Năm uẩn

Sayadaw: Bạn có khao khát trở thành một vị Phật không? Hay bạn muốn nhanh chóng nhập Niết Bàn nếu có thể đạt được điều đó ngay trong kiếp sống này?

Thiền sinh: Thưa ngài, con không khao khát trở thành một vị Phật, con cố gắng đạt được Niết Bàn càng sớm càng tốt.

Sayadaw: Còn bạn thì sao?

Thiền sinh: Thưa ngài, con không thể chờ đợi lâu đến như vậy, con không đủ can đảm để trở thành một vị Phật.

Sayadaw: Vậy thì hãy đi theo cách này. Mọi người đều biết rằng, có bốn Thánh đạo, Thánh đạo đầu tiên là Tu Đà Hoàn đạo (magga sotapatti). Thánh đạo đầu tiên cần phải diệt trừ những gì? Sau khi diệt trừ thì Thánh đạo đầu tiên này đạt được những gì? Chỉ khi tà kiến (diṭṭhi) và hoài nghi (vicikiccha) bị diệt trừ thì Tu Đà Hoàn đạo mới đạt được. Thánh đạo đầu tiên không thể đạt được nếu tà kiến và hoài nghi không được xua tan. Không đến được Thánh đạo đầu tiên thì không thể đến được Niết Bàn.

Chức năng của Thánh đạo đầu tiên là gì? Đó là thoát khỏi tà kiến. Hãy lưu ý điều này. Điều gì sẽ được loại bỏ nếu đạt được Thánh đạo đầu tiên? Tà kiến sẽ được loại bỏ, ngoài ra không còn điều gì cần thiết hơn. Tà kiến cần được loại bỏ sinh khởi từ đâu? Tà kiến sinh khởi từ các uẩn (khandha), có năm uẩn và tà kiến bám víu vào cả năm uẩn đó. Không biết về các uẩn nên tà kiến sinh khởi, không biết về vô thường của các uẩn nên tà kiến sinh khởi, không biết về bản chất của các uẩn là khổ nên tà kiến sinh khởi.

Tà kiến được xua tan thông qua vipassanā và qua Thánh đạo. Đầu tiên nó phải được xua tan qua vipassanā. Trí tuệ phát triển, nó sẽ bị nhổ tận gốc dễ thông qua Thánh đạo. Có ba giai đoạn của hiểu biết là: nyata parinnya, tirana parinnya, pahana parinnya.

Hãy xua tan tà kiến trước nhất. Tà kiến đến từ đâu? Tà kiến sinh khởi từ năm uẩn (khandha). Nếu muốn xua tan tà kiến, năm uẩn phải được hiểu rõ. Để tìm hiểu về năm uẩn, pháp Duyên Sinh (paṭiccasamuppāda) phải được dạy trước tiên. Tà kiến trú ngụ ở đâu? Nó trú ngụ trong năm uẩn, sắc uẩn (rūpa-khandha), thọ uẩn (vedanā-khandha), tưởng uẩn (saññā-khandha), hành uẩn (saṅkhāra-khandha) và thức uẩn (viññāṇa-khandha).

Ngay cả khi bạn đã biết năm uẩn, nếu không biết các uẩn sinh khởi như thế nào, không biết nguyên nhân của các uẩn, không biết các uẩn diệt đi như thế nào thì tà kiến vẫn còn ở đó. Để hiểu rõ các uẩn, pháp Duyên Sinh về nguyên nhân và kết quả của các uẩn được kết nối với nhau như thế nào phải được biết. Mặc dù bạn biết rằng tà kiến sinh khởi từ năm uẩn nhưng nếu không biết các uẩn sinh ra và diệt đi như thế nào thì sẽ có nghi ngờ rằng các uẩn đến từ đâu? Nếu quá băn khoăn, pháp Duyên Sinh phải được biết.

Để trở thành vị thánh Tu Đà Hoàn (Sotāpana), tà kiến và hoài nghi phải được xua tan. Là một vị Sotāpana chân chính thì cánh cửa dẫn đến bốn cõi khổ được đóng lại, tà kiến và hoài nghi sẽ bị xoá tan. Tà kiến và hoài nghi đến từ đâu? Chúng đến từ hiểu biết lầm lạc về năm uẩn. Năm uẩn đến từ đâu? Chúng diệt đi như thế nào? Quá trình duyên sinh phải được hiểu, pháp Duyên Sinh có thể được đọc trong sách, nhưng có một quá trình duyên sinh khác đang diễn ra trong các uẩn ở thời điểm hiện tại. Có hai loại pháp Duyên Sinh. Các bạn  không thể đi xa nếu chỉ biết về pháp Duyên Sinh qua sách vở, sẽ tốt hơn khi pháp Duyên Sinh diễn ra trong các uẩn được hiểu rõ.

Tôi nhắc lại một lần nữa. Điều gì được xua tan khi đạt tới Tu Đà Hoàn Đạo? Tà kiến và hoài nghi sẽ được xua tan. Nếu không biết về nguyên nhân xuất hiện và biến mất của của các uẩn thì tà kiến và hoài nghi có bị xua tan không? Chúng sẽ không bị xua tan. Từ quá khứ, nguyên nhân và kết quả của chúng đã được kết nối với nhau.

Đừng mong ước cho người khác trở thành Sotapana, hãy cầu chúc cho  hạnh phúc riêng của chính bạn. Nghe về người khác trở thành Sotapana và nói “lành thay, lành thay” (sadhu, sadhu) chẳng để làm gì cả. Hãy trở thành Sotapana bởi chính bản thân mình, hãy tự kiểm tra bản thân mình, đây mới là điều quan trọng. Điều gì cần phải loại bỏ để trở thành Sotapana?

Thiền sinh: Thưa ngài, tà kiến (diṭṭhi) và hoài nghi (vicikiccha).

