Chánh kiến

Sự khác nhau giữa người khôn ngoan và kẻ ngu là gì? Câu trả lời là: người khôn ngoan thực hành đời sống phạm hạnh (magga brahmacariya) còn kẻ ngu thì không. Vì vậy người khôn ngoan không còn tái sinh trong tương lai, và già nua, bệnh tật, cái chết trong tương lai cũng không còn tồn tại nữa. Đối với kẻ ngu, không thực hành đời sống phạm hạnh cao quý, sẽ tiếp tục tái sinh trong tương lai và kết quả nhận được là già nua, bệnh tật rồi chết. Người khôn ngoan không còn đau khổ trong tương lai còn kẻ ngu ngốc tiếp tục chịu đựng đau khổ. Thực hành đời sống phạm hạnh là con đường thực hành dựa trên chánh kiến (sammādiṭṭhi). Sammā là đúng, diṭṭhi là cái nhìn, sammādiṭṭhi có nghĩa là cái nhìn đúng đắn, chánh kiến. Có năm loại chánh kiến:

(1) Kammassakatā sammādiṭṭhi – Chánh kiến về nguyên nhân và kết quả

(2) Jhāna sammādiṭṭhi – Chánh kiến về thiền định

(3) Vipassanā sammādiṭṭhi – Chánh kiến về thiền minh sát

(4) Magga sammādiṭṭhi – Chánh kiến về Đạo tuệ

(5) Phala sammādiṭṭhi – Chánh kiến về Quả tuệ.

(1) Kammassakatā sammādiṭṭhi là chánh kiến tin vào các hành động tạo nghiệp và kết quả của nghiệp. Kammassakatā sammādiṭṭhi đang bố thí, cúng dường, làm phước thiện hay đang gieo những hạt giống tốt để nhận lấy kết quả là sự may mắn, giàu sang. Kammassakatā sammādiṭṭhi tồn tại cả bên ngoài và bên trong giáo pháp (sāsana).

(2) Jhāna sammādiṭṭhi là sự thực hành định tâm (samatha). Kết quả của việc thực hành thiền định này là có thể đạt được các loại thần thông và được tái sinh trong các cõi trời sắc giới (rūpa) hay cõi phạm thiên vô sắc (arūpa). Tuy nhiên điều này vẫn nằm trong sự thật của đau khổ (dukkha sacca), vậy nên kết quả không có nhiều giá trị. Đây là chánh kiến, không có gì phải nghi ngờ về điều này, nó thấy sự thật nhưng không phải là sự thật cuối cùng. Jhāna sammādiṭṭhi cũng tồn tại cả bên ngoài và bên trong giáo pháp.

Ba chánh kiến còn lại (3)(4)(5), là chánh kiến về vipassanā, chánh kiến về Đạo tuệ và chánh kiến về Quả tuệ chỉ tồn tại trong thời gian có giáo pháp của Đức Phật (Buddha sāsana). Chánh kiến đầu tiên trong ba chánh kiến này, là chánh kiến về thiền minh sát (vipassanā sammādiṭṭhi) dùng để xua tan thân kiến (sakkāyadiṭṭhi). Cả Đức Phật và tôi đều đảm bảo rằng, nếu thực hành vipassanā thì sự tái sinh trong các cõi thấp sẽ không xảy ra. Ngay trong kiếp sống này, thực hành vipassanā có thể dẫn tới giác ngộ Niết Bàn. Đầu tiên trở thành thánh Nhập Dòng, sau đó là thánh Nhất Lai, tiếp theo là thánh Bất Lai và cuối cùng trở thành bậc thánh A La Hán.

Tiếp theo chánh kiến về vipassanā, chánh kiến về Đạo tuệ sẽ được thảo luận. Chánh kiến thứ nhất và thứ hai không được thảo luận nhiều vì chúng có thể tồn tại bên ngoài thời gian của giáo pháp và không giúp ích nhiều trong việc giải thoát khỏi đau khổ. Chánh kiến quan trọng nhất là chánh kiến về vipassanā, cần được thảo luận để áp dụng vào thực hành.

Theo chú giải của kinh Tương Ưng (saṃyuta nikāya), chánh kiến về vipassanā nhìn thấy bản chất vô thường, khổ, vô ngã của các hiện tượng theo pháp Duyên Sinh (paṭiccasamuppāda), nên thân kiến đồng hoá các uẩn là ‘tôi’, ‘của tôi’ được nhổ tận gốc dễ. Vô thường, khổ, vô ngã có thể được quán tưởng khi bất cứ uẩn nào sinh khởi, cho dù là ở giai đoạn đầu, giai đoạn giữa hay giai đoạn cuối của vòng duyên sinh. Nếu tính vô thường, sự sinh diệt của các uẩn được nhìn thấy theo cách này, ba tà kiến sẽ được xua tan.

