tái sinh quá bảy kiếp. Mỗi khi bạn nhìn thấy pháp chân đế, hãy quán tưởng đó không phải là tôi, không phải của tôi, không phải là tự ngã của tôi và chúng có bản chất là vô thường.

Tà kiến bị mắc kẹt ở đâu? 

Tà kiến xuyên vào bên trong các uẩn như là phiền não ngủ ngầm (anusaya kilesa). Nếu bạn thấy vô thường trong các uẩn thì tà kiến sẽ không thể đi vào. Ví dụ, cảm thọ khổ mà bạn cảm giác trên thân xảy ra trong thời gian dài vì bạn không nhìn thấy sự thay đổi hoặc cắt đứt được sự liên tục (santati). Nếu bạn coi các uẩn là thường hằng thì tà kiến sẽ đi vào, ngược lại nếu bạn có thể quan sát vô thường một cách chi tiết thì tà kiến sẽ dần biến mất. Thấy các uẩn trong hiện tại chỉ là sinh và diệt thì tà kiến không thể vào trong các uẩn này được. Nhìn thấy vô thường và không có khe hở là rất quan trọng, nếu không tà kiến tiếp tục đi vào trong. Vì vậy tôi luôn yêu cầu bạn nhìn vô thường nhiều và nhiều hơn nữa.

Bạn nghĩ gì khi tôi yêu cầu bạn làm như vậy? Tôi lo lắng tà kiến sẽ vào bên trong. Nếu bạn quan sát một cách khăng khít, không có kẽ hở giống như không thể đưa đầu kim vào bên trong cơ thể thì tà kiến không thể vào trong. Thực hành theo cách này, tà kiến bị yếu đi và trở thành chánh kiến. Bản chất tự nhiên của thân và tâm được đóng gói do sự thay đổi liên tục và không có khoảng trống ở giữa. Trong một giây, tâm sinh diệt với tốc độ trăm nghìn tỷ lần (~1013). Vì vậy nó không có khoảng cách. Tốc độ thay đổi của thân là năm nghìn tỷ lần trên một giây (5*1011). Nếu tà kiến có sức mạnh thì vô thường bị gián đoạn, nếu chánh kiến có sức mạnh thì vô thường được gia tăng. Chúng đang chống lại nhau. Nếu tà kiến quá mạnh thì không thể thấy vô thường. Nếu chánh kiến quá mạnh thì có thể thấy vô thường ngay khi mới bắt đầu ngồi thiền.

Cần phải phân biệt được giữa tốc độ vô thường trong tâm và trong thân thì mới nhận ra Niết Bàn không? Bạn nhận ra Niết Bàn mà không cần biết tỷ lệ này, điều này được biết dựa vào sức mạnh của định tâm. Đây là kinh nghiệm của người đã đi hết con đường, các vị ấy đã nói bằng năng lực của riêng mình. Điều này không dành cho người còn đang thực hành, đây là năng lực của các vị A La Hán.

Tại sao quan điểm của kẻ phàm phu và bậc thánh nhân không giống nhau? Bởi vì phàm phu có rất nhiều phiền não bên trong, do đó có rất nhiều dòng tâm hữu phần (bhavaṅga citta) ở giữa các quá trình nhận thức. Đức Phật chỉ có 2 bhavaṅga ở giữa, của ngài Sāriputta là 16 bhavaṅga ở giữa, còn đối với các bạn có rất nhiều bhavaṅga sau mỗi lần nhận thức. Tâm hữu phần bhavaṅga thì không có vấn đề gì bởi vì tâm đó không có phiền não. Nếu phiền não đi vào trong nó sẽ trở thành vấn đề.

Do đó trong Anguttara Nikaya, Đức Phật nói rằng nếu phiền não không ở giữa, thực hành vào buổi sáng và có thể chứng ngộ vào buổi tối. Không đề cập tới tâm bhavaṅga, bhavaṅga là thông thường và là quy luật của pháp. Số lượng bhavaṅga dựa trên nhân của tâm.

Định (samādhi)

Bát Thánh Đạo là con đường Trung Đạo. Các bạn chưa bao giờ đi trên con đường Trung Đạo trong toàn bộ vòng tái sinh luân hồi (saṃsāra). Nếu các bạn đã từng đi, sẽ không bao giờ quay trở lại. Trên con đường Trung Đạo, định (samādhi) là yếu tố rất quan trọng.

Thế nào là định? Tâm an trú tại một điểm gọi là định (ekaggatā citta). Định lấy một điểm làm đối tượng, cái gì làm đối tượng? Nếu đối tượng là thọ thì chỉ có thọ, đối tượng là tâm thì chỉ có tâm chứ không phải là những đối tượng khác. Hướng đến một đối tượng và tập trung trên một đối tượng là ekaggatā. Nếu bạn có thể tập trung trên một đối tượng, phiền não sẽ được vượt qua.

Cái gì là dấu hiệu của samādhi? 

Có bốn niệm xứ là: thân, thọ, tâm và pháp, định theo sau chánh niệm hướng đến bốn đối tượng đó. Nếu định trên thọ thì sẽ rơi vào thọ ngay lập tức, bằng cách này bạn biết về thọ. Nếu định trên tâm thì sẽ rơi vào tâm và chánh niệm cũng rơi vào đó. Nhất tâm phải hoạt động với các đối tượng Satipaṭṭhāna. Dấu hiệu của định là cơ thể biến mất và chỉ còn biết trên tâm hoặc thọ. Ví dụ khi chánh niệm trên cảm thọ, định rơi vào cảm thọ và không biết gì khác. Do đó nó cũng trở thành dấu hiệu của Satipaṭṭhāna.

Chánh niệm rơi vào đối tượng nên dấu hiệu thường hằng của đối tượng đó biến mất. Sau đó, dấu hiệu vô thường xuất hiện và cũng là dấu hiệu của Satipaṭṭhāna. Nhìn thấy dấu hiệu vô thường thì hình dáng của người đàn ông hay người đàn bà biến mất. Liệu định có thể tự nó dẫn đến hiểu biết không? Định phải bao gồm các yếu tố khác của Satipaṭṭhāna, đó là nỗ lực (viriya). Nỗ lực hướng đến đối tượng nên dấu hiệu thường hằng biến mất, và chánh niệm cùng trí tuệ nhìn thấy dấu hiệu của vô thường. Đây là nhìn thấy bằng sự giúp đỡ của nỗ lực. Nỗ lực và định là các thành phần của định. Chánh niệm và trí tuệ là các thành phần của trí tuệ.

Những yếu tố mà chúng ta đang nói đến theo những cách khác nhau đều có mặt trong sự quán tưởng tính vô thường. Liệu có thể nhận ra Niết Bàn theo cách này không? Đối tượng cần phải được quán sát trong nhiều lần (bhāvetabba). Tại sao? Phiền não giống như cái bát cũ bằng đồng, liệu cái bát cũ có thể được sáng bóng chỉ bằng một lần đánh bóng không? Ngay từ khi sinh ra các bạn đã chất đầy phiền não giống như cái bát đồng cũ.

Không thực hành thiền Tứ Niệm Xứ, không thực hành nhất tâm, không nỗ lực quan sát nên tâm ngày càng nhiều phiền não và ô uế  như cái bát đồng cũ. Ngay từ khi mới lọt lòng, các bạn lớn lên với bà mẹ tham ái (taṇhā) và ông bố vô minh (avijja), các bạn được nuôi lớn trên bàn tay và sự chăm sóc của họ. Họ rất lo lắng nếu các bạn nhận ra Đạo Quả và giải thoát khỏi vòng tay họ. Vô minh che đậy Tứ Thánh Đế còn tham ái dạy các bạn  dính mắc vào cha mẹ, con cái và tài sản. Các bạn đang làm những việc mà vô minh và tham ái muốn các bạn làm. Vì vậy phiền não ngày càng chồng chất.

Chúng tồn tại được bao lâu rồi? Trong toàn bộ vòng luân hồi trước đó chúng đã không được đánh bóng. Giữa chúng và bạn là những tên vệ sĩ tà kiến (diṭṭhi). Tà kiến luôn kiểm soát bạn và nói với bạn rằng đây là bố của bạn và kia là mẹ của bạn. Bình thường các bạn để đó chứ không bao giờ cọ rửa và đánh bóng. Vì vậy chúng chồng chất bụi bặm. Đây là lý do bạn không thể nhận ra Niết Bàn. Khối lượng của vô minh (avijja), tham ái (taṇhā) và tà kiến (diṭṭhi) đang tăng lên. Do vậy chúng cần phải được quán sát nhiều lần, bằng việc đánh bóng đi đánh bóng lại chiếc bát đồng cũ mà bạn để lâu ngày sẽ trở nên sáng bóng. Tương tự như vậy, phải quan sát liên tục vô số lần với nỗ lực không ngừng nghỉ. Quan sát liên tục làm giảm vô minh, tham ái và tà kiến.

Minh sát tuệ cần phải thực hành hết lần này qua lần khác chứ không phải như Đạo tuệ. Đạo tuệ nhìn thấy Niết Bàn chỉ một lần duy nhất, chỉ phát sinh đúng một lần. Giống như qua sông bằng thuyền, có một con thuyền và người lái thuyền xếp hàng lên thuyền rồi chèo sang bờ bên kia. Con thuyền đang làm bốn việc: rời khỏi bờ bên này, sang đến bờ bên kia, mang tải hàng hoá và vượt qua dòng sông. Ở đây con thuyền giống như Đạo tuệ, băng qua dòng sông ô nhiễm một lần duy nhất. Rời khỏi bờ của tà kiến bên này và đến bờ Niết Bàn bên kia. Con thuyền cũng đang chở các uẩn. Đạo tuệ xảy ra một lần và kết thúc bốn việc, từ sự vô thường của các uẩn, nó thấy sự vĩnh cửu của Niết Bàn.

Xuyên suốt quá trình thực hành, nhất tâm là quan trọng và cũng là dấu hiệu của Satipaṭṭhāna. Cùng với sự giúp đỡ của nỗ lực là quan trọng không kém, tất cả mọi thứ diễn ra một lần là không đủ, cần phải quan sát nhiều lần. Đức Phật nhấn mạnh điểm này giống như con gà mái mẹ ấp những quả trứng. Con gà mái bận rộn với ba công việc. Bạn cũng bận rộn với vô thường, khổ và vô ngã. Nếu không được ấp đúng cách, thực hành đúng cách những quả trứng sẽ bị hư hỏng và hiểu biết của bạn sẽ mờ nhạt đi.

Quan sát liên tục, lớp vỏ của vô minh bị mỏng đi và chất lỏng của tham ái dần cạn kiệt. Trí tuệ giống như mỏ của gà con bên trong quả trứng ngày một cứng cáp hơn. Bạn phải quan sát trên những quả trứng vô thường, chất lỏng phiền não khô đi và lớp vỏ vô minh mỏng hơn. Khi mỏ và móng vuốt của con gà cứng và sắc nhọn, gà con có thể mổ vỏ từ bên trong và chui ra. Hành thiền giống như con gà mái ấp trứng, bạn phải ngồi trên những quả trứng thường xuyên, nếu không, tuệ giác không thể sinh khởi.

Ánh sáng xuất hiện nghĩa là nhận ra Niết Bàn. Khi chất lỏng phiền não khô đi và lớp vỏ vô minh mỏng hơn sẽ nhìn thấy ánh sáng. Móng vuốt nhọn tương tự như trí tuệ sắc bén. Đức Phật nói rằng người nào nỗ lưch thực hành sẽ tiêu diệt được các lậu hoặc (asāva). Do phiền não tâm không thể thâm nhập được vào sâu. Thậm trí ngay cả bản thân phiền não cũng không kiên định. Chúng có sức mạnh của tình trạng lặp lại (asevana paccava), do đó tâm không thể thâm nhập vào sâu.

Khi trở về nhà và quan sát cơ thể, bạn không còn thấy cơ thể này như một khối u. Hãy quan sát về thọ, về tâm, nếu bạn biết cách thực hành thì cơ thể sẽ biến mất. Nếu bạn không thực hành thì hình dạng bàn tay, bàn chân hay 32 bộ phận của cơ thể vẫn tiếp tục xuất hiện.

Tiếp theo thánh tăng ni Dhammadinna giải thích về bảy yếu tố dẫn đến giác ngộ (bojjhaṅga). Vị ấy giải thích các yếu tố dẫn đến giác ngộ theo cách này. Trạch pháp giác chi (dhammavicayasambojjhaṅga) thuộc về chánh kiến. Đây là con đường dẫn đến Niết Bàn bằng sự thức tỉnh (bodhi). Bodhi nghĩa là biết, tỉnh thức, nó cũng bao gồm quan sát nhiều lần (bhāvita bahulīkata) các yếu tố dẫn đến giác ngộ. Do đó chánh kiến (sammā diṭṭhi) và trạch pháp giác chi giống nhau. Chánh kiến nếu chỉ nhìn thì không đủ, các chi phần giác ngộ cần phải được quan sát nhiều lần để chánh kiến nhận ra. Bạn có thể nghĩ rằng các chi đạo thì không cần quán tưởng nhiều lần. Vì vậy, tôi nói về chúng ở đây. Cả hai đều là các yếu tố về trí tuệ. Nếu bạn thực hành trên các chi đạo thì cũng bao gồm các yếu tố giác ngộ trong đó. Tại sao lại nói về hai điều này? Các chi đạo cắt đứt phiền não và yếu tố giác ngộ làm phát triển các chi đạo.

Quan sát lập đi lập lại mà vẫn chưa thấy Niết Bàn thì đừng cho là lãng phí thời gian. Đức Phật ví điều này giống như cán cưa của người thợ mộc. Nếu dùng một lần thì bị mòn một lần, nếu bạn liên tục sử dụng thì cán cưa bị bào mòn liên tục. Không thể đến Niết Bàn chỉ bằng những lời cầu nguyện. Lúc đầu cán cưa trơn tru, nhưng sau đó các vết hằn từ ngón tay xuất hiện trên đó.

Phiền não được huân tập và phát triển trong các vòng luân hồi nên rất sâu dày, vì vậy nếu không liên tục quan sát thì liệu phiền não có mỏng đi được chút nào không? Chỉ thiền Minh Sát mới có tác dụng làm giảm phiền não. Đừng thất vọng và bỏ cuộc. Nếu phiền não mỏng đi, việc thực hành đang phát triển. Mỗi khi nhìn thấy sự vô thường là phiền não đang mỏng dần đi. Càng quan sát chúng càng trở nên mỏng hơn. Phiền não bị bào mòn dần và cuối cùng sẽ bị tiêu diệt và tuyệt chủng.

Tinh tấn giác chi (viriyasambojjhanga) cũng phải được phát triển. Bạn đừng cho rằng thực hành không bao gồm hỷ giác chi (pītisambojjhanga). Hỷ đã ở bên trong định, tôi chỉ đang nói về những yếu tố dẫn đầu. Hỷ được bao gồm trong sự liên kết với định. Mỗi một cảm thọ lạc (sukhavedāna) khi quan sát đều bao gồm hỷ ở trong đó. Hỷ không phải là yếu tố dẫn đầu, mà là yếu tố đi sau. Quan sát mà không có hỷ thì lười biếng sẽ theo sau. Đức Phật nói rằng cần quan sát với hỷ và tạo nên sự thích thú, vì vậy hãy quan sát mọi thứ giống như bạn chưa bao giờ nhìn thấy trước đó.

Cặp mắt của Phạm thiên có thể nhìn xuyên qua thế giới loài người từ cách xa bốn trăm tỷ do tuần (1 do tuần = 10km). Nhưng họ không thấy được vô thường. Họ nhìn bằng con mắt thế gian (lokiya). Ở đây các bạn nhìn bằng con mắt siêu thế. Vì vậy bạn nhìn thấy tính vô thường thì tốt hơn tầm nhìn của các vị Phạm thiên. Một phiến đá rơi từ thế giới Phạm thiên sẽ mất một tháng rưỡi để xuống tới trái đất. Đôi mắt của họ là thiên nhãn. Cặp mắt thuộc về thời gian nằm ngoài lời dạy của Đức Phật, chúng chỉ là cặp mắt định, còn ở đây là cặp mắt trí tuệ. Không dễ để có được cặp mắt trí tuệ này. Ở đây có cái ngứa và ở đây ngứa biến mất. Thọ sinh khởi và biến mất, đó là cặp mắt trí tuệ. Đó là cặp mắt trạch pháp giác chi hoặc bạn có thể gọi là cặp mắt của chánh kiến hay trí tuệ. Các vị Chư Thiên hay Phạm thiên không thể nhận ra Niết Bàn vì họ thiếu cặp mắt này. Do đó sau khi qua đời họ quay trở lại thế giới loài người và cõi súc sinh.

Hàng trăm ngàn năm trước ngày tận thế, loài người sợ hãi về ngày tận thế sắp tới. Do sợ hãi nhiều người đã phát triển sức mạnh thần thông và phần lớn trong số họ trở thành các vị Phạm thiên. Tất cả những điều này là do thực hành thiền chỉ (jhana) nhưng khi thời gian đến họ sẽ quay trở lại. Dù cho con mắt này có thể nhìn thấy chiếc kim từ rất xa thì cũng không thể phân biệt được ba đặc tính vô thường, khổ, vô ngã. Họ thực hành thiền chỉ với mong muốn cho sự trở thành (bhava taṇhā). Tuy nhiên họ cũng có những nghiệp bất thiện, nên sau khi rơi khỏi cõi Phạm thiên, thậm chí một số trường hợp trở thành lợn. Tất cả các bạn từng là Phạm thiên trước đây hoặc từng là Chư Thiên trong khoảng thời gian không đếm được. Nhưng bạn chưa bao giờ thoát khỏi tuổi già, bệnh tật và cái chết, và chưa từng có cặp mắt trí tuệ trước đây. Không gì có giá trị hơn cặp mắt này.