Sayadaw: Nếu muốn xua đuổi tà kiến và hoài nghi, việc này chỉ được thực hiện khi biết được nơi ở của chúng, chúng sinh sống ở đâu? Chúng sinh khởi từ năm uẩn, năm uẩn là nơi ở của tà kiến và hoài nghi. Không biết nguyên nhân sinh khởi và diệt đi của năm uẩn nên tà kiến và hoài nghi xuất hiện. Vì vậy đầu tiên cần đề cập đến việc năm uẩn sinh khởi và diệt đi như thế nào?

Do vô minh và các hoạt động có điều kiện trong quá khứ nên các uẩn đã diệt đi, những điều này đã xảy ra trong quá khứ và không liên quan đến chúng ta. pháp Duyên Sinh trong quá khứ thì không liên quan đến chúng ta, pháp Duyên Sinh trong tương lai vẫn chưa diễn ra và cũng không liên quan đến chúng ta. Như vậy pháp Duyên Sinh cần được hiểu như thế nào? Có ba loại pháp Duyên Sinh, các học giả uyên bác dạy chúng ta pháp Duyên Sinh, nhưng những điều xảy ra trong quá khứ không làm chúng ta bận tâm và cũng không cần phải bận tâm đến pháp Duyên Sinh trong tương lai sẽ đến sau này.

Như vậy có khả năng đuổi được chúng và nhổ tận gốc dễ chúng không? Có lợi ích gì không khi loại bỏ những thứ của quá khứ? pháp Duyên Sinh đang diễn ra tại thời điểm hiện tại là quan trọng nhất. Tôi đã nói điều này đến lần thứ ba. Điều gì sẽ bị loại bỏ nếu đạt được Sotapana? Loại bỏ được tà kiến và hoài nghi. Để trở thành Sotapana, ngoài tà kiến và hoài nghi, không có gì khác cần được xua tan. Kinh hộ trì Paritta nói rằng tà kiến và hoài nghi sẽ được cắt đứt nếu nhập vào dòng thánh Sotapana. Có sự khác biệt nào giữa “mong cho tôi đạt được Niết Bàn”, “mong cho tôi trở thành Sotapana” hay “mong cho tôi đạt được Niết Bàn đầu tiên” không?

‘Tóc của ai đây? Tóc của tôi’. Tóc là sắc uẩn, như vậy tà kiến phát sinh từ sắc uẩn (rūpa-khandha). ‘Ai thích thú bữa ăn này? Tôi thích món ăn này’, thích là thọ uẩn, tà kiến phát sinh thì thọ uẩn (vedanā-khandha). Có sự bám víu vào ‘tôi’ khi tưởng tượng, tạo nên tà kiến và hoài nghi trong tưởng tượng (saññā-khandha). ‘Tôi nhớ rất nhiều bài học’, nhớ là hành uẩn (saṅkhāra-khandha), và tà kiến phát sinh từ hành uẩn. ‘Đừng khiêu khích tôi’ là ‘tôi’ phát sinh trên thức uẩn (viññāṇa-khandha).

Bây giờ bạn đã hiểu rõ rằng năm uẩn là nơi phát sinh tà kiến và hoài nghi. Tà kiến và hoài nghi phải được tách rời khỏi năm uẩn, nếu không tà kiến và hoài nghi sẽ sinh khởi từ quan điểm sai về chúng. Tà kiến và hoài nghi trú ngụ ở đâu? Trong năm uẩn. Tại sao chúng trú ngụ trong năm uẩn? Bởi vì nguyên nhân của sự sinh khởi của năm uẩn không được biết, và sự diệt đi của năm uẩn cũng không được biết.

Pháp Duyên Sinh của nguyên nhân sinh khởi sẽ được hiển thị, pháp Duyên Sinh của sự diệt đi sẽ được hiển thị. Nếu không dạy bạn hai điều này, không biết về pháp Duyên Sinh, bạn có thể nuốt một quả dừa nhưng tà kiến và hoài nghi không thể bị xua tan. Trong các tài liệu  viết rằng tà kiến và hoài nghi sẽ bị xua tan khi thân và tâm được hiểu rõ. Nhưng điều này không phải là như vậy. Có một bước ở giữa, các uẩn chỉ được hiểu khi pháp Duyên Sinh được hiểu. Xuất phát từ cái nhìn sai về các uẩn, tà kiến và hoài nghi mới xuất hiện.

Do đó nguyên nhân sinh khởi của các uẩn là nguyên nhân sinh khởi của pháp Duyên Sinh, sự diệt đi của các uẩn là sự diệt đi của pháp Duyên Sinh. Chỉ khi hiểu rõ sự sinh khởi của pháp Duyên Sinh, hiểu rõ sự diệt đi của pháp Duyên Sinh thì tà kiến và hoài nghi mới bị diệt trừ. Nếu vậy các uẩn phải được dạy trước hay pháp Duyên Sinh phải được dạy trước?

Thiền sinh: pháp Duyên Sinh phải được dạy đầu tiên, thưa ngài.

Sayadaw: Nếu được hỏi các uẩn này là gì, thì đây là các uẩn nguyên nhân và kết quả do pháp Duyên Sinh được liên kết với nhau. Đây là các uẩn của nhà sư, các uẩn của U Than Daing và các uẩn của U Tun Yin. Không hiểu về pháp Duyên Sinh, liệu nhiệm vụ của bạn về các uẩn có hoàn thành được không? Không hiểu về sinh và diệt của các uẩn, bạn sẽ không hiểu pháp Duyên Sinh. Không hiểu nên tà kiến và hoài nghi trong các uẩn không được nhổ tận gốc. Học pháp Duyên Sinh bắt đầu từ đâu?

Thiền sinh: Thưa ngài, từ vô minh (avijjā).