Tuệ giác vipassanā có thể xoá bỏ ba tà kiến (micchadiṭṭhi) là thân kiến (sakkāyadiṭṭhi), thường kiến (sassatadiṭṭhi) và đoạn kiến (ucchedadiṭṭhi). Do đó chánh kiến thứ ba này là quan trọng nhất. Chánh kiến thứ tư về Đạo tuệ (magga sammādiṭṭhi), tương đối dễ dàng, nó sinh khởi nơi con đường đã được làm sẵn bởi chánh kiến về vipassanā. Magga sammādiṭṭhi là giai đoạn khi trí tuệ sắc bén sinh khởi và nhìn thấy sự chấm dứt của mọi đau khổ.

Giai đoạn thứ ba của chánh kiến, vipassanā sammādiṭṭhi, không gì khác hơn là thực hành thiền tuệ vipassanā. Để thực hành vipassanā, hãy quan sát các hiện tượng sinh và diệt. Bất cứ hiện tượng nào sinh khởi, như tâm muốn ăn, muốn ngủ, tâm suy nghĩ hay bất cứ tâm nào xuất hiện, được quan sát kịp thời chính là vipassanā. Hãy hướng sự chú ý đến sự sinh và diệt của các hiện tượng, nó trở thành vipassanā sammādiṭṭhi. Đó có thể là bất cứ tâm nào, bất cứ tâm nào khởi lên, hãy quan sát đặc tính của nó. Nếu tâm không khởi lên thì sau đó là cái chết. Pháp khởi lên là các uẩn duyên sinh, các uẩn luôn sinh diệt, sinh diệt, ngoài pháp này ra không còn pháp nào khác.

Thấy vô thường là sự kết thúc của tà kiến, cái mà đưa chúng sinh xuống các cảnh giới thấp kém. Sinh khởi rồi diệt đi dẫn đến hiểu biết rằng đây ‘không phải là tôi, không phải là của tôi, không phải là tự ngã của tôi’, tất cả chỉ là các hiện tượng sinh rồi diệt. Bằng cách quan sát sinh diệt của các uẩn, thân kiến bị xua tan. Đây là những gì được trình bày trong chú giải của kinh Tương Ưng (saṃyutta nikaya).

Có người hỏi rằng, quan sát tính vô thường để làm gì? Để xua tan tà kiến và những quan điểm sai lầm về bản thân, cái dẫn chúng sinh đến các trạng thái khốn khổ. Một người chưa đạt tới điểm kết thúc của sinh diệt, trong khi vẫn còn đang quan sát các uẩn sinh diệt, nếu tuổi thọ bị cắt đứt bởi đoạn nghiệp (upaghātaka kamma), người đó chết đi, nhưng chắc chắn không tái sinh trong các cảnh giới đau khổ. Nhìn thấy sự diệt đi của các hiện tượng, thân kiến và thường kiến bị xua tan. Nhìn thấy sự sinh khởi của các hiện thượng, thân kiến và đoạn kiến bị xua tan.

Cánh cửa dẫn đến bốn cõi thấp bắt đầu từ thân kiến. Với sự thấy biết sinh khởi và diệt đi của các uẩn, vipassanā sammādiṭṭhi cắt đứt thân kiến. Dập tắt thân kiến còn quan trọng hơn dập tắt ngọn lửa đang cháy trên đầu bạn. Ngay cả khi có một mũi giáo đâm vào ngực, hãy loại bỏ thân kiến trước, bởi vì đây là pháp đưa bạn đến cõi khốn khổ.

Cho dù chưa thể giác ngộ Niết Bàn hay chưa đạt được Đạo tuệ, nếu một người chết với các tuệ giác vipassanā, trong kiếp sau người đó vẫn có thể đạt được giai đoạn giác ngộ đầu tiên, trở thành thánh Nhập Dòng (sotāpanna). Điều này được đề cập trong kinh Tăng Chi (anguttara nikaya).

Đừng lùi bước trong việc phát triển tuệ giác, hãy nỗ lực xua tan quan điểm sai lầm về bản thân, sakāyadiṭṭhi. Không được lùi bước trong việc xua tan thân kiến, vì điều này chỉ có thể được biết trong thời gian tồn tại của giáo pháp.  

Nơi cư trú thường xuyên cho tất cả chúng sinh là các cõi thống khổ, bởi vì nguyên nhân từ thân kiến. Chắc chắn là thân kiến trước đây chưa bao giờ bị xua tan và vipassanā chưa bao giờ được thực hành.

Nếu chưa xua tan được thân kiến thì không có thời gian để nghỉ ngơi và thư giãn. Hãy đặt mọi liên hệ với thế gian như gia đình, con cái, công việc làm ăn sang một bên, nỗ lực xua tan thân kiến trước. Đừng nghĩ rằng chăm sóc con trai, con gái, gia đình, họ hàng, hay công việc kinh doanh là bắt buộc, điều duy nhất bắt buộc là phải xua tan thân kiến. Có thể bạn bị chỉ trích vì bỏ bê gia đình hay công việc, nhưng bạn sẽ không phải đi đến trạng thái khốn khổ (apāya). Rất tệ nếu không thấy sinh và diệt, không xua tan được thân kiến, điều này tệ hơn rất nhiều so với bị gét bỏ.