Dục lạc của cõi trời là tốt nhưng vua trời Sakka (tāvatiṃsa) đã tự mình xuống trái đất để thực hành. Vị ấy có đôi mắt nghiệp lực chứ không phải là đôi mắt trí tuệ. Phân biệt vô thường còn vượt hơn cả vua trời Sakka và chúa Phạm thiên. Sau khi nhận ra được vô thường là sự sinh khởi của trí tuệ sinh diệt sẽ và vô thường kết thúc sẽ chắc chắn nhận ra Niết Bàn.

Bạn phải làm việc nỗ lực để có được đôi mắt trí tuệ vì trong tương lai bạn khó có cơ hội gặp được thầy tốt và giáo pháp giống như thế này. Rất ít người có được đôi mắt trí tuệ trên phạm vi toàn thế giới, vì vậy bạn phải chánh niệm để thấy nhiều hơn và rõ ràng hơn. Đừng trao đổi địa vị với Chư Thiên hay Phạm thiên, bạn là vàng và họ là muối. Bạn phải biết giá trị của chính mình. Họ thậm chí mong muốn trở thành con người để có được trí tuệ này.

Cảm thọ (vedanā). Có bao nhiêu cảm thọ ở đó? 

Có ba dạng cảm thọ là thọ hỷ (somānassa vedanā), thọ ưu (domānassa vedanā) và thọ trung tính (upekkha vedanā). Khi cảm thọ này tồn tại thì các cảm thọ khác không tồn tại, luôn chỉ có một trong ba cảm thọ xuất hiện. Bạn cần bắt kịp với một trong ba cảm thọ đó khi chúng xuất hiện. Để thực hành tốt bạn phải có kiến thức về chúng. Trên thân có các cảm giác dễ chịu (sukha vedanā), cảm giác khó chịu (dukkha vedanā) hoặc luôn có một cảm giác nào đó xuất hiện.

Mắt, tai, mũi, lưỡi là các cảm thọ trung tính, tại sao? Trong cái nhìn chỉ có cái nhìn, nên cảm thọ đó là trung tính. Sau khi nhìn, tốt hơn nếu nó không tiếp tục. Trong cái nghe chỉ có cái nghe, không trở thành dễ chịu hay khó chịu về âm thanh. Trong cái mùi chỉ là cái mùi và bạn sống với thọ trung tính. Nếu bạn phản ứng với đối tượng như là sự thất vọng thì tâm sẽ đến giai đoạn tích cực của quá trình nhận thức, gọi là tâm đổng lực (javana citta). Tâm chuyển thành trạng thái sân, mặc dù ở thời điểm ban đầu chỉ là trạng thái trung tính. Trong cái ăn chỉ có cái ăn cũng là trung tính nhưng phản ứng với thức ăn giống như là thích hay gét sẽ trở thành tâm đổng lực. Ngứa chỉ là ngứa, đau chỉ là đau nghĩa là các cảm thọ đang diễn ra trên khu vực của chúng thì đó chỉ là cảm thọ trung tính. Nhưng khi cơ thể bị lạnh, cảm giác khó chịu xuất hiện hoặc sưởi ấm với lửa nên cơ thể cảm thấy dễ chịu, những điều này sẽ trở thành tâm đổng lực.

Hôm nay các bạn sử dụng cảm thọ làm đối tượng cho tâm quan sát. Nếu bạn thoả mãn trong cái nghe, đó là thọ hỷ, nếu bạn không thoả mãn thì nó là thọ ưu. Bất cứ điều gì đang diễn ra, chúng đều ổn sẽ trở thành thọ trung tính. Tất cả các cảm thọ mà tôi vừa đề cập, nếu một trong số chúng còn ở đó thì những cảm thọ khác bị loại trừ.

Tại sao Đức Phật gọi các cảm thọ là thọ uẩn (vedanakhandha)? 

Bởi vì cảm thọ luôn diễn ra mọi lúc. Bạn có cần phải tìm kiếm cảm thọ ở đâu đó hay không, bạn có thấy cảm thọ sinh khởi không? Trên cơ thể có những cảm giác dễ chịu (sukha) và khó chịu (dukkha), trong tâm có những cảm xúc vui (somānassa) hay cảm xúc buồn (domānassa). Ngoại trừ đầu lông, đầu móng tay, móng chân, mọi nơi trên thân đều có thể phát sinh cảm giác. Cảm thọ được điều kiện bởi các hiện tượng có điều kiện, ví dụ cảm thọ trên mắt sinh khởi do tiếp xúc giữa mắt và cảnh sắc. Nếu đôi mắt bị mù sẽ không thể phát sinh cảm thọ trên mắt. Đó chỉ là hành (saṅkhara) và rơi vào vô ngã. Sabbe saṅkhara anicca, tất cả các hành đều vô thường. Chúng sinh khởi do điều kiện bởi những yếu tố khác.

Khi bạn không chánh niệm, sau khi nhìn thấy và mong muốn thì tâm sẽ tiếp tục tiến trình của tham ái (taṇhā), bám víu (upadana) và nghiệp (kamma). Nhìn thấy với sự không hài lòng, kinh tởm, thì tức giận (dosa) dẫn đến tiến trình duyên sinh tiếp tục. Thiếu chánh niệm nên không nhìn thấy rõ ràng (moha) dẫn đến sự phát sinh vòng nhân duyên của vô minh. Như vậy, không có chánh niệm và tỉnh giác trên nhãn căn tạo ra ba cách cho vòng tròn duyên sinh sinh khởi. Do không biết những điều này bạn nghĩ rằng chúng không quan trọng.

Đức Phật dạy rằng nếu không biết về pháp Duyên Sinh thì còn tệ hơn là sử dụng cục sắt nóng chọc vào mắt. Cục sắt nóng chọc vào mắt gây ra cái chết một lần nhưng khi nhìn mà thiếu chánh niệm dẫn đến chết và tái sinh đau đớn nhiều lần. Nhìn với chánh niệm sẽ nhanh chóng nhận ra các hiện tượng có điều kiện và không đồng hoá với chúng, sau đó pháp Duyên Sinh cắt đứt ba pháp bất thiện, không cho chúng sinh khởi.

Thánh tăng ni Dhammadinna trả lời các câu hỏi và tôi áp dụng điều đó vào thực hành, để chúng trở nên rõ ràng hơn. Biết về sự sinh khởi và diệt đi sẽ tự do khỏi các lậu hoặc. Trong tiến trình nhìn nếu tham ái sinh khởi, nó trở thành lậu hoặc của các dục lạc giác quan. Không biết là lậu hoặc của vô minh. Dễ dàng để nói, nhưng trong sự quan sát thực sự thì nó trở nên muộn màng.

Bạn có thể dừng lại ở việc chỉ nhìn thấy không? Nếu bạn không thể dừng lại thì hãy nhanh chóng quan sát về tính vô thường. Đức Phật nói rằng bằng việc quan sát về tính vô thường của cảm thọ khi gần chết có thể trở thành bậc thánh A La Hán và phá huỷ các lậu hoặc. Ngài Sariputta nhận ra Đạo Quả đầu tiên bằng việc quan sát trên thân và ba Đạo Quả sau bằng cảm thọ. Sự chứng ngộ của ngài Sariputta đến trong thời gian nghe Đức Phật thuyết pháp. Tâm trở nên sắc bén khi quan sát trên sự thay đổi của các cảm thọ. Ngài Sariputta đã quan sát cảm thọ đồng thời với lắng nghe giáo pháp từ Đức Phật. Trí tuệ không thể phát sinh chỉ bằng nghe giáo pháp, lắng nghe và chánh niệm đồng thời có thể đạt được bậc thánh Tu Đà Hoàn hay thậm chí là bậc thánh A La Hán. Vì vậy tôi thường xuyên dạy bạn rằng tai dùng để nghe giáo pháp và tâm để quan sát các uẩn. Chỉ lắng nghe mà không quan sát thì không thể giác ngộ. Tâm không sắc bén nên không nhìn thấy sự thật, không thể bào mòn phiền não và không đạt được Niết Bàn. Cần phải lắng nghe và nỗ lực thực hành, đừng chỉ lắng nghe để lấy phước thiện. Kinh điển cũng dạy rằng cần phải lắng nghe và quan sát, ngược lại sẽ không thể ngăn chặn được tham ái và tà kiến.

Trong khi nghe, cũng như khi nhìn, nghe là hiện tượng có điều kiện. Không biết các hiện tượng có điều kiện thì không thể biết về vô ngã. Bất cứ hiện tượng gì sinh khởi trên thân cũng đều có điều kiện. Bản chất của sự kết thúc là vô thường. Các hiện tượng có điều kiện đang sinh khởi, trở thành và biến mất. Nếu bạn có thể quan sát theo cách này thì đó là pajānāti, nghĩa là hiểu biết tường tận. Bạn hiểu biết về cái gì? Biết về sự thay đổi của các hiện tượng có điều kiện. Du sĩ ngoại đạo Dīghanakha lắng nghe bài pháp cùng với ngài Sariputta, quán tưởng tính vô thường trong khi nghe và trở thành vị thánh Tu Đà Hoàn.

Khi bạn quan sát theo cách này thì ba cách kia của pháp Duyên Sinh sẽ không sinh khởi. Yadā paññāya passati, quan sát với trí tuệ khi chúng sinh khởi. Sự tiếp xúc của thân với các đối tượng bên ngoài cũng giống như vậy. Xúc chạm trên thân (kāyappasāda) là do sự tồn tại bởi nghiệp. Một chúng sinh còn sống và nghiệp cũ chưa kết thúc nên sự nhạy cảm trên thân vẫn tồn tại. ‘Cơ thể quá lạnh’, tâm sẽ trở thành sân. Do đó, nếu bạn biết cảm giác lạnh, ngay lập tức quan sát lạnh như vô thường. Khi bạn biết các hiện tượng duyên sinh đang sinh khởi, chúng sinh khởi (samudaya) rồi biến mất (vaya), thực tế là bạn nhìn thấy sự thật của khổ (dukkha sacca).

Magga sacca là sự thật của Đạo lộ. Nếu bạn hiểu rõ hoàn toàn bản chất của khổ thì điều đó trở thành Đạo tuệ. Chưa hiểu rõ hoàn toàn khổ thì mới chỉ là tuệ minh sát. Tại sao ông trưởng giả Visakha và tỳ khưu ni Dhammadinna lại bàn về các cảm thọ? Bởi vì đó là cách nhanh nhất để đạt đến A La Hán Đạo (arahattamagga). Điều này cũng được hướng dẫn bởi chính Đức Phật. Do đó chánh niệm, tỉnh giác trên cảm thọ được bao gồm trong kinh Tứ Niệm Xứ (satipaṭṭhāna), như vậy cảm thọ có thể chạm đến mục tiêu bởi chính nó. Ngài Sāriputta và du sĩ Dīghanakha thực hành với cảm thọ mà không sử dụng đề mục khác. Không biết về sự sinh khởi, không biết về sự đoạn diệt, thì chân lý về khổ luôn bị che dấu.

Đức Phật nói rằng tất cả các hiện tượng sinh khởi trên thân là sự thật của khổ. Không nhìn thấy các hành thì không thể quan sát vô thường. Cuộc vấn đáp giữa ông cư sĩ Visakha và tỳ khưu ni Dhammadinna tiếp tục bàn về các tuệ minh sát. Ở đây tôi sử dụng cảm thọ để miêu tả cho việc thực hành, hãy quan sát sự vô thường của bất cứ thọ nào đang sinh khởi, chúng luôn luôn sinh khởi trong mọi lúc.

Tôi chỉ lo ngại nếu bạn không biết cảm thọ sinh khởi. Không biết là vô minh. Bất cứ cái gì sinh khởi là Khổ Đế (dukkha sacca), không biết về khổ là vô minh. Vô minh không sống theo cách đó, chúng sẽ làm theo khả năng của chúng. Nếu vô minh đến, thân hành, khẩu hành và ý hành đi theo sau bởi vô minh, người ta sẽ trở thành vô liêm sỉ (vô tàm) và không sợ hậu quả (vô uý) giống như động vật. Điều này tới từ kinh Vô minh trong kinh Tương Ưng.

Tệ như thế nào? Không biết về bất cứ điều gì sinh khởi trong sáu cửa giác quan, không biết sự thật của khổ. Theo cách này con người tạo ra nghiệp trong đời sống hàng ngày mà phần lớn là nghiệp bất thiện.

Nói một cách ngắn gọn, thiền minh sát là quán chiếu về sự thật của khổ. Sự tiếp xúc của suy nghĩ và sự nhạy cảm của tâm tạo ra cảm giác dễ chịu hoặc khó chịu. Chúng là các hiện tượng có điều kiện, nếu các hiện tượng có điều kiện này trở thành dukkha ñāṇam, sự hiểu biết về khổ, thì đó chính là trí tuệ.

Avijja nirodha saṅkhāra nirodho

Vô minh diệt thì hành diệt

Saṅkhāra nirodha  viññāna nirodho

Hành diệt thì thức diệt.

Thức diệt thì tái sinh kết thúc. Đây là sự chấm dứt của tái sinh, không sinh (ajāti) là Niết Bàn. Như vậy lợi ích rõ ràng của quan sát là cắt đứt phiền não. Thực hiện công việc nhận biết khổ, tham ái được chấm dứt và khổ cũng chấm dứt.

Mỗi một khoảnh khắc quan sát là mỗi khoảnh khắc hướng đến Niết Bàn, vì vậy thật xứng đáng để bạn làm điều đó. Đạo tuệ sẽ xuất hiện khi tham ái chấm dứt. Các bạn tự làm sáng tỏ những nguy hiểm của chính mình bằng việc quan sát. Tham sân và si là các kẻ thù bên trong. Nếu bạn đưa ra nhiều lý do để không thực hành nghĩa là bạn đang tuân theo sự ô nhiễm của tham ái, kết quả bạn chỉ nhận được đau khổ từ tham ái mà thôi.

Ông Visakha tiếp tục hỏi rằng: Không quan sát các cảm thọ thì điều gì xảy ra? Nếu không quan sát các cảm thọ thì phiền não ngủ ngầm của tham ái sẽ theo sau. Tỳ khưu ni trả lời một cách vắn tắt nhưng bạn phải hiểu rằng cả tham ái (taṇhā), chấp thủ (upādāna) và nghiệp (kamma) sẽ bám theo. Chúng sẽ tiếp tục sự trở thành và vòng duyên sinh tiếp tục diễn ra, đây là quy luật của tự nhiên. Nếu bạn chết với tham ái, peta jāti, nghĩa là tái sinh ở cõi ngạ quỷ.

Tham ái bị theo sau bởi dục lậu (kāmāsava) trong sáu giác quan, chúng quyến luyến, mê say, chìm ngâm trong cõi dục. Từ dục lậu, hữu lậu (bhavāsava) sẽ theo bên cạnh. Rất khó để tìm được một người có chánh niệm. Mọi người đang vui cười với cảm thọ dễ chịu và nếu không quan sát cảm thọ khó chịu, tâm sân sẽ theo sau. Sân sinh khởi từ vô minh dẫn tới tái sinh trong cõi súc sinh, tức là bị theo sau bởi vô minh lậu (avijjāsava). 

Các lậu hoặc (āsava) này theo tới tận cõi Phạm thiên vô sắc cao nhất (arūpa brahma) hoặc cho đến tuệ Chuyển Tộc (gotrabhū ñāṇa) trong thiền minh sát. Khi những cảm thọ này sinh khởi, hãy nỗ lực quan sát. Nếu không, đó là con đường dẫn tới ngạ quỷ và súc sinh. Không quan sát cảm thọ trung tính vô minh lậu sẽ theo sau. Đây là cảm thọ vi tế, chỉ những người có trí tuệ mới có thể biết về nó. Phần lớn con người  tái sinh trong cõi ngạ quỷ hoặc súc sinh, điều này không đáng sợ đúng không?

Ngay cả khi làm các phước thiện mà không có trí tuệ đi cùng thì vô minh sẽ theo sau. Vô minh mang lại năng lực cho sự thèm muốn. Do thiếu hiểu biết nên mọi người thực hiện những lời cầu nguyện với tham ái, sau đó dục lậu và vô minh lậu bám theo. Vì vậy có nhiều phước thiện được tạo ra cho sự tiếp tục của tái sinh hơn là giải thoát khỏi nó. Đây không phải là kết quả của phước thiện mà là nhân của vô minh do thiếu hiểu biết và tiếp tục với những thèm muốn về bản thân. Thật hiếm có vị thầy nào có thể hướng dẫn lại cho các bạn những điều mà Đức Phật đã dạy.

Ông Visakha hỏi tiếp “Có ba phiền não ngủ ngầm theo sau cảm thọ mọi lúc?” Câu trả lời là không phải mọi lúc. Một người thực hành chánh niệm và quan sát về tính vô thường thì không bị theo sau bởi các phiền não ngủ ngầm. Đây là một lời khuyên nhủ.

Tôi phải đề cập tới cách thứ hai mà Đức Phật đã dạy rằng phước thiện có thể mang lại kết quả cho thiền định, cho Đạo và Quả. Nhưng những hiểu biết sai lầm trở thành nguyên nhân dẫn đến sự tái sinh lặp đi lặp lại. Hào phóng (cāga) là từ bỏ nên nó đang giết chết tham ái (taṇhā), từ bỏ tự ngã của mình, và giết chết thân kiến. Do đó bố thí là pháp tiêu diệt tham ái và thân kiến. Nếu bạn không biết làm thế nào để làm điều đó, sẽ trở thành ‘tôi có’, vì vậy ‘tôi cho’, khi đó thân kiến đi vào. ‘Tôi bố thí để tôi hưởng phước’ thì tham ái sẽ đi vào.

Kiến thức và trí tuệ thì rất quan trọng trong đời sống cũng như trong tu tập. Cần dựa vào sự hướng dẫn của người thầy có trí tuệ, phải biết chọn lựa lời dạy và xem xét những lời dạy có chạm đến trái tim bạn hay không. Nếu lời dạy dẫn đến sự thật thì đó là viên ngọc quý. Đức Phật thừa nhận rằng bản thân Ngài cũng không biết về sự thật trước đó nên đã phải lang thang rất lâu trong vòng luân hồi.