Sayadaw: Không, vô minh đã xảy ra từ trong quá khứ, không còn liên quan đến bạn, nó kết thúc rồi. Các uẩn đã diễn ra vì vô minh (avijjā) và các hành (saṅkhāra). Bạn không thể quay lại quá khứ. Nó không được nói rằng các uẩn đã diễn ra phụ thuộc vào vô minh và các hoạt động có điều kiện? Đức Phật đã dạy chúng ta ngay từ đầu.

Nhưng để thoát khỏi tà kiến và hoài nghi, thì không giống như vậy. Vô minh và các hành là những hoạt động đã diễn ra trong quá khứ. Có sự ngu dốt trong quá khứ do không biết gì về bốn chân lý cao cả. Không thể đoạn tuyệt vô minh, bạn đã nuôi dưỡng vô minh này trong tiền kiếp, và nảy sinh tham ái (taṇhā). Các nghiệp thiện được thực hiện với mong muốn tồn tại. Do những mong muốn tồn tại mà sinh khởi năm uẩn trong sự hiện hữu này, chúng là thức tái sinh, danh sắc, sáu căn, xúc và thọ.

Năm uẩn trong hiện tại sinh khởi. Có thể loại bỏ vô minh và các hoạt động có điều kiện trong quá khứ không? Không vì chúng đã kết thúc ở quá khứ. Do chúng gây ra, bây giờ cho kết quả. Bởi vì tiềm năng của vô minh và các hành từ quá khứ, chúng ta hiện đang ở đây, trong hiện tại chính là kết quả. Phụ thuộc vào tiềm năng của quá khứ, kết quả diễn ra ở đây, trong hiện tại là thứ các bạn phải gánh chịu. Quá khứ là nguyên nhân và các bạn chịu kết quả của nó. Những gì các bạn phải loại bỏ bây giờ là sự thiếu hiểu biết và các hoạt động có điều kiện cái mà sẽ sinh khởi từ các kết quả ở hiện tại.

Các bạn cũng không thể thoát khỏi quá khứ đã qua. Đối với quá khứ thì ngay cả Đức Phật cũng không thể dứt bỏ được. Các bạn đau khổ vì không thể thoát khỏi quá khứ. Do không thể thoát khỏi quá khứ nên các uẩn hiện tại phải sống chung với những nguy cơ từ già, bệnh, chết. Kết quả là các uẩn trong hiện tại, trong các uẩn này có vô minh và các hoạt động có điều kiện. Cùng với các uẩn, vô minh và tà kiến phát sinh. Có vô minh nên hoài nghi sinh khởi.

Nếu biết rằng có tà kiến và hoài nghi thì vô minh trong hiện tại còn không? Nó trở thành trí tuệ, liệu một người có trí tuệ còn thực hiện các hành động có điều kiện nữa không? Tà kiến và hoài nghi được xua tan, thì vô minh và các hành sẽ tự động bị tiêu tan. Tà kiến và hoài nghi trong các uẩn phải được diệt trừ. Như thế nào? Xua tan vô minh và các hoạt động có điều kiện. Không thực hiện các hoạt động có điều kiện (saṅkhāra) nghĩa là trở thành không có điều kiện (asaṅkhāra).

Bây giờ bạn đã hiểu cách thức loại bỏ vô minh và các hành trong quá khứ chưa? Bạn bỏ qua chúng vì quá khứ đã đi qua, nhưng trong thực tế các bạn vẫn chưa tiến xa. Hạt giống đã được gieo ở đây trong hiện tại, từ hạt giống này không để cho quả vô minh và quả của các hoạt động có điều kiện được sinh ra. Từ các uẩn này, điều quan trọng là quả avijjā và quả saṅkhāra không được trổ ra. Tuỳ thuộc vào avijjā và saṅkhāra trong quá khứ nên hiện tại đây là cây khandha. Nếu từ đây tiếp tục cho quả avijjā và quả saṅkhāra thì bao giờ mới kết thúc?

Khi biết các uẩn này, điều cần làm là ngăn chặn không để quả avijjā và quả saṅkhāra sinh ra nữa, khi đó sẽ có vijja và asaṅkhāra. Vô minh (avijjā) chuyển thành minh (vijjā), các hoạt động có điều kiện (saṅkhārā) trở thành hoạt động vô điều kiện (asaṅkhāra). Điều quan trọng là phải hiểu pháp Duyên Sinh trong hiện tại. Năm uẩn sinh khởi ngay bây giờ, năm uẩn đang ngồi là hiện tại. Paṭiccasamuppāda đang diễn ra bây giờ là rất quan trọng, paṭiccasamuppāda của quá khứ không quan trọng, paṭiccasamuppāda của tương lai cũng không quan trọng. Nếu hiện tại được hiểu rõ ràng, tương lai sẽ bị cắt đứt.

Có bao nhiêu loại paṭiccasamuppāda? paṭiccasamuppāda của quá khứ, không liên quan đến các bạn, không cần thiết trong thực hành. paṭiccasamuppāda tương lai, vẫn chưa ở đây, không cần phải cắt bỏ. Để những điều xấu xa không phát triển trong paṭiccasamuppāda hiện tại, để những điều tốt đẹp phát triển, tôi sẽ cho bạn câu trả lời. Bạn không được cho tham ái (taṇhā), bám víu (upādāna), nghiệp hữu (kamma bhava) sinh khởi từ paṭiccasamuppāda khandha hiện tại. Nếu có tham ái, sẽ phát sinh bám víu. Nếu có bám víu, hành động sẽ được thực hiện. Nếu các hành động được thực hiện, trong tương lai sẽ có tái sinh. Nếu có tái sinh sẽ có già, bệnh và chết. Những điều này bạn đã được học, vì vậy tôi không đi vào chi tiết.

Điều quan trọng là ngăn cản vô minh, tham ái và nghiệp không sinh khởi từ các uẩn hiện tại. Nếu từ các uẩn hiện tại, vô minh và tham ái không khởi lên, các nghiệp không được tạo ra thì sẽ không có các uẩn trong tương lai. Các uẩn trong tương lai sẽ bị cắt bỏ. Chúng ta chỉ quan tâm về tiến trình duyên sinh hiện tại, các uẩn hiện tại. Tôi không muốn nói về các uẩn diễn ra khi tái sinh. Vô minh và các hành trong quá khứ là nguyên nhân, vì vậy tôi cũng không muốn đề cập về chúng. Tôi muốn đề cập đến năm uẩn đang sinh khởi ngay lúc này.

Có năm uẩn khi bạn mới sinh ra nhưng chúng đã diệt đi, vì vậy tôi không muốn thảo luận về chúng, bởi vì hiện tại chúng không có ở đây. Năm uẩn khi bạn vừa ra khỏi bụng mẹ đã sinh khởi và diệt đi, không để lại một dấu vết trong hiện tại. Năm uẩn mà tôi muốn nói đến là năm uẩn bây giờ đang ở đây nghe pháp, năm uẩn ở ngay tại thời điểm này mà không phải là những uẩn khác.

Bạn đã biết rằng kết quả của hiện tại phụ thuộc vào nguyên nhân trong quá khứ. Với sự sinh khởi của quả hiện tại, trong nháy mắt, hơn năm mươi tỷ quả uẩn đã sinh khởi và diệt đi. Không một dấu vết nào theo sau cho đến hiện tại. Chúng không thể được tìm thấy, chúng đã kết thúc. Tôi đang nói về tiến trình duyên sinh diễn ra trong lúc này, pháp Duyên Sinh xuất hiện trong lúc này là trùng hợp với trí tuệ sinh khởi hiện tại. Quá khứ không còn nữa, để thực hành vipassanā, phải là khoảnh khắc sinh khởi trong hiện tại. Năm uẩn khi ra khỏi bụng mẹ không có ở đây, chúng hoàn toàn không còn tồn tại. Vì vậy không có gì đáng nói cả. Những gì sinh khởi hiện tại được tìm thấy trong hiện tại, đây là điều rất quan trọng.

Khi bạn đang ngồi ở đây thì năm uẩn sinh khởi lúc thức dậy không còn nữa, vì vậy vipassanā không thể được quan sát trên chúng. Nếu bạn đến và đổ nước vào những thứ đã bị đốt cháy, bạn chỉ lãng phí nước. Chúng đã bị thiêu rụi, thậm chí không còn tro tàn, nếu bạn đến và đổ nước lên đó, người ta sẽ cho rằng bạn bị mất trí. Bạn tới đây để thoát khỏi sự điên rồ này. Các uẩn sinh khởi tại thời điểm hiện tại là quan trọng. Đừng nghĩ rằng giáo pháp của thầy bạn là giáo pháp mới, không giống những giáo pháp khác. Điều này phù hợp với pháp tự nhiên sabhāva.

Thực hành vipassanā có nghĩa là thoát khỏi tà kiến và hoài nghi từ các uẩn hiện tại, là các uẩn sinh khởi ngay tại thời điểm này. Quá khứ chỉ là hình ảnh trên phim. Xem phim đang được chiếu trên màn ảnh chứ đừng xem hình ảnh trong cuộn phim. Hãy quan sát năm uẩn bằng trí tuệ trong hiện tại. Nếu bạn không biết chúng sinh khởi như thế nào, thì tôi phải dạy bạn cách quan sát. Như thế nào các uẩn sinh khởi sẽ được đề cập đầu tiên.

Ví dụ, ngôi nhà, cửa hàng, những đứa trẻ của U Than Daing. Hàng hoá từ cửa hàng của U Than Daing lọt vào mắt của U Than Daing nên nhãn thức sinh khởi. Điều này ai cũng biết. Nhãn thức lúc này có phải là nhãn thức đến với bạn khi ở nhà không? Không, đó là nhãn thức vừa mới sinh khởi. Có phải con mắt đã đi cùng bạn từ nhà đến đây không? Không, con mắt lúc ở nhà không kéo dài dù chỉ là một tia chớp. Con mắt ở cửa hàng chỉ xuất hiện khi bạn đến cửa hàng. Có phải hàng hoá từ hôm qua không? Bốn yếu tố chính (mahābhūta) luôn trong trạng thái thay đổi liên tục trong từng khoảnh khắc, do đó hàng hoá hiện tại là những thứ chỉ sinh khởi khi có mặt bạn ở hiện tại.

Hàng hoá ở hiện tại, là tạm thời, sinh khởi ngay trong thời điểm hiện tại. Con mắt không phải là con mắt đã đến với bạn từ nhà. Đó là một con mắt mới, chỉ sinh khởi ở cửa hàng. Nhãn thức là mới, cảm thọ quyết định tốt hay xấu cũng hoàn toàn mới mẻ, và chỉ sinh khởi lúc này. Tưởng cũng mới, như vậy ở đó không có gì đến cùng cùng với bạn từ nhà. Hành, thúc giục, ý muốn nhìn, cũng mới, nó cũng vừa sinh khởi. Bây giờ tôi sẽ phân tích năm uẩn.

Hàng hoá hữu hình này là sắc pháp (rūpa), con mắt của bạn là sắc uẩn (rūpa-khandha). Chúng đều là sắc uẩn mới, chỉ sinh khởi khi bạn đến của hàng. Bốn danh uẩn bao gồm thọ uẩn (vedanā-khandha), tưởng uẩn (saññā-khandha), hành uẩn (saṅkhāra-khandha) và thức uẩn (viññāṇa-khandha) là các hiện tượng vừa khởi lên cùng lúc này với sắc uẩn.  Năm uẩn này không liên quan đến pháp Duyên Sinh trong quá khứ. Đây là năm uẩn trong hiện tại, gọi là U Than Daing và U Tun Yin.