Tỳ khưu ni Dhammadinna miêu tả về con đường thực hành. Khi cảm thọ dễ chịu sinh khởi, nó là dễ chịu, và biến mất là khổ. Do đó quán tưởng cảm thọ dễ chịu giống như Khổ Đế, và sau đó cắt đứt phiền não ngủ ngầm của dục lạc giác quan trong vòng duyên sinh. Khi cảm thọ khó chịu sinh khởi, nó là khó chịu, và biến mất là lạc. Đối với cảm thọ trung tính, chỉ hành giả có trí tuệ sắc bén mới có thể nhận ra tính vô thường của nó. Cảm thọ khó chịu ngược lại với cảm thọ dễ chịu. Các bạn phải quan sát khi chúng sinh khởi. Chỉ một cảm thọ sinh khởi tại một thời điểm. Khi thọ khổ xuất hiện, quan sát thọ khổ, khi thọ lạc xuất hiện, quan sát thọ lạc. Quan sát các cảm thọ giống như sự thật về khổ.

Thế nào là đối lập? Khi cảm thọ này sinh khởi thì hai cảm thọ kia không có mặt, chúng luôn sinh khởi nhưng chỉ một trong số ba cảm thọ có mặt tại một thời điểm. Đừng nói rằng không tìm thấy bất kỳ cảm thọ nào sinh khởi để quan sát, điều này dường như không có vô thường ở đó. Nói như vậy cũng giống như nhìn thấy Niết Bàn. Tất cả các cảm thọ bị đoạn diệt là Niết Bàn. Do đó tiếp tục quan sát cho tới khi các cảm thọ kết thúc.

Khi tâm không thể thâm nhập vào ba cảm thọ, nó sẽ bị trộn lẫn vì tâm quan sát theo sau muộn. Các uẩn sinh khởi nhanh hơn tâm quan sát, có nghĩa là phiền não đi vào giữa, dẫn đến sự nhận biết diễn ra chậm hơn. Xuyên suốt quá trình quan sát, các cảm thọ lạc, cảm thọ khổ hoặc cảm thọ trung tính liên tục thay nhau sinh khởi.

Khi cảm thọ lạc xuất hiện, chỉ là thọ lạc đang sinh khởi, và tâm quan sát, khi đó phiền não không thể xen vào giữa. Nếu cái đau sinh khởi và nó tiếp tục đau, tâm quan sát không thể thâm nhập vào cái đau nên sân xen vào giữa. Cảm thọ dễ chịu tiếp tục dễ chịu thì tâm quan sát cũng không thâm nhập được vào nên tham ái xen vào giữa. Nếu thọ trung tính sinh khởi và tâm quan sát không thể thâm nhập được vào, vô minh xen vào giữa. Đây là điểm rất quan trọng đối với thiền sinh. Tham theo sau bởi thọ lạc, sân theo sau bởi thọ khổ, vô minh theo sau bởi thọ trung tính.

Không dễ để nói về những điều như thế này. Trong thực tế bạn có biết phiền não tới hay không, tâm quan sát có thể bắt kịp với từng thay đổi không? Bạn phải quan sát chúng, nếu chưa quan sát được thì bạn cần nỗ lực hơn nữa. Bạn sẽ nhận ra Niết Bàn, không nhận ra Niết Bàn bởi vì phiền não đang xen vào giữa quá trình thực hành.

Tuệ minh sát là trí tuệ đầu tiên cần phát triển. Chánh kiến về tuệ minh sát đến trước, chánh kiến Đạo tuệ theo sau và thấy Niết Bàn. Khi tuệ giác minh sát sắc bén thì Niết Bàn đến gần hơn. Không lười biếng thực hành bạn sẽ nhận ra điều đó. Không có chánh kiến về minh sát tuệ thì chánh kiến về Đạo tuệ không thể sinh khởi, điều này được đề cập trong Sagatha vagga Samutta.

Tuệ Thuận Thứ (anuloma ñāṇa) vẫn còn là trạng thái của vô thường. Tuệ giác này tạo điều kiện cho tuệ Chuyển Tộc (gotrabhū ñāṇa) sinh khởi và lấy Niết Bàn làm đối tượng. Trí tuệ sinh khởi theo quy luật tự nhiên mà không có chúng sinh nào cả. Đạo tuệ tới ngay sau tuệ Chuyển Tộc và nhìn thấy Niết Bàn. Do đó nếu không có tuệ giác minh sát thì Đạo tuệ không thể sinh khởi, thậm chí đứng giữa chúng là tuệ Chuyển Tộc cũng không thể sinh khởi.

Đừng để thất vọng và hoài nghi (vicikicchā) đến. Hoài nghi rằng tôi là người nhị nhân (duhetuka) hay tôi đã làm gì sai trái với ai đó, vì vậy tôi không thể nhận ra Niết Bàn. Đừng để những suy nghĩ này tồn tại trong tâm. Đức Phật đảm bảo rằng nếu bạn có thể lắng nghe giáo pháp và nhận ra vô thường thì sẽ nhận ra Niết Bàn. Không có phiền não xen vào giữa vô thường và tâm quan sát, bạn sẽ nhận ra Niết Bàn. Đừng quan tâm về những điều này, những người do nghi ngờ và hối hận sẽ bị dẫn tới tái sinh vào cõi khổ và không thể nhận ra Niết Bàn.

Tuệ Chuyển Tộc tới sau các tuệ giác minh sát khác nhưng tới trước Đạo tuệ. Đây là lộ trình tâm đắc đạo (vithicitta), chúng luôn đi theo tiến trình này. Lo lắng và hối hận (kukkucca) là pháp rất xấu và nguy hiểm cho con đường thực hành. Các bạn phải phá huỷ chúng bằng chính bản thân mình, thực hành không bao giờ là không có kết quả. Đức Phật luôn sách tấn thực hành. Trong giây phút hấp hối, người nỗ lực thực hành có thể nhập vào dòng thánh và thậm chí đạt tới bậc thánh Bất Lai. Nếu điều này không xảy ra thì chết với trí tuệ sáng suốt sẽ tái sinh vào các cõi trời và ngay sau đó có thể trở thành một vị thánh Nhập Dòng. Đức Phật đề cập đến điều này một cách chắc chắn trong Anguttara.

Tâm có hoài nghi (vicikiccha), hãy quan sát tính vô thường của hoài nghi. Sau đó tiếp tục quan sát trên các uẩn. Đối với những người quan sát các cảm thọ, lo lắng là thọ ưu. Đối với những người quan sát tâm, lo lắng là tâm sân. Đừng tìm kiếm nó, nó đến để cho bạn quan sát, đây là điểm cần ghi nhớ.

Trưởng giả Visakha hỏi tiếp “Ngược lại với cảm thọ trung tính là gì?” Tỳ khưu ni Dhammadinna trả lời: “Đó là vô minh”. Điều này  đúng vì mỗi khi cảm thọ trung tính sinh khởi mà không biết nghĩa là vô minh (avijja). Vậy cái gì trái ngược với vô minh? Câu trả lời là trí tuệ hoặc sự hiểu biết, là minh (vijja). Nếu cái này có mặt thì cái kia không có mặt. Do đó vipassanā là con đường của trí tuệ, trí tuệ trực giác sinh khởi và hiểu biết thực chứng phát sinh. Trái ngược với minh là gì? Đó là Quả (phala). Minh là trí tuệ, Quả là tâm tự do (vimutti citta). Cái gì đối lập với Quả, đó là Niết Bàn. Tại sao? Để cho tâm Quả phát sinh phải tu tập rất nhiều. Tu tập dựa trên các hiện tượng có điều kiện (saṅkhāra dhamma). Niết Bàn tồn tại như một Pháp vô điều kiện và không có nguyên nhân, vì vậy chúng đối lập nhau.

Nam cư sĩ Visakha rất hài lòng với những câu trả lời của tỳ khưu ni Dhammadina, rồi ông đến gặp Đức Phật và Ngài cũng yêu cầu quan sát về tính vô thường, vì đó là pháp có điều kiện. Tất cả pháp hữu vi đều kết thúc bằng vô thường. Niết Bàn chỉ nghiêng về phía Niết Bàn. Bất cứ pháp nào vô thường, quan sát tính vô thường của chúng. Những pháp thường hằng vĩnh viễn chỉ nghiêng về phía thường hằng,  nghĩa là sống với tâm an lạc tuyệt đối. Do đó bạn phải hướng tâm đến sự chấm dứt các hiện tượng sinh diệt để kết thúc đau khổ.

Đừng quán tưởng Niết Bàn, đây không phải là pháp để quán tưởng. Coi đó như một pháp xem xét (paccavekkhaṇā), một pháp thẩm tra. Tính chất, đặc điểm hay chất lượng của Niết Bàn là gì? Niết Bàn có thể được điều tra theo cách này? Không quan trọng. Con đường là vô thường và quả cũng vô thường. Quan sát các pháp có điều kiện là vô thường. Đối với Niết Bàn vô điều kiện, xem xét giống như ‘đó là, đó là’.

Tóm tắt lại buổi pháp thoại, để nhận ra Niết Bàn cần bắt đầu từ hiểu biết về các pháp có điều kiện, trí tuệ sinh khởi từ các pháp có điều kiện không phải là Đạo tuệ, mà là tuệ minh sát. Trí tuệ xuất phát từ tuệ minh sát là Đạo tuệ và Quả Tuệ. Tuệ giác minh sát lấy đối tượng là các pháp có điều kiện. Quan sát các hiện tượng có điều kiện đều vô thường là tuệ minh sát. Sau khi kết thúc tuệ giác minh sát, bạn sẽ nhìn thấy vô điều kiện, tức là Niết Bàn. Tại sao? Vì nó tự do khỏi các điều kiện.

Thực hành vipassanā kết thúc khi quan sát các pháp có điều kiện kết thúc. Sau đó trí tuệ nghiêng về phía không có điều kiện, bạn không thể tìm thấy Niết Bàn bên trong các hiện tượng có điều kiện. Nếu nó có thể, thì nó chỉ là tà kiến Niết Bàn (diṭṭhi nibbāna). Ăn ngon là hạnh phúc, vui chơi là hạnh phúc và người ta coi những thứ này là Niết Bàn nhất thời. Đó là tà kiến Niết Bàn.

Vì vậy nếu bạn muốn đến Niết Bàn, phải rời xa khỏi nơi có điều kiện. Nếu bạn không hiểu về các điều kiện thì bạn không thể tìm thấy lối ra. Sinh khởi có điều kiện và biến mất là vô ngã. Nếu bạn không nhìn thấy, thì Niết Bàn là không thể. Trước hết hãy biến mình từ thế giới mù quáng (puthujjana) thành thế giới hiểu biết. Thế giới mù quáng không nhìn thấy các pháp có điều kiện nhưng thế giới hiểu biết thì nhìn thấy điều đó.

Khi bạn nhìn thấy pháp không điều kiện thì trở thành bậc thánh nhân, người mà chắc chắn phải đi theo cách thức này. Trước khi gặp một người thầy tâm linh, ai cũng mù mịt về con đường. Khi bạn gặp được người thầy tốt, bạn sẽ chuyển sang một thế giới hiểu biết. Ví dụ khi ngài Sariputta và ngài Moggolana gặp người thầy đầu tiên của họ là Sanjaya, khi đó họ sống trong thế giới mù quáng. Họ trở thành những người của thế giới tốt đẹp sau khi gặp ngài thánh tăng Asaji, và cuối cùng trở thành những bậc thánh nhân. Đừng coi thế giới người mù là người tái sinh với nhị nhân (duhetuka), hay tam nhân (tihetuka), thế giới người mù là thế giới mà không có người bạn tinh thần tốt. Trước đây chưa gặp Đức Phật, tất cả đều bị mù, do đó đừng nghi ngờ gì về điều đó.

Sư Chân Thiện dịch

Chánh kiến

Sự khác nhau giữa người khôn ngoan và kẻ ngu là gì? Câu trả lời là: người khôn ngoan thực hành đời sống phạm hạnh (magga brahmacariya) còn kẻ ngu thì không. Vì vậy người khôn ngoan không còn tái sinh trong tương lai, và già nua, bệnh tật, cái chết trong tương lai cũng không còn tồn tại nữa. Đối với kẻ ngu, không thực hành đời sống phạm hạnh cao quý, sẽ tiếp tục tái sinh trong tương lai và kết quả nhận được là già nua, bệnh tật rồi chết. Người khôn ngoan không còn đau khổ trong tương lai còn kẻ ngu ngốc tiếp tục chịu đựng đau khổ. Thực hành đời sống phạm hạnh là con đường thực hành dựa trên chánh kiến (sammādiṭṭhi). Sammā là đúng, diṭṭhi là cái nhìn, sammādiṭṭhi có nghĩa là cái nhìn đúng đắn, chánh kiến. Có năm loại chánh kiến:

(1) Kammassakatā sammādiṭṭhi – Chánh kiến về nguyên nhân và kết quả

(2) Jhāna sammādiṭṭhi – Chánh kiến về thiền định

(3) Vipassanā sammādiṭṭhi – Chánh kiến về thiền minh sát

(4) Magga sammādiṭṭhi – Chánh kiến về Đạo tuệ

(5) Phala sammādiṭṭhi – Chánh kiến về Quả tuệ.

(1) Kammassakatā sammādiṭṭhi là chánh kiến tin vào các hành động tạo nghiệp và kết quả của nghiệp. Kammassakatā sammādiṭṭhi đang bố thí, cúng dường, làm phước thiện hay đang gieo những hạt giống tốt để nhận lấy kết quả là sự may mắn, giàu sang. Kammassakatā sammādiṭṭhi tồn tại cả bên ngoài và bên trong giáo pháp (sāsana).

(2) Jhāna sammādiṭṭhi là sự thực hành định tâm (samatha). Kết quả của việc thực hành thiền định này là có thể đạt được các loại thần thông và được tái sinh trong các cõi trời sắc giới (rūpa) hay cõi phạm thiên vô sắc (arūpa). Tuy nhiên điều này vẫn nằm trong sự thật của đau khổ (dukkha sacca), vậy nên kết quả không có nhiều giá trị. Đây là chánh kiến, không có gì phải nghi ngờ về điều này, nó thấy sự thật nhưng không phải là sự thật cuối cùng. Jhāna sammādiṭṭhi cũng tồn tại cả bên ngoài và bên trong giáo pháp.

Ba chánh kiến còn lại (3)(4)(5), là chánh kiến về vipassanā, chánh kiến về Đạo tuệ và chánh kiến về Quả tuệ chỉ tồn tại trong thời gian có giáo pháp của Đức Phật (Buddha sāsana). Chánh kiến đầu tiên trong ba chánh kiến này, là chánh kiến về thiền minh sát (vipassanā sammādiṭṭhi) dùng để xua tan thân kiến (sakkāyadiṭṭhi). Cả Đức Phật và tôi đều đảm bảo rằng, nếu thực hành vipassanā thì sự tái sinh trong các cõi thấp sẽ không xảy ra. Ngay trong kiếp sống này, thực hành vipassanā có thể dẫn tới giác ngộ Niết Bàn. Đầu tiên trở thành thánh Nhập Dòng, sau đó là thánh Nhất Lai, tiếp theo là thánh Bất Lai và cuối cùng trở thành bậc thánh A La Hán.

Tiếp theo chánh kiến về vipassanā, chánh kiến về Đạo tuệ sẽ được thảo luận. Chánh kiến thứ nhất và thứ hai không được thảo luận nhiều vì chúng có thể tồn tại bên ngoài thời gian của giáo pháp và không giúp ích nhiều trong việc giải thoát khỏi đau khổ. Chánh kiến quan trọng nhất là chánh kiến về vipassanā, cần được thảo luận để áp dụng vào thực hành.

Theo chú giải của kinh Tương Ưng (saṃyuta nikāya), chánh kiến về vipassanā nhìn thấy bản chất vô thường, khổ, vô ngã của các hiện tượng theo pháp Duyên Sinh (paṭiccasamuppāda), nên thân kiến đồng hoá các uẩn là ‘tôi’, ‘của tôi’ được nhổ tận gốc dễ. Vô thường, khổ, vô ngã có thể được quán tưởng khi bất cứ uẩn nào sinh khởi, cho dù là ở giai đoạn đầu, giai đoạn giữa hay giai đoạn cuối của vòng duyên sinh. Nếu tính vô thường, sự sinh diệt của các uẩn được nhìn thấy theo cách này, ba tà kiến sẽ được xua tan.

Tuệ giác vipassanā có thể xoá bỏ ba tà kiến (micchadiṭṭhi) là thân kiến (sakkāyadiṭṭhi), thường kiến (sassatadiṭṭhi) và đoạn kiến (ucchedadiṭṭhi). Do đó chánh kiến thứ ba này là quan trọng nhất. Chánh kiến thứ tư về Đạo tuệ (magga sammādiṭṭhi), tương đối dễ dàng, nó sinh khởi nơi con đường đã được làm sẵn bởi chánh kiến về vipassanā. Magga sammādiṭṭhi là giai đoạn khi trí tuệ sắc bén sinh khởi và nhìn thấy sự chấm dứt của mọi đau khổ.

Giai đoạn thứ ba của chánh kiến, vipassanā sammādiṭṭhi, không gì khác hơn là thực hành thiền tuệ vipassanā. Để thực hành vipassanā, hãy quan sát các hiện tượng sinh và diệt. Bất cứ hiện tượng nào sinh khởi, như tâm muốn ăn, muốn ngủ, tâm suy nghĩ hay bất cứ tâm nào xuất hiện, được quan sát kịp thời chính là vipassanā. Hãy hướng sự chú ý đến sự sinh và diệt của các hiện tượng, nó trở thành vipassanā sammādiṭṭhi. Đó có thể là bất cứ tâm nào, bất cứ tâm nào khởi lên, hãy quan sát đặc tính của nó. Nếu tâm không khởi lên thì sau đó là cái chết. Pháp khởi lên là các uẩn duyên sinh, các uẩn luôn sinh diệt, sinh diệt, ngoài pháp này ra không còn pháp nào khác.