Năm uẩn sinh khởi ở hiện tại, không có dấu vết cho thấy chúng đi với bạn từ nhà. Chúng không thể được kết nối với vô minh và các hành từ quá khứ. Chúng chỉ xuất hiện khi bạn đến cửa hàng, năm uẩn chỉ sinh khởi khi bạn đến đó. Hiểu biết của bạn về năm uẩn cần được phát triển. Năm uẩn này có liên hệ với nguyên nhân trong quá khứ không? Có liên hệ với tương lai không? Đây là năm uẩn chỉ mới phát sinh, vừa sinh khởi.

Khi nhìn thấy hàng hoá chưa được bán, tâm sẽ có sự không hài lòng (dosa). Đó là sự bất mãn xuất phát từ các uẩn trong hiện tại, không phải từ bất kỳ nơi nào khác. Kinh sách ghi rằng tinnam sangati phasso, phassa paccaya vedana, vedana paccaya taṇhā. Nhưng trong thực tế bốn danh uẩn sinh khởi đồng thời, chúng sinh khởi đồng thời và diệt đi đồng thời. Hai hiện tượng vật chất cùng nhau làm phát sinh bốn hiện tượng tinh thần. Hai hiện tượng vật chất kết hợp với nhau, nhãn căn là sắc pháp và hàng hoá được nhìn thấy trong của hàng là cảnh sắc. Cả hai hiện tượng vật chất này đều là sắc uẩn, cùng nhau làm phát sinh bốn hiện tượng tinh thần là danh uẩn (nāmakhandha).

Vật chất và vật chất cùng nhau tạo nên hiện tượng vật chất (rūpa), tâm và tâm kết hợp với nhau tạo nên hiện tượng tinh thần (nāma). Danh sắc sinh khởi từ danh sắc (nāma rūpa). Chúng là quá khứ hay hiện tại? Chúng hoàn toàn là hiện tại, và không kết nối với vô minh. Chúng không được kết nối với nguyên nhân trong quá khứ cũng không phải với tương lai. Điều này mang tính thời điểm, chỉ tại thời điểm này.

Năm uẩn mà chúng ta đang sống hiện tại đây không phải là những uẩn đến từ bụng mẹ cũng không phải là năm uẩn được tạo ra bởi bất kỳ ai. Chỉ là năm uẩn sinh khởi khi đối tượng xuất hiện tiếp xúc với sáu căn. Đây là các căn, đây là đối tượng. Khi có sự tác động giữa đối tượng và các căn thì tạo ra bốn danh uẩn. Bốn danh uẩn và sắc uẩn kết hợp với nhau tạo thành năm uẩn. Bây giờ bạn biết sự sinh khởi của các uẩn. Nếu bạn biết sự diệt đi của các uẩn thì sẽ có trí tuệ vipassanā ngay lập tức.

Có những điều không thể nói giống theo sách vở. Tất nhiên những lời dạy của Đức Phật chứa trong các kinh điển. Đức Phật đã dạy chúng ta qua sự hiểu biết của ngài về các uẩn, nhưng ngài không để lại các văn tự, các văn tự chỉ xuất hiện sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn.

Thiền sinh: Thưa ngài, còn về hành saṅkhārā nyana?

Sayadaw: Hành uẩn (saṅkhāra) phụ thuộc vào vô minh, avijja paccaya saṅkhāra, phụ thuộc vào vô minh, hành sinh khởi. Tôi sẽ không giải thích điều này trong hành uẩn (saṅkhārakhandha).

Đây là con mắt do bởi nghiệp hiện tại. Đây là con mắt (do nghiệp) chỉ diễn ra khi đến của hàng. Con mắt do nghiệp quá khứ đã biến mất. Đây là con mắt đột ngột xuất hiện khi đến của hàng. Tất cả hàng hoá cũng luôn trải qua sự thay đổi, nóng, lạnh,…Vật chất được hình thành từ nhiệt độ nên chúng luôn thay đổi rồi biến mất.

Hàng hoá trước mặt là hàng hoá ở hiện tại. Con mắt hiện tại và hàng hoá trong hiện tại liên hệ với nhau, Cakkhumca paticca rupeca uppajjati. Khi đó nhãn thức sinh khởi. Có thể tách rời bốn danh uẩn không? Ekuppada, ekanirodha, ekalambana, ekavatthuka, vì vậy nhãn thức phải đi cùng với thọ, tưởng, hành. Chúng phải đến cùng với nhau, tôi chỉ nói với bạn rằng chúng đến với nhau. Nhưng điều này chưa đủ để biết nhân và quả.

Tôi không giải thích làm thế nào để xua tan sự nghi ngờ, tôi chỉ giải thích về sự sinh khởi của năm uẩn. Điều này khác với các kinh văn truyền thống, trong kinh điển thường ghi rằng phassa paccaya vedanā,

phụ thuộc vào sự tiếp xúc, cảm thọ sinh khởi. Nhưng không phải như vậy, bốn danh uẩn sinh khởi đồng thời cùng nhau và đồng diệt cùng nhau.

Đó là hiện tượng vật chất, sắc uẩn. Bốn kết hợp với một tạo thành năm, năm uẩn sinh khởi trong khoảnh khắc hiện tại, vipassanā phải được quan sát vào lúc này. Những thứ phát sinh vào hôm qua, hoặc hai ngày trước…, hay những thứ sẽ phát sinh vào ngày mai, ngày kia, không thể được quan sát trong thực hành thiền tuệ. Biết rõ các uẩn trong hiện tại, điều này chắc chắn rằng các uẩn không phải đến từ quá khứ.