Thấy vô thường là sự kết thúc của tà kiến, cái mà đưa chúng sinh xuống các cảnh giới thấp kém. Sinh khởi rồi diệt đi dẫn đến hiểu biết rằng đây ‘không phải là tôi, không phải là của tôi, không phải là tự ngã của tôi’, tất cả chỉ là các hiện tượng sinh rồi diệt. Bằng cách quan sát sinh diệt của các uẩn, thân kiến bị xua tan. Đây là những gì được trình bày trong chú giải của kinh Tương Ưng (saṃyutta nikaya).

Có người hỏi rằng, quan sát tính vô thường để làm gì? Để xua tan tà kiến và những quan điểm sai lầm về bản thân, cái dẫn chúng sinh đến các trạng thái khốn khổ. Một người chưa đạt tới điểm kết thúc của sinh diệt, trong khi vẫn còn đang quan sát các uẩn sinh diệt, nếu tuổi thọ bị cắt đứt bởi đoạn nghiệp (upaghātaka kamma), người đó chết đi, nhưng chắc chắn không tái sinh trong các cảnh giới đau khổ. Nhìn thấy sự diệt đi của các hiện tượng, thân kiến và thường kiến bị xua tan. Nhìn thấy sự sinh khởi của các hiện thượng, thân kiến và đoạn kiến bị xua tan.

Cánh cửa dẫn đến bốn cõi thấp bắt đầu từ thân kiến. Với sự thấy biết sinh khởi và diệt đi của các uẩn, vipassanā sammādiṭṭhi cắt đứt thân kiến. Dập tắt thân kiến còn quan trọng hơn dập tắt ngọn lửa đang cháy trên đầu bạn. Ngay cả khi có một mũi giáo đâm vào ngực, hãy loại bỏ thân kiến trước, bởi vì đây là pháp đưa bạn đến cõi khốn khổ.

Cho dù chưa thể giác ngộ Niết Bàn hay chưa đạt được Đạo tuệ, nếu một người chết với các tuệ giác vipassanā, trong kiếp sau người đó vẫn có thể đạt được giai đoạn giác ngộ đầu tiên, trở thành thánh Nhập Dòng (sotāpanna). Điều này được đề cập trong kinh Tăng Chi (anguttara nikaya).

Đừng lùi bước trong việc phát triển tuệ giác, hãy nỗ lực xua tan quan điểm sai lầm về bản thân, sakāyadiṭṭhi. Không được lùi bước trong việc xua tan thân kiến, vì điều này chỉ có thể được biết trong thời gian tồn tại của giáo pháp.  

Nơi cư trú thường xuyên cho tất cả chúng sinh là các cõi thống khổ, bởi vì nguyên nhân từ thân kiến. Chắc chắn là thân kiến trước đây chưa bao giờ bị xua tan và vipassanā chưa bao giờ được thực hành.

Nếu chưa xua tan được thân kiến thì không có thời gian để nghỉ ngơi và thư giãn. Hãy đặt mọi liên hệ với thế gian như gia đình, con cái, công việc làm ăn sang một bên, nỗ lực xua tan thân kiến trước. Đừng nghĩ rằng chăm sóc con trai, con gái, gia đình, họ hàng, hay công việc kinh doanh là bắt buộc, điều duy nhất bắt buộc là phải xua tan thân kiến. Có thể bạn bị chỉ trích vì bỏ bê gia đình hay công việc, nhưng bạn sẽ không phải đi đến trạng thái khốn khổ (apāya). Rất tệ nếu không thấy sinh và diệt, không xua tan được thân kiến, điều này tệ hơn rất nhiều so với bị gét bỏ.

Theo chú giải Anguttara, người có thân kiến giống như một hòn đá ném xuống nước, sẽ không bao giờ xuất hiện trở lại. Không có tài sản hoặc bị con trai, con gái gét bỏ không quan trọng bằng việc bị chìm đắm và không bao giờ trở lại. Họ trở thành gia đình, người thân, hàng xóm, tài sản của bạn trong cuộc đời này. Bạn quan tâm đến những người đó nhưng bạn không có tình thương với chính mình. Quan tâm đến người khác, giống như “không sao đâu nếu tôi phải rơi vào cảnh giới khốn cùng”. Bạn là kẻ ngu ngốc và không biết về điều đó. Hãy nhìn vào tuổi tác của mình, cặp mắt của bạn đang hướng về phía nghĩa trang. Bạn đang già đi. Đó là lý do tại sao trong kinh Tương Ưng, Đức Phật đã nói “dập tắt thân kiến quan trọng hơn dập tắt ngọn lửa trên đầu, ngay cả khi có một ngọn giáo đâm vào ngực của bạn, hãy loại bỏ thân kiến trước tiên”.

Làm thế nào để kết thúc thân kiến? Sinh khởi và đoạn diệt của tâm phải được quan sát. Tà kiến được xua tan bởi kiến thức, bằng sự quan sát sự sinh diệt của danh sắc và sẽ được nhổ tận gốc bởi Đạo tuệ.

Thực hành minh sát tuệ, chánh kiến về vipassanā (vipassanā sammādiṭṭhi), tức là bạn đang xua tan tà kiến. Bạn đã bỏ lỡ tất cả các vị Phật trong các chu kỳ thế giới trước đây, bởi vì bạn đã ở trong địa ngục. Ai đã đưa bạn xuống địa ngục? Thân kiến đã gửi bạn xuống đó, khi thân kiến chưa được xua tan, chắc chắn bạn sẽ bỏ lỡ mọi vị Phật xuất hiện trên thế giới.

Bạn mong ước được nhìn thấy Đức Phật, bạn cúng dường đến Đức Phật với mong muốn được giác ngộ, giải thoát nhưng bạn vẫn không làm bất cứ điều gì để ngăn chặn pháp thân kiến đang che lấp bạn nhìn Đức Phật. Bạn có thể mong ước bất cứ điều gì, nhưng nếu bạn không thoát khỏi thân kiến, bạn sẽ không đạt được điều đó. Mong ước chỉ là điều bình thường nhưng thân kiến là điều thực sự đưa bạn đến các cõi thấp, pháp này chắc chắn sẽ đưa bạn đến các trạng thái khốn cùng. Đó là pháp gì? Là pháp thân kiến, pháp đã nhiều lần đưa bạn xuống bốn cõi đau khổ.

Trong suốt vòng luân hồi sinh tử, có bao nhiêu vị Phật đã xuất hiện? Nhiều như những hạt cát ở sông Ganga. Tại sao bạn lại bỏ lỡ tất cả? Bởi vì thân kiến đã đưa bạn xuống những cõi đau khổ trong suốt vòng luân hồi. Sẽ có nhiều vị Phật trong tương lai, nhưng nếu bạn không xua tan tà kiến, bạn sẽ tiếp tục bỏ lỡ cơ hội.

Đừng vội dập tắt ngọn lửa trên đầu bạn, ngôi nhà của bạn có thể bị cháy, quần áo của bạn có thể bị cháy, nhưng hãy xua tan thân kiến trước. Bởi vì vipassanā chưa bao giờ được thực hành trong suốt vòng luân hồi nên bạn đã nhiều lần sống trong các cõi đau khổ, điều này là chắc chắn, vì đã được Đức Phật nói trong Kinh Tập (sutta nipāta). Nếu bạn không bắt đầu thực hành vipassanā ngay bây giờ thì không còn gì tệ hơn điều này.

Vì có thân kiến mà 62 tà kiến khác còn ở đó, vì thân kiến này mà bạn đã bỏ lỡ vô số các vị Phật, nhiều như những hạt cát trên sông Ganga, cũng như đã bỏ lỡ lời dạy của những vị ấy. Bạn đã sống với đau khổ trong suốt thời gian qua. Trong kiếp sống này, bạn phải biết sự sinh khởi của các uẩn, biết sự sinh khởi của pháp Duyên Sinh, biết bản chất của các uẩn là sinh và diệt. Nếu không biết về các uẩn duyên sinh thì tà kiến về ‘con người’ hay ‘chúng sinh’ sẽ sinh khởi.

Ví dụ, nhĩ thức vừa sinh khởi, là khởi đầu của duyên sinh. Bạn phải biết đây là pháp Duyên Sinh, paṭiccasamuppāda. Bạn phải biết sự khởi đầu này, biết đó là sự sinh khởi của pháp, khi đó mới không bị coi là ‘tôi’ hay ‘người khác’. Quan sát ngay từ đầu bằng trí tuệ, sau đó ‘tôi’ và ‘người khác’ sẽ bị xua tan. Đó chỉ là pháp sinh khởi và pháp diệt đi, là pháp vô thường, không có ‘tôi’, không có ‘của tôi’.

Trong giáo pháp của Đức Phật, không có gì quan trọng hơn thực hành vipassanā, thực hành vipassanā nghĩa là xua tan tà kiến. Thay vì ăn hai bữa một ngày thì ăn một lần trong ngày là đủ, nếu mái nhà dột thì bỏ đi, không vấn đề gì, chúng sẽ không gửi bạn đến các cõi khổ, bị ướt có thể là điều tồi tệ nhất xảy ra. Nhưng nếu tà kiến không được xua tan, kết quả là tái sinh trong các cõi khổ.

Đừng nghĩ đây là vấn đề nhỏ, thân kiến là gốc rễ của tất cả các hành động bất thiện. Bạn nói rằng bạn đang kiếm tiền “cho bản thân tôi”, “cho con trai và con gái của tôi”. “Bản thân tôi” là tà kiến, “con trai và con gái của tôi” là tham ái. Những niềm tin này dựa trên thân kiến, do sức mạnh của thân kiến, bạn cố gắng kiếm tiền cho đến khi kiệt sức. Bạn không có lấy một ngày nghỉ ngơi, kiệt sức và già đi, bệnh tật đang bắt đầu hành hạ bạn. Mỗi ngày trôi qua bạn luôn phải sống trong nỗ lực kiếm tiền, hôm nay, ngày mai và ngày kia. Bởi vì có ‘tôi’ bạn đang cố gắng biến mọi thứ thành ‘của tôi’. Nếu cái ‘tôi’ tà kiến không được loại bỏ, việc cố gắng đạt được thứ này thứ kia sẽ làm cho ‘của tôi’ tiếp tục.

Hàng ngày bạn ngồi ở cửa hàng của mình và lần tràng hạt cầu nguyện, với mong muốn có nhiều khách đến mua hàng. Bạn làm điều này với sự thèm muốn (taṇhā), bạn đang cố gắng làm cho sự giàu có trở thành ‘của tôi’. Ngay cả khi bạn quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, rồi bạn tin rằng công việc làm ăn kinh doanh tốt đẹp là nhờ quy y Tam bảo. Thân kiến đang lén lút đi vào, bạn đang quy y Tam bảo với hy vọng doanh nghiệp của bạn sẽ thành công.

Khi tà kiến chưa được xua tan, trí tuệ sẽ không ở đó. Do thiếu hiểu biết (avijjā) nên các hành động có điều kiện (saṅkhāra) sinh khởi, avijjā paccaya saṅkhāra, ngay cả những hành động thiện cũng sinh khởi từ sự thiếu hiểu biết. Sau đó saṅkhāra paccaya viññāna, phụ thuộc vào các hành động có điều kiện (saṅkhāra) nên thức (viññāna) sinh khởi, và sẽ có tái sinh (jāti). Kết quả là bạn tiếp tục rơi vào sự tái sinh.

Khi hùn phước xây dựng nhà vệ sinh cho các tu viện, hay cho các nơi công cộng, bạn nói hướng này là may mắn đối với tôi. Bạn đang chọn hướng may mắn. Khi tặng một nhà vệ sinh, bạn nói đây là hướng không may mắn, sẽ gây nguy hiểm cho cuộc sống của tôi. Mặc dù đây là những phước thiện, nhưng chúng là các hành động có điều kiện, và bạn tiếp tục rơi vào kẽ hở của sự tái sinh. Đây là công việc của tà kiến, nếu tà kiến chưa được xua tan, thực hiện bất kỳ công việc gì đều dẫn đến một kết quả xấu xí.

Bạn muốn tặng một nhà vệ sinh, bố thí nước uống, hoặc trang trí một cây cột gần bảo tháp, thậm chí ngay cả khi đang dựng cột cho bảo tháp, bạn đang cố gắng chọn một hướng tốt. Bạn đang trở thành kẻ thù của giáo pháp vì vậy bạn nên lo lắng cho điều này. Nếu thân kiến chưa được xua tan, bất cứ điều gì được thực hiện, tất cả đều bị trộn lẫn với bất thiện. Các đốm đen lẫn trong một khung ảnh màu trắng không thể là một khung ảnh đẹp. Kết quả bạn nhận được không thể trong sạch và thanh tịnh, bởi vì phước thiện đã bị trộn lẫn với thân kiến. Sau đó bạn phàn nàn rằng kết quả không được như ý.

Bất cứ nơi nào tồn tại thân kiến thì không có cách nào đạt được Niết Bàn. Tại sao không thể đạt được Niết Bàn? Có phải vì bố thí (dāna) không? Bố thí có thể đưa bạn đến Niết Bàn nhưng thân kiến kéo bạn xuống. Giới (sīla) cũng có thể gửi bạn đến Niết Bàn nhưng thân kiến kéo bạn xuống. Bạn nói “tôi sẽ giữ các giới luật để sống lâu”. Muốn sống lâu thì chỉ cần sống lâu, không cần đến Niết Bàn. Không thể giác ngộ Niết Bàn chỉ bằng cách tuân thủ các giới luật.

Ai muốn sống lâu? Thân kiến trả lời tôi muốn sống lâu. Bất cứ điều gì bạn làm đều được trộn lẫn với tà kiến, khi bạn chuẩn bị đi lên thì nó kéo bạn đi xuống. Tôi không nói bố thí và giữ giới không đưa bạn tới đích, nhưng nếu có thân kiến ở đó bạn sẽ không bao giờ đến được đó. Chỉ khi thân kiến được xua tan, bất cứ điều gì bạn làm, bố thí, giữ giới, làm phước thiện sẽ được điều hành bởi trí tuệ, tà kiến được loại bỏ và chánh kiến sinh khởi.

Việc cần phải làm gấp là gì? Đó là thực hành vipassanā, sau đó mọi thứ sẽ dễ dàng. Thực hành vipassanā để làm gì? Để xua tan thân kiến. Khởi đầu của con đường dẫn đến Niết Bàn là vipassanā, nếu bạn không bắt đầu từ đây thì bạn sẽ ra đi. Chính Đức Phật đã nói với chúng ta điều này trong kinh Tương Ưng “katamo ca bhikkhave asankhatagami maggo”, giáo pháp chân chính chắc chắn sẽ đưa bạn đi trên con đường đến Niết Bàn. Câu trả lời là vipassanā, đây là con đường độc nhất dẫn đến Niết Bàn bởi vì nó xua tan thân kiến.

Bạn đã hiểu, điều quan trọng bây giờ là quan sát các uẩn như thế nào? Thực hành phải được thực hiện và không lùi bước. Bạn không cần phải tìm kiếm ở nơi khác, mở mắt và nhãn thức sinh khởi, quan sát sinh và diệt của nhãn thức. Lắng nghe, nhĩ thức sinh và diệt, biết điều này đang xua tan thân kiến. Ở mũi, bạn biết có mùi, quan sát sinh và diệt của tỷ thức. Ngứa ngáy trên cơ thể, quan sát sự sinh và diệt của ngứa. Khi có làn gió mát thổi vào cơ thể và cảm giác dễ chịu sinh khởi, hãy quan sát sinh và diệt của cảm giác dễ chịu tại nơi đó. Dễ chịu hay khó chịu, chỉ cần quan sát sự sinh khởi và diệt đi thì tà kiến được xua tan. Biết sinh khởi thì đoạn kiến bị xua tan, biết diệt đi thì thường kiến bị xua tan và rồi thân kiến cũng được xua tan.

Chúng ta đang nói về con đường dẫn đến Niết Bàn, con đường đó là gì? Đó là con đường minh sát, vipassanā. Tại sao minh sát tuệ dẫn đến Niết Bàn? Bởi vì nó xua tan thân kiến.

Nếu tà kiến có thể bị xua tan thì chánh kiến phát sinh tự động, và bạn không cần phải ao ước nó phát sinh. Chánh kiến biết rằng chỉ có sinh khởi và diệt đi, không có ‘tôi’ hay ‘người khác’, không có ‘con người’ hay ‘chúng sinh’. Khi chánh kiến xuất hiện bạn không cần phải mong muốn đạt được Niết Bàn. Vipassanā là con đường đích thực dẫn đến Niết Bàn. Do đó chánh kiến về vipassanā rất quan trọng.

Bạn muốn biết thực hành chánh kiến về vipassanā này trong bao lâu? Liên tục quan sát sinh và diệt của các uẩn từ lần này qua lần khác, cho đến khi bạn cảm thấy nhàm chán đối với các uẩn. Hãy quan sát sinh diệt nhiều hơn nữa để nhàm chán nhiều hơn, đây sẽ là nơi kết thúc của trí tuệ minh sát.

Thấy sinh diệt rồi chán ghét nó, bạn đi đến đoạn cuối của chánh kiến về vipassanā. Sau đó đến chánh kiến về đạo, magga sammādiṭṭhi, là chánh kiến về con đường dẫn đến diệt khổ. Magga sammādiṭṭhi là Bát Thánh Đạo và chánh kiến là lãnh đạo của tám chi đạo. Khác nhau giữa chánh kiến về vipassanā và chánh kiến về đạo là như thế nào? Vipassanā sammādiṭṭhi quan sát sự sinh diệt của các uẩn và có tiềm năng xua tan thân kiến. Sức mạnh của vipassanā sammādiṭṭhi kết thúc ở đó. Nhìn thấy sự sinh diệt của các uẩn và tà kiến được xua tan, đây là chức năng của vipassanā sammādiṭṭhi, đừng cho rằng đây là chánh kiến bình thường.