Cakkhuca paticca, phụ thuộc vào con mắt, đó là nguyên nhân. Hàng hoá trong cửa hàng cũng là nguyên nhân. Phụ thuộc vào hai nguyên nhân là mắt và hàng hoá, nhãn thức sinh khởi. Nhãn thức cũng không thể sinh khởi một mình, bốn danh uẩn phải sinh khởi đồng thời. Ở đây thức uẩn là thủ lĩnh, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, vẫn chưa hoạt động tích cực.

Ăn bát súp có vị mặn, bạn sẽ nói “nó rất mặn, thưa ngài”. Ở đây vị mặn chiếm ưu thế. Câu trả lời là gì nếu hỏi về vị ngọt? Vị ngọt có ở trong đó, nhưng không hoạt động. Món súp này cũng có cà chua, nước mắm và bột ngọt. Bạn chỉ nói về người dẫn đầu, chỉ có vị mặn được đề cập đến. Câu trả lời là những vị khác không rõ ràng như vị mặn. Những thứ khác cũng có trong bát súp nhưng chúng không rõ ràng bằng vị mặn. Tôi đang giải thích năm uẩn hoạt động theo cách đơn giản, ở đây vị mặn là thức uẩn.

Nếu không có ý muốn (cetana), mắt sẽ không hướng về phía hàng hoá. Ý muốn nhìn hướng mũi tên về phía mục tiêu, hành uẩn quay mũi tên về phía mục tiêu. “Đây là mục tiêu và bạn phải bắn”, và thọ cảm nhận, tưởng ghi nhớ, ý muốn của hành uẩn nhắc nhở. Thức uẩn biết rằng “đây là mục tiêu tôi sẽ phải bắn”.

Xúc (phassa) hình thành bởi sự tiếp xúc của hai yếu tố, vì vậy hành uẩn cũng có ở đó, mặc dù nó không chiếm ưu thế. Thức uẩn là thủ lĩnh và các danh uẩn còn lại không hoạt động, cũng giống như món súp mà vị mặn làm chủ đạo. Đôi khi vị mặn không phải là người dẫn đầu, vị cay của ớt có thể chiếm ưu thế. Trong chuyến hành hương, tác ý là người dẫn đầu, hành uẩn chiếm ưu thế. Lúc này, thức nằm im.

Tất cả năm uẩn đều ở đó. Mắt và cảnh sắc đều là sắc uẩn, tập hợp của vật chất. Giữa hai yếu tố trong cùng một tiến trình nhìn, chúng trở thành một. Sắc uẩn và bốn danh uẩn tạo thành năm uẩn. Đây là năm uẩn của quá khứ hay hiện tại? Các uẩn ở hiện tại có thể được tìm thấy thông qua trí tuệ. Nếu bạn tìm kiếm các uẩn trong quá khứ, bạn không thể tìm thấy chúng, vì bạn đang tìm kiếm cái mà không có ở đó. Nếu bạn nói rằng chúng ở đó, thì bạn sai. Bây giờ bạn đã biết rõ các uẩn phát sinh lúc này.

Có hai sắc uẩn là sắc, bốn danh uẩn là danh. Hai sắc uẩn là nguyên nhân và chúng là pháp Duyên Sinh. Bốn danh uẩn là kết quả và chúng cũng là pháp Duyên Sinh. Đây là nhân và quả hay là năm uẩn? Chúng là nhân và quả. Chỉ có nhân và quả. Sau đó sự hoài nghi về “tôi sẽ ở đâu” được xua tan. Chỉ có nguyên nhân và kết quả, không có cá nhân hay chúng sinh nào. Chỉ có hai nguyên nhân và bốn kết quả.

Biết rằng chỉ có nguyên nhân và kết quả, hoài nghi về “tôi từ đâu đến” được xua tan. Chỉ có các hiện tượng vật chất là sắc, chỉ có các hiện tượng tinh thần là tâm. Đừng để ‘tôi’ xen vào làm rối tung mọi thứ. Khi nguyên nhân và kết quả được hiểu rõ, sự nghi ngờ, luẩn quẩn được xoá tan. Dựa vào hai nguyên nhân, bốn kết quả sinh khởi. Đó không phải là sự sáng tạo của thần Brahma, hay Chúa toàn năng, chỉ có sự sinh khởi của bốn hiện tượng tinh thần dựa trên hai hiện tượng vật chất. Nghi ngờ sẽ được cắt đứt, tất cả chỉ có năm uẩn.

Nhãn căn, cakkhu pasada là bộ phận nhạy cảm của mắt, là sắc pháp sinh bởi nghiệp. Hàng hoá là vật chất nguyên nhân bởi nhiệt độ (utu). Vì vậy bốn hiện tượng tinh thần, gây ra bởi nghiệp lực và nhiệt độ. Hai là nguyên nhân, bốn là kết quả. Biết được những điều này, hoài nghi không còn nảy sinh và được xua tan. Chỉ có thân và tâm, không có cái tôi. Như vậy, tà kiến được xua tan.

Tà kiến và hoài nghi giờ đây đang được xua tan, tuy nhiên chỉ là xua tan bằng lý thuyết. Có thể xua tan bằng lý thuyết, bằng sự thực hành và bằng nhổ tận gốc dễ. Lúc đầu, về mặt lý thuyết, tà kiến đang được xua tan dần, sau đó được xua tan mạnh mẽ hơn thông qua thực hành, cuối cùng xua tan giống như ra lệnh cho chúng không được đến nữa.

Tôi sẽ nói lại lần nữa, nhãn căn do nghiệp tạo ra. Nghiệp sinh khởi nhiều lần, khi nhãn căn này mất đi, nghiệp thay thế bằng nhãn căn khác. Đó là pasadarupa, nhãn căn sinh khởi phụ thuộc vào nguyên nhân của nghiệp lực. Hàng hoá phát sinh phục thuộc vào nhiệt độ. Khi nghiệp và nhiệt độ kết hợp, tâm sinh khởi. Cakkhumca paticca rupeca uppajjati cakkhu vinnanam. Có bốn danh uẩn sinh khởi đồng thời.