Chức năng của chánh kiến về đạo là gì? Nó cũng là chánh kiến (sammādiṭṭhi), sammā là đúng, diṭṭhi là nhìn nhận, xem xét, sammādiṭṭhi nghĩa là nhìn nhận đúng. Người này thấy như thế nào, người kia thấy ra sao? Nhưng với magga sammādiṭṭhi, sự sinh diệt của các uẩn không còn được nhìn thấy nữa và Niết Bàn xuất hiện, đây là chức năng của magga sammādiṭṭhi.

Sau khi chánh kiến về vipassanā kết thúc, chánh kiến về Đạo sinh khởi và được nắm giữ bởi trí tuệ. Các pháp sinh khởi và diệt đi giống như bánh xe quay tròn bị cắt đứt. Lúc này không còn thấy sinh diệt nữa, chúng bị bỏ lại và magga sammādiṭṭhi lấy Niết Bàn làm đối tượng.

Trí tuệ nhìn thấy Niết Bàn và không thấy sự sinh diệt của các uẩn là chánh kiến về Đạo. Magga sammādiṭṭhi không thấy sự sinh diệt. Nếu  còn thấy sinh diệt thì còn ở trong chánh kiến về vipassanā, thấy sinh diệt thì sẽ hướng sự chú ý đến các pháp có điều kiện. Niết Bàn là đối tượng (ārammaṇa paccayena) của Đạo tuệ, Niết Bàn có liên quan đến magga, magga nhìn thấy nibbāna và thấy sự diệt khổ. Đây là chánh kiến về Đạo dẫn đến diệt khổ, là trí tuệ nhìn thấy sự kết thúc của sinh diệt.

Kết thúc của sinh diệt là Niết Bàn, trí tuệ thấy được sự chấm dứt của sinh diệt magga sammādiṭṭhi, là con đường dẫn đến chấm dứt sự đau khổ. Không cần phải mong muốn đạt được Đạo tuệ, chỉ cần siêng năng thực hành vipassanā sammādiṭṭhi thì magga sammādiṭṭhi sẽ tự động đến. Chánh kiến về vipassanā là tiền thân của Đạo và Quả, chỉ có chánh kiến về vipassanā là quan trọng, những điều khác không quan trọng. Chỉ cần tiếp tục thực hành vipassanā. Bất cứ pháp nào sinh khởi bên trong, bất cứ tâm nào sinh khởi, chỉ cần liên tục quan sát về sự sinh và diệt của chúng. Vipassanā sammādiṭṭhi chỉ thấy sinh và diệt, đây là công việc duy nhất của nó. Khi quan sát đủ nhiều tà kiến sẽ tự động bị xua tan.

Chánh kiến về Đạo không thấy sinh khởi, không thấy đoạn diệt, chỉ thấy sự diệt vong của vòng tròn duyên sinh (vaṭṭa). Khi quan sát về sinh diệt, đến một thời điểm sinh diệt không còn được thấy nữa, bánh xe vipāka vaṭṭa đang quay vòng cũng biến mất. Vipāka vaṭṭa là các hiện tượng vật chất (rūpadhamma) và hiện tượng tinh thần (nāmadhamma) sinh khởi và diệt đi. Sinh diệt lặp đi lặp lại nên vipāka vaṭṭa lặp đi lặp lại. Khi magga sammādiṭṭhi sắp xuất hiện, bánh xe vipāka vaṭṭa này ngừng quay, và sinh diệt không còn được thấy nữa.

Đừng nghĩ Niết Bàn xuất hiện như một quả cầu sáng rực rỡ, đó chỉ là sự chấm dứt của sinh và diệt. Biết bản chất của sự chấm dứt là Đạo tuệ. Vipassanā sammādiṭṭhi chỉ thấy sinh và diệt của các uẩn, còn magga sammādiṭṭhi không thấy sinh và diệt nữa, thay vào đó là thấy Niết Bàn.

Để cho bạn hình dung rõ hơn, tôi sẽ đề cập đến kinh Mi Tiên Vấn Đáp (milindapañha). Mặc dù chánh kiến về vipassanā và chánh kiến về Đạo đều là chánh kiến nhưng chúng rất khác nhau. Vipassanā thấy đúng là một chuyện, magga sammādiṭṭhi thấy đúng là một chuyện khác. Vua Milinda là một ông vua rất thông thái, ngay cả các vị A La Hán cũng phải bỏ chạy vì không thể trả lời được các câu hỏi của vị  ấy.

Một ngày nọ ngài thánh tăng Nāgasena đáng kính đến, khi đó họ đã hoàn thành ước nguyện tương ứng của họ trong vòng sinh tử. Vua Milinda hỏi ngài Nāgasena “Hãy cho tôi biết Niết Bàn được nhìn thấy như thế nào? Thưa ngài Nāgasena đáng kính, tôi tin rằng ngài là một vị thánh tăng A La Hán và đã thấy Niết Bàn. Xin hãy cho tôi biết cách nhìn thấy Niết Bàn cùng với phương pháp tu tập”. Nếu ngài Thánh tăng không đưa ra câu trả lời, vua Milinda sẽ nói rằng không có Niết Bàn. Câu hỏi này có liên quan đến chánh kiến, chánh kiến về vipassanā và chánh kiến về Đạo.

Vua Milinda: Niết Bàn có tồn tại không?

Ngài Nāgasena: Có

Vua Milinda: Niết Bàn có trong quá khứ, hiện tại hay tương lai?

Ngài Nāgasena: Không có trong cả ba.

Vua Milinda: Nếu Niết Bàn không có trong bất kỳ thời nào thì nó không tồn tại.

Ngài Nāgasena: Nếu Niết Bàn ở trong quá khứ thì chỉ những người ở trong quá khứ mới có thể kinh nghiệm nó. Nếu ở trong tương lai thì chỉ những người trong tương lai mới có thể kinh nghiệm Niết Bàn và những người hiện tại sẽ chết trong vô vọng. Niết Bàn là kala vimutti, pháp vượt thời gian, không có thời gian, không có quá khứ, hiện tại hay tương lai, nhưng Niết Bàn tồn tại.

Lấy một ví dụ, chà xát hai que tre để có được lửa. Vậy ngọn lửa từ quá khứ, hiện tại hay tương lai? Trong que tre chỉ có tre, không có lửa. Trong tre không bao giờ có lửa, nhưng nỗ lực chà xát đã tạo ra lửa. Hai que tre được chà xát trong thời gian dài sẽ tạo ra lửa.

Cũng như vậy, thực hành vipassanā thì Niết Bàn sẽ xuất hiện, nhưng nó không có ở trong ba thời kỳ. Không thực hành, Niết Bàn sẽ không đến. Nếu bạn chỉ đi dâng hoa và nước cho tượng Phật rồi cầu nguyện “mong cho tôi đạt được Niết Bàn”, bạn sẽ không đạt được điều đó.

Que tre có tự động tạo ra lửa không, hay bạn phải chà xát chúng với nhau? Đặt những que tre xuống đất thì liệu lửa có bùng lên? Chỉ khi bạn chà xát chúng cho đến khi  đủ các điều kiện để chúng bốc cháy thì bạn mới có lửa. Tương tự như vậy, thực hành vipassanā sammādiṭṭhi và quan sát các hiện tượng sinh diệt cho đến khi sinh diệt chấm dứt thì Niết Bàn xuất hiện.

Chà xát hai que tre tạm thời chưa có lửa, lửa xuất hiện vì công sức của người chà tre. Đây là ngọn lửa không đến từ ba thời kỳ. Đối với vua của cõi Trời, phương tiện di chuyển của vị ấy không tự động xuất hiện. Vị vua ấy, mặc áo bào trắng, giữ gìn năm giới và phóng hào quang hướng đến tất cả, rồi cỗ xe xuất hiện trên bầu trời. Chỉ khi nhà vua thực hành các hạnh công đức thì cỗ xe mới xuất hiện.

Tương tự như vậy, thực hành pháp giúp bạn đến được Niết Bàn. Chỉ với mong ước Niết Bàn thì sẽ không có kết quả, chỉ khiến người khác mỉm cười. Hãy coi đó là điều đáng xấu hổ. Trước đây bạn không biết, bạn nghĩ rằng Niết Bàn là thứ có thể ước ao được. Bây giờ bạn biết rằng bạn phải thực hành.

Niết Bàn có tồn tại hay không? Nó ở đó. Với vipassanā sammādiṭṭhi, hãy luyện tập chăm chỉ và tinh tấn. Nỗ lực quan sát không ngừng nghỉ sự sinh diệt của các uẩn, đầu tiên quan sát về sự sinh diệt, sau đó trí tuệ hướng đến sự chấm dứt của sinh diệt. Lúc đầu là chánh kiến về vipassanā, sau đó được phát triển và hướng đến kết thúc sinh diệt, cuối cùng không còn sinh khởi, không còn đoạn diệt.

Từ sinh diệt hướng đến không sinh diệt, đây là sự giác ngộ Niết Bàn. Bạn phải nhớ rằng không có sinh diệt thì không có khổ đau. Diệt đế là Niết Bàn, Niết Bàn là một thị trấn, một thành phố hay là sự chấm dứt của sinh diệt? Biết sự chấm dứt của sinh diệt là Đạo tuệ, bạn phải thực hành để trí tuệ vipassanā phát triển lên tầm cao hơn.

Không cần phải suy đoán bạn đã đạt đến giai đoạn nào, điều này không giống như leo cầu thang. Khi bạn leo cầu thang, bạn nói rằng bạn đã đến bước thứ bảy hoặc thứ mười sáu. Nhưng đối với tuệ minh sát, bạn không thể phân biệt được chúng. Các tuệ minh sát được đề cập tới trong Vô Ngại Giải Đạo (paṭisambhidā) được ngài Sariputta miêu tả bằng bốn tuệ phân tích của ngài. Khi tuệ minh sát được phát triển đầy đủ, nó sẽ đột ngột chuyển hướng về Đạo tuệ, như ngài Nāgasena nói. Đối tượng của trí tuệ minh sát là sinh diệt, đối tượng của Đạo tuệ là sự biến mất của sinh diệt. Trong khi quan sát về sinh diệt, trí tuệ hướng đến nơi không có sinh diệt. Đây là tuệ minh sát tiến đến Đạo tuệ, đây là câu trả lời do ngài Nāgasena miêu tả cho đức vua Millinda.

Sư Chân Thiện dịch

Pháp thoại với U-Pe-Win

U Pe Win: Thưa ngài, con là một tín đồ của đức tin khác. Con đã đặt câu hỏi về những điều con nghi ngờ tới nhiều người từ các tôn giáo khác nhau, nhưng chưa ai đưa ra câu trả lời đủ để làm con hài lòng. Từ những gì được nghe, con biết rằng Phật giáo dạy về giới đức. Khi con đến phương Tây, con đã thảo luận về tôn giáo, chính trị, kinh tế với giới tinh hoa đến từ những nước phát triển. Theo đức tin của họ, không bao giờ có thể đạt được thành tựu trọn vẹn khi con người thực hành, Niết Bàn không thể đạt được.

Đối với họ, niềm tin là chính. Chỉ có niềm tin vào Đức Chúa Trời của họ thì mới được cứu rỗi và Thiên Đàng sẽ đạt được. Điều con muốn hỏi ngài là liệu con người có thể đạt được Niết Bàn thông qua thực hành không, và Thiên Đàng có thể đạt được bằng cách thức như đã ghi trong Kinh Thánh không? Con người có thể thực hành tới mức độ nào? Thực hành được là rất tốt, nhưng ở trên đời tâm bất thiện chiếm ưu thế. Xin ngài hãy giải thích để con có thể hiểu được.

Sayadaw: Tôi sẽ giải thích, hãy lắng nghe. Thực tế mà nói, có đức tin thì mới tin vào người khác và có niềm tin vào chính mình. Khi nói ‘người khác’, đó không ai khác chính là ‘Chúa’ mà mọi người đều tin tưởng hoặc tôn kính, cũng như các nhà sư đang được tôn kính tại các ngôi làng. Vì vậy niềm tin này kết thúc ở nơi người khác. Nếu bạn nói “Thượng đế vĩnh cửu”, thì điều này kết thúc bằng “Thượng đế vĩnh cửu”. Bởi vì bạn có đức tin nơi Ngài, dù tốt hay xấu, đều kết thúc ở Ngài, sự khôn ngoan của chính bạn không có ở đó. Chúng kết thúc bằng những gì đã được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Sẽ tốt hơn nếu bạn thực sự biết điều đó và nói ra điều đó.

Nếu anh ta không biết rõ và anh ta đang nói từ trí tưởng tượng, thì trí tuệ của bạn sẽ kết thúc ở miệng của anh ta. Trí tuệ của bạn không vượt quá những gì anh ta nói. Con đường của bạn kết thúc với những kiến thức ít ỏi mà anh ta có. Thậm chí nếu bạn không biết những gì anh ta biết, thì cuối cùng bạn biết ít hơn anh ta.

Đức Phật không thích tin vào người khác. Chỉ với niềm tin thôi là chưa đủ, hãy lưu ý rằng niềm tin kết thúc ở miệng của người khác. Nó không được phân tích xem đây là miệng tốt hay miệng xấu. Không phân tích có nghĩa là bạn là người không khôn ngoan, thiếu hiểu biết.  

U Pe Win: Thưa ngài, từ những gì con biết, Đức Chúa Trời của họ nói: “Hãy hoàn toàn tin tưởng vào tôi. Nếu bạn hoàn toàn tin tưởng vào tôi, thì tôi sẽ cứu bạn.”

Sayadaw: Điều này là thông qua trí tuệ của chính bạn hay từ việc nghe người khác nói?

U Pe Win: Nghe từ người khác nói, thưa ngài.

Sayadaw: Những suy nghĩ của riêng bạn có thông qua trí tuệ của chính bạn không?

U Pe Win: Không, thưa ngài.

Sayadaw: Do đó bạn kết thúc ở cái miệng của người khác.

U Pe Win: Thưa ngài, vậy thì làm thế nào để biết là đúng?

Sayadaw: Với kiến thức của riêng bạn, hãy nhìn vào các uẩn của chính bạn. Sau đó hãy tự quyết định điều gì đang xảy ra với mình. Chỉ khi bạn tự mình biết và tin vào điều đó thì sự thật mới đạt được. Tin những gì người khác nói, bạn sẽ không đạt được sự thật. Hãy để tôi hỏi bạn, nếu bạn muốn làm điều gì đó, tin những gì người khác nói và tin sau khi bạn đã tự mình kiểm tra, bạn sẽ tin vào điều nào?

U Pe Win: Con sẽ tin tưởng vào những gì đã tự mình kiểm tra, thưa ngài.

Sayadaw: Sau đó, nảy sinh một vấn đề. Nếu thầy của bạn không hướng dẫn bạn, bạn sẽ làm gì? Có hai loại giáo viên, giáo viên dạy đúng và giáo viên dạy sai. Hãy tự mình phân tích điều mà giáo viên của bạn đã dạy. Cho dù giáo viên của bạn dạy điều gì đó đúng hay sai, hãy tìm hiểu và kiểm tra điều đó với thân tâm của bạn. Chấp nhận những gì đến cùng với thân tâm như nó đang là. Lời dạy ở đó và bạn phải kiểm tra chính mình. Chỉ khi nó cân bằng, hãy chấp nhận điều đó. Bạn có hiểu không?

U Pe Win: Thưa ngài, con hiểu. Họ cho con ví dụ, đối với người Miến Điện, đó là Niết Bàn, trong Thiên chúa giáo đó là Thiên Đường. Cũng như bờ biển bên này và bờ biển bên kia. Bên này là thế gian, bên kia là xuất thế gian. Có một người cố gắng bơi để vượt qua biển. Chúng con là những người đang cố gắng bơi qua biển, những người giữ giới là những người cố gắng bơi qua biển. Họ nói rằng người đang cố gắng bơi qua biển sẽ không thể sang đến bờ bên kia nếu không có sự giúp đỡ. Đức Chúa Trời của họ nói rằng tin Ngài giống như đang ở trên một chiếc bè và chắc chắn sẽ đưa họ đến bờ bên kia. Nếu tự mình thực hành theo Phật Giáo, và bơi qua biển, không có nghĩa là sẽ thành công.

Sayadaw: Trong tai của chúng ta, của bạn và của tôi, điều này có thể đúng. Bạn nhận lấy chiếc bè mà Ngài có thể ban cho bạn. Bạn có thể cưỡi bè của Ngài chỉ với đức tin. Bạn hỏi họ sử dụng cái gì, và họ trả lời rằng sử dụng cái bè siêu năng lực của Ngài. Với chiếc bè đến từ siêu năng lực này, bạn sẽ đến được bờ bên kia.

U Pe Win: Đó là bởi vì họ tin vào sự sáng tạo, thưa ngài.

Sayadaw: Nếu Ngài có thể tạo ra con người, tại sao Ngài không thể giúp tất cả con người lên Thiên đàng?

U Pe Win: Đức Chúa Trời tạo ra con người, và nói rằng nếu chúng ta tin Ngài, thì chúng ta sẽ rất dễ dàng để lên được Thiên đàng. Họ nói rằng trong Phật Giáo không đề cập đến việc con người được đưa đến bờ bên kia bởi Đức Phật. Nếu phải tự mình luyện tập thì làm sao có thể bơi qua biển cả bao la. Vì vậy họ cho rằng đức tin của họ rất đáng tin cậy.

Sayadaw: Được rồi, để tôn giáo và đức tin của họ sang một bên, chúng ta sẽ kiểm tra chúng. Tôi giả sử rằng nếu có đức tin nơi Ngài, thì Ngài có thể cứu chúng ta khỏi mọi sự nhưng Ngài không thể cứu những người không có đức tin nơi Ngài. Ngài không thể làm gì đối với những người không có đức tin nơi Ngài, nghĩa là Ngài sẽ bỏ qua họ? Sau đó, nếu Ngài bỏ qua những người này, thì Ngài có lòng từ bi thật sự với tất cả mọi người không?

U Pe Win: Thưa ngài, con đã hỏi họ. Họ nói, chất độc dù được uống bởi những người biết nó và những người không biết nó đều gây ra cái chết. Những người không có niềm tin giống như những người đang uống thuốc độc, nên sẽ không được cứu. Theo quan điểm của họ, cho dù họ có thể phạm tội như thế nào, thì cũng giống như cha mẹ luôn tha thứ cho con cái. Làm sao Đức Chúa Trời tạo ra họ lại không tha thứ cho họ? Đức Chúa Trời tha thứ cho tội nhân nếu tội nhân ăn năn tội lỗi của mình một cách đúng đắn.

Sayadaw: Chúng ta hãy làm sáng tỏ quan điểm này. Điều này có nghĩa là nếu gần chết một người nhớ lại các tội lỗi, thì tội lỗi sẽ được tha thứ và có quả báo tốt?

U Pe Win: Vâng thưa ngài.

Sayadaw: Trong đức tin của chúng tôi, khi một người gần đến cái chết, dù có tin Đức Phật hay không, anh ta đều nhìn thấy con đường mình sắp đi. Người sắp đoạ địa ngục nhìn thấy lửa địa ngục, người trở thành ngạ quỷ nhìn thấy khu rừng, đồi núi, vách đá. Người này không thể thay đổi những hình ảnh đó bằng bất cứ cách nào. Không ai có thể cứu người này, anh ta đang kiệt sức. Trước khi chết anh ta nhìn thấy những thứ này, nếu bạn không tin hãy để ý những người sắp chết. Nếu một người đã làm điều ác trong cuộc đời của mình, lúc sắp chết nước mắt sẽ chảy ra trên khuân mặt người đó. Vặn đi xoay lại, cho dù không thể chịu nổi nhưng anh ta không thể thay đổi được. Những điều anh ta đã làm đã sai, anh ta chắc chắn sẽ phải đi con đường đó. Giờ thì anh ta đã biết con đường mình phải đi nhưng lúc này không còn ai cứu được anh ta nữa. Anh ta muốn để lại những lời nhắn nhưng không còn thời gian để nói, đây là những gì Đức Phật đã dạy chúng tôi.

Tôi có thể dẫn chứng từ nhiều bài kinh. Một người có cuộc sống hạnh phúc khi gần chết sẽ thấy những dấu hiệu hạnh phúc. Những người rơi xuống các cõi khổ sẽ nhìn thấy các dấu hiệu đáng sợ. Tôi sẽ giải thích tại sao người này không thể nhớ bất cứ ai vào thời điểm này. Đó là do các tâm cận tử. Sau tâm tử, thức tái sinh sinh khởi trong kiếp sống mới. Tại thời điểm đó thậm chí Đức Phật cũng không thể ra tay cứu giúp.

Tâm lúc hấp hối sẽ nhìn thấy con đường sắp đi. Nếu những việc tốt đã được thực hiện trong cuộc sống, tâm sẽ nhìn thấy con đường tốt sắp đi, nếu những việc ác đã được thực hiện, tâm sẽ thấy con đường đáng sợ sắp đến. Sau khi nhìn thấy những thứ này, cái chết sẽ đến. Đây có phải là lúc mà người ta có thể cầu xin sự tha thứ không? Không phải lúc. Như vậy theo quan điểm của họ, cho rằng sau khi làm các việc ác ở đời, và ăn năn ngay trước khi chết, thì vẫn có thể được cứu rỗi. Hãy suy nghĩ về điều này một cách cẩn thận, liệu có khả năng thành công không?

Sau khi nhìn thấy năm tâm đổng lực khi hấp hối, người làm điều tốt sẽ được tái sinh ở cảnh giới tốt. Có một loại niềm tin, tin những gì người khác nói. Có một loại niềm tin khác, tin tưởng sau khi sau khi đã tự mình kiểm tra điều đó. Cái nào nên được tin tưởng hơn?

U Pe Win: Điều đã được thử nghiệm rồi mới tin là đúng, thưa ngài.

Sayadaw: Đúng, Đức Phật chỉ hướng dẫn điều này, Ngài không phải là một vị cứu tinh. Ngài là thầy thuốc hướng dẫn chúng ta, nếu bạn uống thuốc mà tôi cho bạn, bạn sẽ khỏi bệnh. Bạn không thể được chữa khỏi chỉ bằng cách thốt lên “hãy chữa khỏi bệnh”. Đây là sự khác biệt lớn. Đức Chúa Trời là người chữa bệnh bằng đức tin, còn Đức Phật là một thầy thuốc. Tôi sẽ cho bạn thuốc, hãy dùng nó và sẽ được chữa trị. Đối với những người bị chứng khó tiêu, thuốc tiêu hoá sẽ được dùng. Ai đang bị tiêu chảy thì dùng thuốc tiêu chảy. Chỉ nói rằng “hãy có cách chữa trị”, thì không có cách chữa trị nào cả. Đối với người bị rắn cắn, cần phải tiêm huyết thanh ngay, nếu chỉ nói “được chữa khỏi” sẽ không có ích gì.

Họ nói họ sẽ đến Thiên đàng, chúng tôi cũng phải nói rằng chúng tôi sẽ đạt được Niết Bàn. Họ được đưa đến Thiên đàng trên một chiếc bè do Đức Chúa Trời vĩnh cửu làm nên. Đối với chúng tôi không giống như vậy. Chúng tôi sẽ phải tự làm chiếc bè, và phải băng qua đại dương bằng chiếc bè do chính chúng tôi làm ra. Tuổi già, bệnh tật, cái chết có thể tránh được hay không?

U Pe Win: Thưa ngài, không thể tránh khỏi.

Sayadaw: Bây giờ chúng ta đang ở trên con đường mà không thể tránh khỏi, vậy thì có con đường khác nào  ngoài con đường này không? Nếu có một con đường già, bệnh, chết thì phải có một con đường không già, không bệnh, không chết. Có bệnh thì phải có thuốc chữa. Đức Phật đã chỉ cho chúng ta hai con đường, ngoài con đường già, bệnh, chết còn có một con đường khác không có già, không có bệnh và không có cái chết.

Các uẩn này thường xuyên bị giày vò bởi sự già nua, ốm yếu và cái chết. Tuy nhiên những ai mong muốn sau cuộc sống này có một cuộc sống khác mang lại hạnh phúc hơn, như những người đàn ông giàu có hay những vị thần sức mạnh, thì họ đang đi trên con đường mà ở đó có sự già, bệnh và cái chết tồn tại. Những ai không dính mắc vào các uẩn này sẽ không đi theo con đường mà ở đó có sự già, bệnh tật, và cái chết tồn tại. Dính mắc với các uẩn này, bạn sẽ thích nó nếu bạn có, và mong muốn trong kiếp sau các uẩn sẽ tốt hơn. Nếu vậy, các uẩn trong kiếp sau vẫn sẽ là năm uẩn. Những gì bạn có bây giờ cũng là các uẩn, tất cả các uẩn đều là già, bệnh và chết. Các uẩn là con đường của lão hoá, bệnh tật và cái chết, không có các uẩn là con đường không có già, bệnh và chết. Có hai con đường, bạn chọn con đường nào?

U Pe Win: Thưa ngài, con chọn con đường không có già, bệnh và chết.

Sayadaw: Tôi thích điều đó. Quyết định của bạn sẽ dẫn đến biết được Pháp giác ngộ trong đời sống này. Cho dù một người có thể giàu sang đến đâu trong cuộc sống này, nếu người đó không biết đường đi, thì các uẩn không trở nên ít đi. Sau đó người này sẽ bị già, bệnh và chết. Bây giờ bạn đến để không thích già, bệnh, chết, nhưng bạn vẫn đang già đi, bệnh tật và sẽ chết. Bạn phải sợ hãi. Bây giờ tôi biết bạn muốn đi con đường nào, dù cho bạn đang sống trong một ngôi biệt thự mạ vàng, nhưng nếu đó là con đường có sự già nua, bệnh tật, chết chóc thì bạn cũng không muốn.

Con đường của già nua, bệnh tật và cái chết là con đường của tà kiến (micchadiṭṭhi). Ngược lại là con đường không có già nua, không có bệnh tật, không có cái chết, là con đường của chánh kiến (sammādiṭṭhi). Con đường tà kiến sẽ dẫn đến già, bệnh và chết, con đường chánh kiến là con đường tự do khỏi những điều này.

Người nào dính mắc vào các uẩn này, khi chết sẽ ném xuống các uẩn này, nhưng sẽ phải chịu gánh nặng của các uẩn khác. Rồi anh ta tiếp tục gặp lại sự già nua, bệnh tật, chết chóc. Người nào không dính mắc vào các uẩn hiện tại sẽ không có các uẩn trong tương lai. Hãy hỏi tôi cách không dính mắc vào các uẩn hiện tại. Khi đó bạn sẽ không bị già nua, bệnh tật, chết chóc. Con đường không thoát khỏi già, bệnh, chết gắn liền với các uẩn hiện tại. Mong muốn về các uẩn tương lai tốt hơn các uẩn hiện tại, người như vậy có hai loại tham ái (taṇhā). Người nào có hai loại tham ái này sẽ bị già, bệnh, chết trong sự hiện hữu ở tương lai. Không dính mắc vào các uẩn hiện tại sẽ không dính mắc vào các uẩn tương lai. Người nào biết năm uẩn là già, bệnh, chết sẽ không bị già, bệnh, chết nữa.

Khi được hỏi ai tạo ra các uẩn già, bệnh, chết này, sẽ không có Thượng đế. Chúng được tạo ra bởi tham ái, bởi vì có tham ái nên có các uẩn già, bệnh và chết. Bây giờ thủ phạm đã được tìm thấy. Đó không phải là Thượng Đế vĩnh cửu, cũng không phải là Đức Phật tạo ra sự già nua, ốm yếu, chết chóc. Tham ái được gắn vào các uẩn và tạo ra chúng. Vậy con đường kết thúc ở miệng của người khác hay do chính bạn nhận ra? Bạn tin vào những gì người khác nói hay chính bạn nhận ra? Tự mình nhận ra là kiến thức paccakkha. Còn ham muốn về các uẩn thì còn tạo ra già, bệnh, chết. Làm cho ham muốn của bạn không còn nữa sẽ dẫn đến tự do khỏi già, bệnh, chết. Vì vậy thoát khỏi ham muốn là quan trọng nhất. Bây giờ bạn đã hiểu điều này chưa?

U Pe Win: Thưa ngài con đã hiểu.

Sayadaw: Nếu bạn hiểu điều này, bạn đang bắt đầu hiểu sự thật (sacca), bạn phải nhớ rằng nguyên nhân của đau khổ (samudaya sacca) cần phải được thoát khỏi. Sự thật của samudaya sacca là ái (taṇhā), khi ái bị cắt đứt, công việc của bạn sẽ xong. Bây giờ bạn có tin rằng cắt bỏ sự thèm muốn sẽ giúp hoàn thành nhiệm vụ của bạn không? Đừng tin những gì Thượng Đế nói, đừng tin những gì Đức Phật nói. Hãy quyết định bằng chính mình, sau đó tin vào điều đó. Cái nào tồn tại lâu hơn, đau khổ do hận thù hay đau khổ do dính mắc?

U Pe Win: Thưa ngài, đau khổ do dính mắc tồn tại lâu hơn.

Sayadaw: Đúng vậy, khi sân hận, bạn bỏ đi, nhưng khi dính mắc bạn không thể cắt bỏ. Không thể cắt bỏ là do tham ái nằm phía sau nó. Không thoát khỏi tham ái, sẽ có các uẩn. Chỉ khi không dính mắc vào các uẩn thì bạn mới không mệt mỏi với các uẩn này. Bạn cho các uẩn này ăn vừa đủ để nó tiếp tục. Biết rằng các uẩn trong tương lai cũng sẽ dẫn đến già, bệnh, chết, liệu bạn còn mong muốn điều đó không?

U Pe Win: Thưa ngài, con sẽ không mong muốn chúng nữa.

Sayadaw: Không còn mong muốn thì bạn còn thực hiện những điều ước thông thường nữa không?

U Pe Win: Thưa ngài con sẽ không thực hiện những mong muốn thông thường.

Sayadaw: Không có mong muốn, bạn cần thực hành để đạt được điều đó. Bạn phải thực hành. Bạn bị lở loét và những người khác nói “hãy  chữa khỏi bệnh” sẽ không giúp bạn chữa khỏi. Bạn phải sử dụng đúng toa thuốc, rồi sẽ có thuốc chữa. Do đó phải dựa vào chính bản thân bạn. Thời Đức Phật có tỳ khưu Vakkali, người ngưỡng mộ Đức Phật đến nỗi không rời khỏi Đức Phật. Đức Phật nói với vị ấy rằng không được ở gần Ngài nữa vì làm như vậy sẽ không có kết quả. Đức Phật đuổi vị ấy đi và yêu cầu vị ấy phải tự mình thực hành.

U Pe Win: Thưa ngài, con có thể hỏi ngài một câu hỏi được không?

Sayadaw: Hãy hỏi đi.

U Pe Win: Con muốn biết liệu con có thể đạt được giải thoát thông qua thực hành không, thưa ngài?

Sayadaw: Để biết được điều này, bạn cần phải thực hành. Không thực hành, điều này không thể đạt được. Để được giải thoát, không chỉ thực hành một lần, mà bạn phải tập đi tập lại vô số lần. Bạn cứ tiếp tục như vậy cho đến khi bạn trở thành một chuyên gia. Hãy nghĩ về việc bạn lái xe ô tô. Nếu bạn không tập lái, không thực hiện đúng cách thì bạn không thể lái được xe ô tô. Nếu ai đó đã tập lái tốt, thì khi bắt đầu lái xe anh ta có thể lái được ngay lập tức. Chỉ khi nào chưa làm tốt bạn mới phải tập đi tập lại, nhưng khi công việc của bạn đã hoàn thành, bạn không cần phải luyện tập thêm. Khi đó, bạn có cần phải luyện tập thêm không?

U Pe Win: Thưa ngài, không.

Sayadaw: Trong số những người thực hành, người có trí tuệ sắc bén có thể nhận ra sự thật ngay khi thực hành chỉ một lần. Nhưng người không có trí tuệ sắc bén phải thực hành nhiều lần. Điều này tuỳ theo sức mạnh của trí tuệ. Tất cả những người thực hành đều không thể mong đợi điều tương tự.

Họ nói rằng thực hành là không thể, Niết Bàn không thể đạt được thông qua thực hành. Họ nói rằng họ có thể đến Thiên đường chỉ nhờ sự cứu rỗi. Hãy suy nghĩ về điều đó. Bạn đang dựa vào những gì người khác nói, nỗ lực của chính bạn có ở đó không? Bạn có cuộc sống thịnh vượng, bạn được tôn trọng. Sự thịnh vượng của bạn là do người khác trao cho bạn hay bạn đã phải làm việc để có được điều đó?

U Pe Win: Con thịnh vượng vì con đã làm việc cho điều đó.

Sayadaw: Bạn có tin vào sự cứu rỗi mà người khác nói với bạn không? Nếu Ngài có thể đến cứu bạn, Ngài sẽ giúp bạn thoát khỏi cảnh nghèo khổ. Ngài sẽ chữa khỏi bệnh cho bạn. Ngài sẽ cứu bạn thoát khỏi già, bệnh, chết. Khi đó mới có thể nói rằng Ngài cứu bạn. Nhưng liệu Ngài có thể ngăn chặn sự già nua, bệnh tật, cái chết trong bạn không, để không còn sự già, không còn bệnh tật và cái chết không đến với bạn nữa. Nếu không thì Ngài không có quyền năng để cứu người người khác.

U Pe Win: Nhưng thưa ngài, liệu con người có thể tuân theo phương pháp mà Đức Phật đã hướng dẫn không? Nếu con người không thể thực hành, thì nói về thực hành cũng chẳng lợi ích gì.

Sayadaw: Có hai cách thực hành, thực hành pháp thế gian và thực hành pháp siêu thế. Bạn đã học tập bao nhiêu năm để lấy được bằng cử nhân. Đối với người có trình độ dân trí cao, họ phải học tập trong khoảng mười bốn năm. Bạn đã học đi học lại để không quên kiến thức. Điều này xảy ra vì bạn nói “hãy để điều này xảy ra” hay bạn đạt được vì bạn đã làm việc nỗ lực cho điều đó? Chỉ khi bạn làm việc chăm chỉ, bạn mới sở hữu được những điều như vậy. Bạn học và làm cho công việc thế gian như thế nào thì bạn cũng phải thực hành giáo pháp giống như vậy.

U Pe Win: Thưa ngài, đây là điều con muốn biết. Con đã suy nghĩ khoảng một năm về việc thực hành. Con nghĩ rằng mình không bao giờ có thể đạt được với khả năng của chính mình. Học tập lấy được bằng cử nhân, nhưng nếu chúng ta thực hành, tại sao chúng ta lại không thể đạt được? Con muốn biết điều này rõ ràng.

Sayadaw: Tôi sẽ giải thích điều này theo một cách khác. Bạn lấy bằng cử nhân và bằng thạc sĩ, bạn làm việc với người nước ngoài, bạn hiểu ngôn ngữ của họ. Bạn không cần phải cố gắng nhiều hơn cho ngôn ngữ Miến Điện vì đây là ngôn ngữ của tổ tiên bạn. Khi mới sinh ra, trước tiên cha mẹ bạn sẽ dạy bạn rằng, đây là cha, đây là mẹ, ăn cơm trước, uống nước sau. Sau đó trở thành thói quen. Trong mọi công việc đều phải có sự luyện tập. Có một loại thực hành do cha mẹ dạy, có một loại thực hành khác do Đức Phật dạy. Người được cha mẹ dạy dỗ thì không thoát khỏi già, bệnh và chết, còn người được Đức Phật dạy thì tự do khỏi già, bệnh và chết. Vì vậy bạn phải thực hành theo cách để thoát khỏi những điều đó.