Sự tác động của hai sắc uẩn làm phát sinh bốn danh uẩn. Sự tiếp xúc của hai bàn tay tạo ra âm thanh, nó là hiện tại, quá khứ hay tương lai? Bây giờ các uẩn trong hiện tại đã được hiểu.

Tại nhĩ căn, đang nghe âm thanh từ chiếc quạt. Nhĩ căn kết hợp với âm thanh sinh ra nhĩ thức và ba danh uẩn khác. Khi nghe sẽ phát sinh năm uẩn, khi ngửi, khi nhận biết vị cũng phát sinh năm uẩn. Khi bạn kiểm tra vải vóc bằng tay, năm uẩn phát sinh tại thân môn, kayadvara. Khi bạn nằm trên giường và suy nghĩ, cảm thấy tiếc nuối, năm uẩn sinh khởi tại ý môn manodvara.

Năm uẩn cứ tiếp tục sinh khởi, nối tiếp nhau tại sáu giác quan. Năm uẩn này diệt đi và năm uẩn khác sinh khởi và tiếp tục sống. Nếu năm uẩn tại nhãn môn diệt đi, năm uẩn tiếp theo sinh khởi tại nhĩ môn và tiếp tục sống. Nếu năm uẩn ở nhĩ môn diệt đi, năm uẩn ở tỷ môn sinh khởi và tiếp tục sống. Đôi khi có thể phát sinh năm uẩn ở tỷ môn một lần nữa và sống với năm uẩn ở tỷ môn đó, rồi sống với năm uẩn trong thiệt môn. Đôi khi còn sống với năm uẩn tại thân môn hoặc đôi khi là năm uẩn phát sinh trong ý môn… Năm uẩn này phát sinh bao nhiêu lần mỗi ngày?

Thiền sinh: Không thể đếm được, thưa ngài.

Sayadaw: Điều quan trọng là các bạn phải tuân theo sự sinh khởi của các uẩn bằng trí tuệ, U Than Daing nhìn thấy cái chết của U Than Daing. Bất cứ khi nào năm uẩn diệt đi được quan sát, nhận biết nó giống như cái chết. Bây giờ bạn có nhìn thấy cái chết của chính mình không? Khi quan sát bạn nhìn thấy cái chết của chính mình chứ? Thấy các uẩn diệt đi, bạn nhìn thấy cái chết của chính mình hay cái chết của người khác?

Thiền sinh: Con nhìn thấy cái chết của chính mình, thưa ngài.

Sayadaw: Bạn đã tham dự đám tang của những người khác nhưng chưa bao giờ tham dự đám tang của chính mình. Bây giờ bạn có muốn tham dự vào đám tang của chính mình không? Bạn đã nhận được ý tưởng thực hành chưa? Đừng nghĩ tới việc về nhà. Trong nháy mắt có bao nhiêu lần năm uẩn sinh và diệt? Hơn năm tỷ lần. Bất cứ khi nào có một uẩn diệt đi, nghĩa là cả năm uẩn diệt cùng theo, nhưng tất cả năm uẩn không thể được quan sát đồng thời. Tại nhãn căn, năm uẩn sinh khởi rồi diệt đi, năm uẩn khác phát sinh và thay thế. Tại nhĩ căn, năm uẩn tiếp tục sinh khởi và thay thế. Nếu nghe liên tục thì năm uẩn nối tiếp nhau phát sinh. Khi đó có thể đếm được bao nhiêu cái chết không?

Quan sát vô số cái chết, với trí tuệ biết về cái chết, đây là thực hành vipassanā. Đây là cách thức quan sát cái chết của một con người. Vipassanā là cái gì? Đó là một phương pháp thực hành đơn thuần để lấy phước thiện hay là sự chiêm nghiệm về cái chết của một con người? Vipassanā là quan sát về cái chết của chính bạn.

Đức Phật chỉ nói rằng vòng luân hồi bắt đầu từ vô minh và các pháp có điều kiện nhưng Ngài không cho chúng ta biết về nguồn gốc của chúng sinh. Đức Phật dạy rằng vô minh và các hoạt động có điều kiện là khởi đầu của luân hồi, và Ngài sẽ mệt mỏi khi nguồn gốc của chúng sinh được hỏi. Pubbekotina pannyayati. Sự khởi đầu không thể nhìn thấy được, Ngài chỉ dạy về pháp khởi đầu. Sinh tử kéo dài đến nỗi không thể thấy được những cái chết diễn ra khắp nơi. Không có trí tuệ nào có thể nhìn thấy những cái chết diễn ra từ vô thuỷ vô chung.

Bây giờ tôi hướng dẫn cho bạn kiến thức để nhìn thấy cái chết của chính bạn. Nhãn thức sinh khởi ở mắt, rồi biến mất ở mắt. Tiến trình nhìn không còn nữa, nhãn thức đã biến mất. Sự biến mất được quan sát bởi trí tuệ, do đó cái chết của chính bạn được hiểu. Nhìn thấy chính mình nên không còn mong muốn các uẩn trong tương lai. Không còn mong muốn sẽ không có sự sinh khởi và sau đó là kết thúc của cái chết.

Chết là chân lý của khổ (dukkha sacca), biết về cái chết là chân lý về con đường đưa đến diệt khổ (magga sacca). Với magga sacca, khao khát tồn tại trong tương lai không còn diễn ra. Magga cắt đứt vòng duyên sinh, nếu không vòng duyên sinh sẽ tiếp tục. Phassa paccaya vedana, vedana paccaya taṇhā, taṇhā paccaya taṇhā. Xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, rồi sự chấp thủ làm duyên cho nghiệp hữu. Tham ái, chấp thủ, nghiệp hữu làm duyên cho sự tái sinh trong tương lai.