U Pe Win: Thưa ngài, điều con đang muốn nói là tất cả mọi người đều đang thực hành, nhưng Niết Bàn không thể đạt được. Cuối cùng thì nó vẫn nằm ngoài tầm với. Con đường thực sự ở đó, chúng con đều đi trên hành trình đó, nhưng không thể đến được điểm cuối cùng của hành trình. Đây là giả định của con, thưa ngài.

Sayadaw: Đừng tư duy theo cách này, nó không giống như vậy. Giữa Đức Phật hiện tại và Đức Phật kế tiếp, bề mặt trái đất sẽ dày thêm một do tuần (yojana). Nếu trái đất không bị phá huỷ, bề mặt trái đất sẽ tăng thêm 13 dặm. Nó không phải là rất cao? Một người muốn trở thành một vị Phật phải thực hành cho đến khi bề mặt trái đất tăng lên 13 dặm. Bạn không nghĩ đến việc trở thành một vị Phật và chỉ muốn thoát khỏi sự già, bệnh, chết thì nếu bạn bắt đầu thực hành vào buổi sáng, bạn thậm chí có thể đạt được giải thoát vào buổi tối. Tôi chỉ nói điều này một cách ngắn gọn. Đức Phật thực hành vì Ngài muốn cứu độ chúng sinh nên Ngài phải mất nhiều thời gian cho việc thực hành. Nhưng đối với chúng ta, thực hành chỉ để thoát khỏi đau khổ, do đó không mất nhiều thời gian.

U Pe Win: Vâng thưa ngài, việc cố gắng giải thoát cho chính mình sẽ dễ dàng hơn. Cần nhiều thời gian hơn để trở thành một vị Phật và hướng dẫn người khác tự cứu bản thân họ.

Sayadaw: Đúng vậy, điều này phụ thuộc vào mục đích. Đối với người đã có bằng cử nhân, lấy bằng thạc sĩ cần phải học thêm hai năm, để giúp cho người đó có vị trí cao trong xã hội. Đối với hạnh phúc của riêng bạn, bạn sẽ không mất nhiều thời gian, nhưng để hướng dẫn và giúp đỡ người khác, bạn sẽ mất nhiều thời gian hơn.

U Pe Win: Đây là điều quan trọng với con, thưa ngài. Mục đích của con không phải là cứu vớt những người khác.

Sayadaw: Bạn bắt đầu thực hành vào buổi chiều và có thể được giải thoát vào sáng hôm sau, sau đó bạn sẽ đi trên con đường không có già, bệnh, chết. Nhưng trước đó bạn phải bắt được thủ phạm và loại bỏ thủ phạm này. Nếu bạn dính mắc vào các uẩn hiện tại, hoặc bạn mong muốn cho các uẩn ở tương lai, thì tiến trình của các uẩn sẽ tiếp tục. Không mong muốn các uẩn trong hiện tại thì sẽ không mong muốn các uẩn trong tương lai. Có như vậy thì kiếp này mới xong nhiệm vụ.

Bây giờ bạn đã tìm ra thủ phạm, đó chính là tham ái. Bạn sẽ thoát khỏi thủ phạm này nhưng bạn không thể đột ngột xua đuổi chúng. Chúng sẽ bào chữa. Trước khi bạn tìm ra thủ phạm, điều này không hề dễ dàng. Bạn muốn hơ nóng da của mình gần lửa vì có vết loét. Khi vết loét được chữa khỏi, bạn không còn muốn hơ nóng nữa. Tất cả những gì tôi phải làm bây giờ là kê cho bạn một toa thuốc để chữa khỏi vết loét, nhiệm vụ của là phải tự dùng thuốc. Bạn còn bố mẹ không?

U Pe Win: Thưa ngài, không.

Sayadaw: Bạn đã không thể cứu được họ. Là vì bạn không thương yêu họ hay bạn phải để họ ra đi mặc dù bạn yêu thương họ?

U Pe Win: Con đã phải để họ ra đi mặc dù con rất yêu thương họ.

Sayadaw: Không có gì trên thế giới có thể cứu chúng ta thoát khỏi già, bệnh, chết. Điều này chỉ tồn tại bên ngoài thế giới. Chúng ta phải đến nơi không có già, bệnh, chết. Nếu có nóng và lạnh, có bóng tối và ánh sáng, có mùa đông và mùa hè, có già, bệnh, chết thì cũng sẽ có không già, không bệnh, không chết. Đây là quy luật của tự nhiên. Điều gì tạo nên già, bệnh, chết? Tham ái (taṇhā) mong muốn các uẩn trong tương lai, và thực hiện nó. Vì vậy hãy nhổ tận gốc dễ tham ái, để loại bỏ thủ phạm của già nua, bệnh tật và chết chóc, và đi đến siêu thế gian, nơi không còn những thứ này.

Để thoát khỏi tham ái, chúng ta hãy quay trở lại pháp mà chúng ta đã thảo luận. Năm uẩn được chia làm danh uẩn và sắc uẩn. Hãy đi đến một nơi vắng vẻ, nơi bạn không còn nghe thấy tiếng con trai và con gái của bạn, rồi thực hành quan sát các uẩn. Quan sát trên tâm và quan sát trên thân. Hãy quan sát và chấp nhận những gì các uẩn nói cho bạn là đúng, hãy tin điều gì đó chỉ khi bạn tận mắt chứng kiến. Tôi đang cung cấp cho bạn phương pháp, đó là phương pháp của Đức Phật. Nhưng khi bạn thực hành, bạn phải phát triển quan điểm của chính mình. Bạn cần phát triển những gì? Quan sát các uẩn, trong các uẩn chỉ có thân và tâm. Quan sát hai thứ này, bạn sẽ thấy rằng tâm muốn ăn sinh khởi, tâm muốn ngủ sinh khởi, rồi muốn nói, muốn đi đây đó,… Tâm thường xuyên thay đổi đúng không?

U Pe Win: Đúng vậy, thưa ngài.

Sayadaw: Khi chúng ta nói tâm thay đổi, có nghĩa là một tâm vừa mất đi, và ngay sau đó một tâm mới xuất hiện. Không có hai tâm nào có thể sinh khởi đồng thời. Vậy bạn có quản lý được tâm của mình không?

U Pe Win: Con không thể, thưa ngài.

Sayadaw: Đừng sống chung với thứ mà không thể quản lý được. Nếu bạn sống chung với nó, bạn sẽ luôn đau khổ. Biết rằng không thể điều khiển được tâm của mình, nên bạn hiểu rằng việc ở lâu với tâm này là vô ích. Trong Phật giáo điều này gọi là vô ngã. Bạn sẽ tiếp tục bị hành hạ cho đến khi bạn có thể quản lý được. Chúng không chỉ ra lệnh cho bạn ngồi, chúng cũng sẽ ra lệnh cho bạn đứng, bạn đi, bạn khóc và ra lệnh cho bạn chết.

Vì vậy bạn cần phải chinh phục chúng, chúng thì vô dụng. Một khi bạn biết rằng chúng đang hành hạ bạn, bạn sẽ chán gét thân tâm này, bạn không còn muốn nó nữa. Bạn không muốn tâm này chút nào nữa. Tôi sẽ cho bạn biết như thế nào cơ thể vật lý này không được mong muốn. Bạn sẽ phải cố gắng không mong muốn cả hai, thân và tâm, cả hai kết hợp lại cho ra năm uẩn. Bây giờ bạn đang ngồi, bạn không thể yêu cầu cơ thể mình không di chuyển, không được thay đổi vị trí. Sẽ có cảm giác tê, cứng. Liệu cơ thể có tuân theo mệnh lệnh của bạn, có duy trì theo cách mà bạn muốn không?

U Pe Win: Không, thưa ngài.

Sayadaw: Nếu cơ thể không tuân theo cách bạn muốn, thì bạn có sở hữu nó không? Vậy thì thân tâm này có phải là điềm lành không, khi mà phải sống chung với thứ mà bạn không sở hữu?

Yogi: Không phải thưa ngài.

Sayadaw: Yêu mến năm uẩn, liệu các uẩn trong tương lai có được như mong muốn không?

U Pe Win: Không, thưa ngài.

Sayadaw: Không còn ham muốn thân tâm này, bạn sẽ không đạt được chúng. Hai thứ này đi kèm với già, bệnh và chết. Không có được chúng, bạn sẽ thoát khỏi già, bệnh và chết. Hãy thực hành, đừng dừng lại ở trước miệng của người khác. Hãy tự bản thân mình thực hành. Nếu bạn nhận ra bằng chính kinh nghiệm của riêng mình, thì công việc của bạn đã xong.

Sau đó U Pe Win trở thành một nam cư sĩ, nghiên cứu kinh điển Pali, thực hành vipassanā và đóng góp cho việc truyền bá giáo pháp của Đức Phật.

Sư Chân Thiện dịch

Thái độ đúng đắn

Thái độ đúng đắn (Yoniso manāsikāra-Như lý tác ý)

Thư giãn và chánh niệm là những điểm cốt yếu, song có thái độ hành thiền đúng đắn và biết đặt tâm mình trong một khuôn khổ thích hợp cũng là điều rất quan trọng. Thái độ đúng đắn nghĩa là gì? Thái độ đúng đắn là một cách nhìn nhận sự việc, sao cho bạn luôn cảm thấy bằng lòng, tri túc-biết đủ, thoải mái và dễ chịu với bất cứ điều gì bạn đang trải nghiệm. Những quan kiến sai trái (tà kiến), những thông tin lệch lạc hay sự dốt nát, thiếu hiểu biết về những phiền não đang có trong mình sẽ có ảnh hưởng xấu đến thái độ của bạn.

Tất cả chúng ta đều có những thái độ sai lầm; bởi chúng ta không thể không có chúng. Vì vậy, đừng cố để có được thái độ đúng đắn ngay lập tức, mà thay vào đó bạn hãy cố gắng nhìn nhận rõ xem: mình đang có thái độ đúng đắn hay sai lầm. Biết mình đang có thái độ đúng đắn là điều quan trọng, song nhận rõ và thẩm nghiệm, xem xét những thái độ sai lầm của mình còn quan trọng hơn. Hãy cố gắng hiểu rõ hơn về những thái độ sai lầm của mình; phát hiện xem chúng ảnh hưởng đến sự thực hành của mình như thế nào, chúng khiến mình cảm nhận ra sao. Do vậy, bạn hãy luôn quan sát bản thân mình, luôn nhìn lại và kiểm tra xem mình đang thực hành với thái độ như thế nào.

Có thái độ đúng sẽ giúp bạn chấp nhận, hay biết và quan sát bất cứ điều gì đang diễn ra, một cách thư giãn và tỉnh thức – dù nó là dễ chịu hay khó chịu. Bạn phải chấp nhận và quan sát cả kinh nghiệm tốt lẫn kinh nghiệm xấu. Mọi đối tượng, mọi kinh nghiệm dù tốt hay xấu, đều đem lại cho bạn cơ hội học hỏi, để biết tâm mình có chấp nhận được mọi việc như chúng đang là hay không, hay là nó vẫn quanh quẩn, vương vấn với thích hoặc không thích, vẫn còn tiếp tục phản ứng hay đánh giá, phán xét.

Thích một điều gì có nghĩa là bạn đang khao khát, mong cầu điều đó (tham); không thích nghĩa là bạn đang muốn chối bỏ nó (sân). Tham và sân là những phiền não bắt nguồn từ si ám, vô minh – vô minh cũng là một loại phiền não. Vì vậy, đừng cố tạo ra một điều gì cả; bởi cố tạo ra điều gì là tham. Đừng chối bỏ những gì đang diễn ra; bởi chối bỏ điều đang diễn ra là sân. Không biết điều gì đó đang diễn ra hay đã chấm dứt không còn diễn ra nữa, đó là si.

Bạn đừng cố gắng bắt buộc mọi thứ phải xảy đến như mình mong muốn, mà hãy cố gắng hay biết những gì đang diễn ra như nó đang là. Nghĩ rằng mọi thứ nhất định phải như thế này thế kia, mong muốn điều này điều nọ phải xảy ra hoặc không được xảy ra, đó là chính mong cầu, mong đợi. Mong cầu sẽ tạo ra lo lắng, bất an và có thể dẫn đến sân. Điều quan trọng là bạn phải ý thức được thái độ của mình như thế nào!

Đánh giá, phán xét về pháp hành của mình rồi trở nên bất mãn, không hài lòng với cách thực hành của mình, đó chính là thái độ sai lầm. Sự bất mãn sanh khởi khi bạn cho rằng mọi thứ đã không diễn ra như mình nghĩ; hoặc do bạn mong muốn nó phải khác đi chứ không phải như thế này, hoặc do bắt nguồn từ sự ngu dốt, thiếu hiểu biết về một pháp hành chân chánh. Những thái độ này sẽ đóng chặt tâm bạn và cản trở pháp hành của bạn. Hãy cố gắng nhận rõ sự bất mãn này, chấp nhận nó một cách hoàn toàn và quan sát nó một cách thật tỉnh táo. Trong quá trình quan sát và khám phá, những nguyên nhân của nó sẽ dần dần bộc lộ rõ ràng. Hiểu được nguyên nhân sẽ làm tan biến sự bất mãn và giúp bạn nhận diện rõ ràng mỗi khi chúng quay trở lại. Bạn sẽ ngày càng thấy rõ hơn những tác hại sự bất mãn gây ra cho thân, tâm mình. Bạn sẽ chánh niệm hơn về những thái độ đánh giá, phán xét của mình và sẽ dần dần từ bỏ chúng. Bằng cách này, bạn sẽ phát triển được những kỹ năng cần thiết để ứng phó với phiền não.

Thái độ sai lầm bắt nguồn từ vô minh. Chúng có mặt ở trong tâm của tất cả chúng ta. Tất cả thái độ sai lầm đều là những phiền não tham và sân, hoặc là bà con, họ hàng của chúng như là: mừng vui, sung sướng hay lo lắng,  buồn khổ. Không chấp nhận phiền não thì chỉ làm cho chúng gia tăng thêm sức mạnh mà thôi. Các loại phiền não sẽ cản trở sự tiến bộ của bạn và không cho bạn sống cuộc đời mình một cách hoàn toàn. Chúng cũng gây trở ngại cho bạn trên con đường đi tìm giải thoát và sự bình an đích thực. Đừng coi thường phiền não, chúng sẽ cười vào mũi bạn đấy!

Hãy nhìn cho rõ những loại phiền não đang có trong mình. Cố gắng hay biết những phiền não đang sanh khởi trong tâm. Hãy quan sát và cố gắng thấu hiểu chúng. Đừng dính mắc vào chúng, đừng chối bỏ hay làm ngơ, bỏ qua và cũng đừng tự đồng hoá mình với chúng (nhận chúng là mình). Khi bạn không còn dính mắc hoặc tự đồng hoá với chúng, thì chúng sẽ dần dần mất sức mạnh. Bạn phải luôn kiểm tra lại xem mình đang hành thiền với thái độ như thế nào.

Luôn ghi nhớ rằng, thiền chánh niệm là một quá trình học hỏi để thấy rõ mối liên hệ giữa thân và tâm của mình. Hãy thật tự nhiên và đơn giản; bạn không cần phải làm mọi việc thật chậm chạp một cách gượng ép, thiếu tự nhiên. Bạn chỉ đơn giản nhìn mọi việc như chúng đang là.

Bạn không cần phải gắng sức, gồng người lên để chú tâm. Khả năng chú tâm sẽ phát triển một cách tự nhiên nhờ sự thực hành đều đặn, kiên trì. Mục đích của chúng ta là để có chánh niệm ngày càng miên mật, ngày càng thường xuyên hơn. Chánh niệm càng liên tục thì tâm càng nhạy bén và tiếp nhận đối tượng trung thực hơn.

Đừng quên: đề mục không quan trọng, tâm quan sát đang làm việc ở phía sau hay biết đề mục đó mới thực sự quan trọng. Nếu bạn quan sát với một thái độ đúng đắn, thì bất cứ đề mục nào cũng là đề mục đúng đắn cả. Bạn có thái độ đúng đắn hay không?

Sayadaw U Tejaniya

Thái độ đúng đắn

Thư giãn và chánh niệm là những điểm cốt yếu, song có thái độ hành thiền đúng đắn và biết đặt tâm mình trong một khuôn khổ thích hợp cũng là điều rất quan trọng. Thái độ đúng đắn nghĩa là gì? Thái độ đúng đắn (yoniso manāsikāra) là một cách nhìn nhận sự việc, sao cho bạn luôn cảm thấy bằng lòng, tri túc-biết đủ, thoả mái và dễ chịu với bất cứ điều gì bạn đang trải nghiệm. Những quan kiến sai trái (tà kiến), những thông tin lệch lạc hay sự dốt nát, thiếu hiểu biết về những phiền não đang có trong mình sẽ có ảnh hưởng xấu đến thái độ của bạn.

Tất cả chúng ta đều có những thái độ sai lầm; bởi chúng ta không thể không có chúng. Vì vậy, đừng cố để có được thái độ đúng đắn ngay lập tức, mà thay vào đó bạn hãy cố gắng nhìn nhận rõ xem: mình đang có thái độ đúng đắn hay sai lầm. Biết mình đang có thái độ đúng đắn là điều quan trọng, song nhận rõ và thẩm ngiệm, xem xét những thái độ sai lầm của mình còn quan trọng hơn. Hãy cố gắng hiểu rõ hơn về những thái độ sai lầm của mình; phát hiện xem chúng ảnh hưởng đến sự thực hành của mình như thế nào, chúng khiến mình cảm nhận ra sao. Do vậy, bạn hãy luôn quan sát bản thân mình, luôn nhìn lại và kiểm tra xem mình đang thực hành với thái độ như thế nào.

Có thái độ đúng sẽ giúp bạn chấp nhận, hay biết và quan sát bất cứ điều gì đang diễn ra, một cách thư giãn và tỉnh thức – dù nó là dễ chịu hay khó chịu. Bạn phải chấp nhận và quan sát cả kinh nghiệm tốt lẫn kinh nghiệm xấu. Mọi đối tượng, mọi kinh nghiệm dù tốt hay xấu, đều đem lại cho bạn cơ hội học hỏi, để biết tâm mình có chấp nhận được mọi việc như chúng đang là hay không, hay là nó vẫn quanh quẩn, vương vấn với thích hoặc không thích, vẫn còn tiếp tục phản ứng hay đánh giá, phán xét.

Thích một điều gì có nghĩa là bạn đang khao khát, mong cầu điều đó (tham); không thích nghĩa là bạn đang muốn chối bỏ nó (sân). Tham và sân là những phiền não bắt nguồn từ si ám, vô minh – vô minh cũng là một loại phiền não. Vì vậy, đừng cố tạo ra một điều gì cả; bởi cố tạo ra điều gì là tham. Đừng chối bỏ những gì đang diễn ra; bởi chối bỏ điều đang diễn ra là sân. Không biết điều gì đó đang diễn ra hay đã chấm dứt không còn diễn ra nữa, đó là si.

Bạn đừng cố gắng bắt buộc mọi thứ phải xảy đến như mình mong muốn, mà hãy cố gắng hay biết những gì đang diễn ra như nó đang là. Nghĩ rằng mọi thứ nhất định phải như thế này thế kia, mong muốn điều này điều nọ phải xảy ra hoặc không được xảy ra, đó là chính mong cầu, mong đợi. Mong cầu sẽ tạo ra lo lắng, bất an và có thể dẫn đến sân. Điều quan trọng là bạn phải ý thức được thái độ của mình như thế nào!

Đánh giá, phán xét về pháp hành của mình rồi trở nên bất mãn, không hài lòng với cách thực hành của mình, đó chính là thái độ sai lầm. Sự bất mãn sanh khởi khi bạn cho rằng mọi thứ đã không diễn ra như mình nghĩ; hoặc do bạn mong muốn nó phải khác đi chứ không phải như thế này, hoặc do bắt nguồn từ sự ngu dốt, thiếu hiểu biết về một pháp hành chân chánh. Những thái độ này sẽ đóng

chặt tâm bạn và cản trở pháp hành của bạn. Hãy cố gắng nhận rõ sự bất mãn này, chấp nhận nó một cách hoàn toàn và quan sát nó một cách thật tỉnh táo. Trong quá trình quan sát và khám phá, những nguyên nhân của nó sẽ dần dần bộc lộ rõ ràng. Hiểu được nguyên nhân sẽ làm tan biến sự bất mãn và giúp bạn nhận diện rõ ràng mỗi khi chúng quay trở lại. Bạn sẽ ngày càng thấy rõ hơn những tác hại sự bất mãn gây ra cho thân, tâm mình. Bạn sẽ chánh niệm hơn về những thái độ đánh giá, phán xét củamình và sẽ dần dần từ bỏ chúng. Bằng cách này, bạn sẽ phát triển được những kỹ năng cần thiết để ứng phó với phiền não.

Thái độ sai lầm bắt nguồn từ vô minh. Chúng có mặt ở trong tâm của tất cả chúng ta. Tất cả thái độ sai lầm đều là những phiền não tham và sân, hoặc là bà con, họ hàng của chúng như là: mừng vui, sung sướng hay lo lắng,  buồn khổ. Không chấp nhận phiền não thì chỉ làm cho chúng gia tăng thêm sức mạnh mà thôi. Các loại phiền não sẽ cản trở sự tiến bộ của bạn và không cho bạn sống cuộc đời mình một cách hoàn toàn. Chúng cũng gây trở ngại cho bạn trên con đường đi tìm giải thoát và sự bình an đích thực. Đừng coi thường phiền não, chúng sẽ cười vào mũi bạn đấy!

Hãy nhìn cho rõ những loại phiền não đang có trong mình. Cố gắng hay biết những phiền não đang sanh khởi trong tâm. Hãy quan sát và cố gắng thấu hiểu chúng. Đừng dính mắc vào chúng, đừng chối bỏ hay làm ngơ, bỏ qua và cũng đừng tự đồng hoá mình với chúng (nhận chúng là mình). Khi bạn không còn dính mắc hoặc tự đồng hoá với chúng, thì chúng sẽ dần dần mất sức mạnh. Bạn phải luôn kiểm tra lại xem mình đang hành thiền với thái độ như thế nào.

Luôn ghi nhớ rằng, thiền chánh niệm là một quá trình học hỏi để thấy rõ mối liên hệ giữa thân và tâm của mình. Hãy thật tự nhiên và đơn giản; bạn không cần phải làm mọi việc thật chậm chạp một cách gượng ép, thiếu tự nhiên. Bạn chỉ đơn giản nhìn mọi việc như chúng đang là.

Bạn không cần phải gắng sức, gồng người lên để chú tâm. Khả năng chú tâm sẽ phát triển một cách tự nhiên nhờ sự thực hành đều đặn, kiên trì. Mục đích của chúng ta là để có chánh niệm ngày càng miên mật, ngày càng thường xuyên hơn. Chánh niệm càng liên tục thì tâm càng nhạy bén và tiếp nhận đối tượng trung thực hơn.

Đừng quên: đề mục không quan trọng, tâm quan sát đang làm việc ở phía sau hay biết đề mục đó mới thực sự quan trọng. Nếu bạn quan sát với một thái độ đúng đắn, thì bất cứ đề mục nào cũng là đề mục đúng đắn cả. Bạn có thái độ đúng đắn hay không?

Sayadaw U Tejaniya

Tám nguyên nhân phát triển tà kiến

(1) Suy xét sai trên các uẩn

(2) Vô minh (avijja)

(3) Tiếp xúc (phassa)

(4) Tưởng (saññā)

(5) Suy nghĩ (vitakka)

(6) Không khéo tác ý (ayoniso manasikāra)

(7) Thân cận với người thiếu trí

(8) Nghe những lời dạy sai.

(1) Nếu không có sự giúp đỡ từ Đức Phật và các bậc Thiện Tri Thức, khi thẩm tra và suy xét sai trên các uẩn sẽ phát triển tà kiến (micchādiṭṭhi) bởi vì suy xét đó dựa trên hiểu biết sai. Trước khi Đức Phật xuất hiện, con người đã tìm hiểu về nguồn gốc của mình, sau đó tạo ra một Đấng Tạo Hoá và phát triển các dạng tà kiến. Những người bám chấp vào tà kiến cố định (niyata-micchadiṭṭhi) và không từ bỏ quan điểm này, thì sau khi chết phải chịu đựng trong địa ngục. Làm thế nào để một vị Thần Sáng Tạo nào đó tạo nên bầu trời, bầu trời là một khái niệm và không bao giờ tồn tại. Tà kiến cố định nghĩa là tin rằng không có nguyên nhân (ahetukadiṭṭhi), không có kết quả (natthikadiṭṭhi), không có việc thiện, không có việc ác (akiriyadiṭṭhi). Tà kiến cố định thậm chí còn nguy hiểm hơn ngũ nghịch đại tội. Những người này, sau khi chết xuống thẳng đại địa ngục, phải chịu quả khổ thiêu đốt trong suốt thời gian lâu dài. Ngay cả khi thế giới bị phá huỷ, những chúng sinh này sẽ bị chuyển đến một thế giới khác để tiếp tục chịu đựng những đau khổ của họ.

(2) Vô minh (avijjā) phát triển tà kiến. Ở đây vô minh có nghĩa là không biết về Tứ Diệu Đế. Có hai loại trí tuệ: chân chánh và không chân chánh, trí tuệ chân chánh (samma ñāṇa) là về Tứ Diệu Đế, trí tuệ không chân chánh (micchā ñāṇa) là kiến thức thế gian, vì nó dựa trên tự ngã, tham ái, sân hận và si mê. Kiến thức này tạo ra tất cả các vấn đề trên trái đất, từ ô nhiễm nội tâm cho đến ô nhiễm trường.

(3) Tiếp xúc phát triển tà kiến. Với sự tiếp xúc của sáu căn và sáu đối tượng nên sáu thức sinh khởi. Từ đó mọi người sẽ bắt đầu cho rằng tôi thấy, tôi nghe, tôi ngửi,…theo cách này, tà kiến phát triển. Là một thiền sinh, điều quan trọng là phải quan sát khi ngay khi có sự tiếp xúc, vì vậy xúc (phassa) là một trong những yếu tố quan trọng để phát triển tà kiến hoặc trí tuệ. Trong pháp Duyên Sinh, xúc là điều kiện cho ái (taṇhā) sinh khởi. Điều này được miêu tả trong quá trình: Xúc → Thọ → Ái, nhưng xúc cũng có thể là điều kiện để tà kiến (micchādiṭṭhi) hoặc sân (dosa) phát triển.

Đức Phật dạy rằng đó là tà kiến về tham ái (diṭṭhi taṇhā). Sáu căn là sáu mảnh đất cho tà kiến tăng trưởng. Thân kiến không ngăn cản chúng sinh tái sinh vào cảnh giới tốt, nhưng tà kiến phát triển từ thân kiến, và tà kiến dẫn chúng sinh vào các cõi khổ. Do đó, thân kiến là pháp đáng sợ.

Vào sáng sớm, khi bạn bắt đầu mở mắt và nhìn xung quanh, tà kiến sẽ xuất hiện. Một người không có chánh niệm sẽ bị dẫn dắt bởi tà kiến, chỉ những người có tuệ minh sát mạnh mẽ mới tự do khỏi chúng. Từ khi mở mắt cho đến nhắm mắt đi ngủ, tất cả con người đang di chuyển xung quanh với tà kiến. Từ tà kiến, sau đó trở thành tham ái, và bám chặt vào tà kiến đó (diṭṭhupadhi). Khi chết sẽ chết cùng với tà kiến và tham ái trong của cải và vợ con.

Mỗi sự tiếp xúc của sáu căn với sáu cảnh nếu không chánh niệm thì tà kiến sẽ theo sau ngay lập tức mọi lúc, mọi nơi. Quan kiến về vô ngã rất sâu sắc, khó để hiểu hoặc chấp nhận rằng không có ai ở đó cả. Phần lớn mọi người không biết điều này, nếu tôi nói với bạn, bạn sẽ hỏi rằng vấn đề gì sẽ đến với tôi? Bạn cần biết rằng tà kiến sẽ theo sau cho tới khi đạt tới Tu Đà Hoàn Đạo.

(4) Tưởng tượng (saññā) sai dẫn đến phát triển tà kiến. Saññā là tưởng, tưởng tượng, tạo nên các tưởng về cha, mẹ, vợ con. Thực tại về tâm và thân (danh và sắc) biến mất, tưởng tượng xuất hiện và coi thân tâm giống như cha mẹ thật sự và nương tựa vào chúng. Không biết rằng đó chỉ là sự thật chế định (paññatti), tưởng coi chúng giống như sự thật tuyệt đối (paramattha) rồi phụ thuộc và bám víu vào chúng.

Có hai loại tưởng, đó là tưởng đúng và tưởng sai. Tưởng đúng trở thành chánh kiến và tưởng sai trở thành tà kiến. Bạn phải biết sự khác biệt giữa chúng. Tưởng sai đến từ tác ý sai (ayonisomanasikāra), hoặc thiếu kiến thức về giáo pháp. Tưởng đúng thì không phát triển tà kiến,  trong khi nhìn chỉ là cái nhìn, trong khi nghe chỉ là cái nghe,..

Nhưng do có khái niệm nên tà kiến đi vào, ví dụ: “tôi nhìn thấy một cô gái”. Bởi vì tưởng tượng sai lầm nên trở thành tà kiến, phần lớn tà kiến đến từ tưởng tượng. Do vậy con người đang sống dựa trên sự vô thường, đau khổ, vô ngã cũng như sinh, già và chết.

Tưởng điên đảo (saññā vipallāsa) dẫn tới tâm điên đảo (citta vipallāsa) và kiến điên đảo (diṭṭhi vipallāsa) tương ứng. Hiểu về bản chất của thân tâm hay ngũ uẩn rằng chúng chỉ là quá trình nhân quả được gọi là Tiểu Tu Đà Hoàn (cūla sotāpanna), và sau đó thoát khỏi kiếp sống từ các cõi khổ. Trở thành Đại Tu Đà Hoàn (mahāsotāpanna) bằng việc  từ bỏ tà kiến và sự chấp thủ vào tà kiến. Sau đó hoàn toàn thoát khỏi các cảnh khổ, bởi vì không còn phiền não ngủ ngầm về tà kiến (diṭṭhianusaya).

Mỗi khi tưởng (saññā) sinh khởi, bằng sự quan sát về vô thường của tưởng thì tà kiến không xuất hiện. Tưởng sinh khởi mà không quan sát kịp thì tà kiến theo sau. Ví như khi bạn nhìn đứa con trai, biết rằng chỉ là đứa con trai thì không tạo nên sai lầm, nhưng tôi sẽ nương tựa vào cậu ta, và kết quả là dính chặt vào tà kiến. Mỗi khi tưởng tới, hãy quan sát về tưởng. Nếu tưởng đúng trở thành thói quen thì sau đó không còn khó nữa, cái khó là thực hành để trở thành thói quen, đây là điểm rất quan trọng đối với thiền sinh.

(5) Suy nghĩ (vitakka) thiếu trí tuệ dẫn tới phát triển tà kiến. Vitakka có nghĩa là suy nghĩ dựa trên các đối tượng giác quan. Các quan điểm sai lầm trong khi suy nghĩ do thiếu kiến thức, hoặc do nghĩ về những điều không nên nghĩ. Suy nghĩ cần phải đi cùng với trí tuệ. Có hai kiểu suy nghĩ, suy nghĩ thiếu trí tuệ dẫn tới phát triển tà kiến và suy nghĩ với trí tuệ để phát triển chánh kiến. Hai chi đạo đầu tiên của Bát Thánh Đạo là chánh kiến (sammā-diṭṭhi) và chánh tư duy (sammā-saṅkappa) là suy nghĩ. Một số phật tử chuyển sang tôn giáo hay tín ngưỡng khác đã suy nghĩ mà không có trí tuệ đi cùng. Họ coi tà kiến là chánh kiến và chuyển sang các tôn giáo khác. Quan điểm sai lầm của các niềm tin khác đến từ những người thiếu trí tuệ nên không có khả năng tư duy đúng. Nghiệp và thiền định cũng có thể phát triển tà kiến, thậm chí ngay cả Chư Thiên và Phạm thiên. Chỉ có thực hành vipassanā là không liên quan với tà kiến.

(6) Không như lý tác ý (ayonisomanasikāra) dẫn tới phát triển tà kiến. Cho rằng vô thường (anicca) là thường (nicca), đau khổ (dukkha) là hạnh phúc (sukha), vô ngã (anatta) là có tự ngã (atta) và bất tịnh (asubha) là đẹp đẽ (subha). Đó là những ví dụ về không khéo tác ý. Bố thí với sự làm giàu vipassanā sẽ ngày càng đi lên cao hơn và không bị rơi xuống nữa. Đó là bố thí với khéo như lý tác ý, sau khi bạn đi lên vì trí tuệ sắc bén thì sẽ chỉ đi cao hơn nữa. Ngược lại với bố thí và thiền định mà không như lý tác ý, sau khi hết hiệu lực thì sẽ lại rơi xuống.

(7) Thân cận với người tà kiến dẫn tới phát triển tà kiến. Thân cận với bạn xấu (pāpamitta) sẽ phát triển tà kiến, thân cận với bạn tốt (kalyāṇa mitta) sẽ phát triển chánh kiến. Những người bạn xấu ở đây không chỉ là những người làm hành động bất thiện mà còn là những người có niềm tin vào các tín ngưỡng sai trái. Có một người Cơ Đốc Giáo chuyển sang Phật Giáo không phải vì nghiệp trong quá khứ mà do anh ta có liên hệ với một người phật tử. Anh ta nói rằng đó là nghiệp hiện tại của anh ấy, tức là được gặp gỡ với bạn tốt.

Tà kiến rất xa Niết Bàn, nhưng Niết Bàn thì khăng khít với chánh kiến. Thấy được vô thường sẽ trở thành chánh kiến, Niết Bàn tồn tại ở điểm cuối của vô thường. Giữa tà kiến và Niết Bàn là một khoảng cách không thể đo lường được. Do vậy Đức Phật đã cảnh báo mọi người về tầm quan trọng của việc thực hành để phá huỷ tà kiến, điều này còn khẩn cấp hơn cả khi đầu bạn đang bị bốc cháy và ngực bạn bị đâm bởi cây thương. Có nghĩa là đầu bị lửa đốt và ngực bị đâm bởi cây thương sẽ chỉ phải chết một lần nhưng nếu tà kiến không bị phá huỷ thì đau khổ không bao giờ chấm dứt.

(8) Nghe giáo lý sai sẽ dẫn đến phát triển tà kiến. Ví dụ, nghe những lời dạy sai rồi tin vào đấng sáng tạo như Thượng Đế hay Đức Chúa Trời. Thực ra, phần đông các Phật tử vẫn còn tà kiến và họ nghe những lời dạy của Đức Phật với tà kiến. Khi bố thí, cúng dường, họ sẽ nghĩ “nếu tôi làm phước, tôi sẽ nhận được kết quả”. Đây là chỉ là hiểu biết về sự thật chế định (kammassakatā ñāṇa), điều này không thể vượt ra khỏi các lậu (āsava), và vẫn nằm bên trong quan kiến về lậu (diṭṭhāsava).

Tà kiến sẽ bị tiêu diệt nếu bạn luôn được nghe được những lời pháp thoại như: “Quan điểm của tôi về năm uẩn là các hiện tượng có điều kiện (saṅkhata dhamma), chúng có bản chất là vô thường, khổ và vô ngã, vì vậy không coi chúng là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi”.

Nếu mọi người thực sự hiểu biết đâu là quan điểm đúng, đâu là quan điểm sai thì tà kiến sẽ không bao giờ xảy ra. Vì vậy các nhà sư có nhiệm vụ giải thích những điều này cho họ./.