Bạn đã cúng dường các tu viện, nếu có các uẩn trong tương lai, vẫn sẽ phát sinh khổ uẩn. Nếu còn ham muốn, điều này sẽ tiếp tục. Ở đây, với sự xuất hiện của Đạo tuệ, không có khoảng thời gian ở giữa, ngay lập tức theo sau là Quả Tuệ. Khi đó tham ái, bám víu, nghiệp lực không còn khởi lên, tại sao chúng không khởi lên? Nhìn thấy cái chết của chính mình và cắt đứt vòng duyên sinh tương lai là Đạo tuệ. Đạo tuệ hoạt động theo hai cách, biết sự thật của đau khổ đồng thời cắt đứt sự thèm muốn. Biết được cái chết của chính mình là sự thật về khổ, dhamma niyama luật tự nhiên thường xuyên tuân theo. Biết được lời dạy của Đức Phật, dhamma niyama (magga) sẽ diễn ra. Nếu Đức Phật không xuất hiện, liệu Đạo tuệ này có sinh khởi không?

Bây giờ Đức Phật xuất hiện, sẽ không còn sự thật về khổ trong tương lai. Tại sao khổ không phát sinh trong tương lai? Nhìn thấy cái chết ở đây, cái chết ở đằng kia sẽ không diễn ra. Vipassanā là quan sát về cái chết của chính một con người. Không còn dính mắc với các uẩn đã sinh khởi, nhìn thấy cái chết sẽ ngăn chặn ham muốn sinh khởi. Thấy cái chết là vipassanā magga, nhưng vẫn chưa phải là magga thật sự.

Hai sắc pháp, nhãn căn và cảnh sắc là nguyên nhân, bốn danh uẩn là kết quả. Tà kiến và hoài nghi sẽ bị xoá tan khi nguyên nhân và kết quả của các uẩn được biết đến. Trong nguyên nhân có ‘tôi’ không hay chỉ là sắc pháp? Chỉ là sắc pháp. Trong kết quả có ‘tôi’ không hay chỉ là tâm? Chỉ là tâm.

Hiểu về mặt lý thuyết rằng danh và sắc đồng thời sinh khởi, tà kiến tạm thời bị xua tan. Nhưng điều này vẫn chưa được xua tan bằng thực hành. Với những giáo viên bình thường, bạn có thể bị nhầm lẫn, và cho rằng mình đạt được Sotāpana. Biết nguyên nhân và kết quả chỉ là tuệ giác phân biệt nhân duyên (nataparinna). Nên đạt đến tirana parinna, hiểu biết thông qua sự phát triển của thực hành. Sau đó nên có tirana parinna (giai đoạn diệt trừ)/ Đạo tuệ.

Gặp một vị thầy dạy sai, bạn coi rằng hiểu biết lý thuyết giống như giai đoạn diệt trừ. Trong quá trình thực hành vipassanā chỉ có năm chi đạo, con đường Bát Thánh Đạo vẫn chưa được hoàn thành. Thực hành vipassanā với niệm (sati), định (samādhi), nỗ lực (viriya), chánh kiến và chánh tư duy tạo thành năm chi đạo. Năm chi đạo chỉ có thể xua tan tà kiến và hoài nghi tạm thời, mà vẫn chưa nhổ tận gốc rễ chúng được.

Một số vị thầy dạy bạn theo cách dễ dãi cho rằng: “bạn đã trở thành Sotapana, bạn có thể đi, không vấn đề gì, sẽ không còn vấn đề gì nữa”. Tôi rất lo lắng nếu bạn kết thúc với một giáo viên như vậy. Tôi lo lắng, vì đó là sự mất mát rất lớn trong suốt vòng sinh tử. Bạn gặp khó khăn với người thầy dạy sai, người luôn khen bạn, trong khi thực tế công việc của bạn vẫn chưa hoàn thành, bạn mới chỉ xua tan tà kiến và hoài nghi tạm thời.

Hôm nay các bạn tạm thời xua tan tà kiến và hoài nghi về mặt lý thuyết. Năm uẩn sinh khởi và biến mất bao nhiêu lần mỗi ngày? Vô số. Bất cứ khi nào chúng sinh khởi, hãy biết rằng có sự sinh khởi và thay thế. Theo sau các uẩn nhiều hết mức bạn có thể. Chỉ có Đức Phật mới biết được sự sinh diệt của cả năm tỷ uẩn. Đây không phải là những gì mà tôi và bạn có thể biết.

Nếu thầy hướng dẫn của bạn hỏi rằng có nhìn thấy năm tỷ uẩn sinh và diệt đi trong nháy mắt không, và bạn trả lời là không, nếu vị ấy nói bạn vẫn chưa đủ năng lực thì điều này sẽ gặp rắc rối. Đức Phật chỉ nhìn thấy chúng sau khi đạt được Phật quả. Làm theo những gì được viết trong các kinh văn, cố gắng xem những gì chỉ thấy sau khi đạt được Phật quả chỉ làm cho bạn kiệt sức mà thôi.

Tôi sẽ chỉ nói hai từ hôm nay. Việc thực hành trước khi đạt được Phật quả là một việc và thực hành sau khi đạt được quả vị Phật là một việc khác. Những gì bạn phải tuân theo là thực hành cho đến khi đạt được Phật quả. Chỉ sau khi đạt được Phật quả, Đức Phật mới nói rằng triệu triệu tâm sinh diệt, hay năm tỷ sắc sinh diệt trong chớp mắt. Khi một học giả uyên bác nói điều này, chính bản thân anh ta cũng bối rối.

Quả vị Phật đã đạt được với quan điểm nào? Có phải Ngài trở thành Phật sau khi nhìn thấy sinh diệt triệu triệu danh và năm tỷ sắc không. Với sự hiểu biết của mình, Ngài chỉ đơn giản quan sát danh sắc trong hiện tại và đạt được Phật quả.

Bài liên quan