Theo chú giải Anguttara, người có thân kiến giống như một hòn đá ném xuống nước, sẽ không bao giờ xuất hiện trở lại. Không có tài sản hoặc bị con trai, con gái gét bỏ không quan trọng bằng việc bị chìm đắm và không bao giờ trở lại. Họ trở thành gia đình, người thân, hàng xóm, tài sản của bạn trong cuộc đời này. Bạn quan tâm đến những người đó nhưng bạn không có tình thương với chính mình. Quan tâm đến người khác, giống như “không sao đâu nếu tôi phải rơi vào cảnh giới khốn cùng”. Bạn là kẻ ngu ngốc và không biết về điều đó. Hãy nhìn vào tuổi tác của mình, cặp mắt của bạn đang hướng về phía nghĩa trang. Bạn đang già đi. Đó là lý do tại sao trong kinh Tương Ưng, Đức Phật đã nói “dập tắt thân kiến quan trọng hơn dập tắt ngọn lửa trên đầu, ngay cả khi có một ngọn giáo đâm vào ngực của bạn, hãy loại bỏ thân kiến trước tiên”.

Làm thế nào để kết thúc thân kiến? Sinh khởi và đoạn diệt của tâm phải được quan sát. Tà kiến được xua tan bởi kiến thức, bằng sự quan sát sự sinh diệt của danh sắc và sẽ được nhổ tận gốc bởi Đạo tuệ.

Thực hành minh sát tuệ, chánh kiến về vipassanā (vipassanā sammādiṭṭhi), tức là bạn đang xua tan tà kiến. Bạn đã bỏ lỡ tất cả các vị Phật trong các chu kỳ thế giới trước đây, bởi vì bạn đã ở trong địa ngục. Ai đã đưa bạn xuống địa ngục? Thân kiến đã gửi bạn xuống đó, khi thân kiến chưa được xua tan, chắc chắn bạn sẽ bỏ lỡ mọi vị Phật xuất hiện trên thế giới.

Bạn mong ước được nhìn thấy Đức Phật, bạn cúng dường đến Đức Phật với mong muốn được giác ngộ, giải thoát nhưng bạn vẫn không làm bất cứ điều gì để ngăn chặn pháp thân kiến đang che lấp bạn nhìn Đức Phật. Bạn có thể mong ước bất cứ điều gì, nhưng nếu bạn không thoát khỏi thân kiến, bạn sẽ không đạt được điều đó. Mong ước chỉ là điều bình thường nhưng thân kiến là điều thực sự đưa bạn đến các cõi thấp, pháp này chắc chắn sẽ đưa bạn đến các trạng thái khốn cùng. Đó là pháp gì? Là pháp thân kiến, pháp đã nhiều lần đưa bạn xuống bốn cõi đau khổ.

Trong suốt vòng luân hồi sinh tử, có bao nhiêu vị Phật đã xuất hiện? Nhiều như những hạt cát ở sông Ganga. Tại sao bạn lại bỏ lỡ tất cả? Bởi vì thân kiến đã đưa bạn xuống những cõi đau khổ trong suốt vòng luân hồi. Sẽ có nhiều vị Phật trong tương lai, nhưng nếu bạn không xua tan tà kiến, bạn sẽ tiếp tục bỏ lỡ cơ hội.

Đừng vội dập tắt ngọn lửa trên đầu bạn, ngôi nhà của bạn có thể bị cháy, quần áo của bạn có thể bị cháy, nhưng hãy xua tan thân kiến trước. Bởi vì vipassanā chưa bao giờ được thực hành trong suốt vòng luân hồi nên bạn đã nhiều lần sống trong các cõi đau khổ, điều này là chắc chắn, vì đã được Đức Phật nói trong Kinh Tập (sutta nipāta). Nếu bạn không bắt đầu thực hành vipassanā ngay bây giờ thì không còn gì tệ hơn điều này.

Vì có thân kiến mà 62 tà kiến khác còn ở đó, vì thân kiến này mà bạn đã bỏ lỡ vô số các vị Phật, nhiều như những hạt cát trên sông Ganga, cũng như đã bỏ lỡ lời dạy của những vị ấy. Bạn đã sống với đau khổ trong suốt thời gian qua. Trong kiếp sống này, bạn phải biết sự sinh khởi của các uẩn, biết sự sinh khởi của pháp Duyên Sinh, biết bản chất của các uẩn là sinh và diệt. Nếu không biết về các uẩn duyên sinh thì tà kiến về ‘con người’ hay ‘chúng sinh’ sẽ sinh khởi.

Ví dụ, nhĩ thức vừa sinh khởi, là khởi đầu của duyên sinh. Bạn phải biết đây là pháp Duyên Sinh, paṭiccasamuppāda. Bạn phải biết sự khởi đầu này, biết đó là sự sinh khởi của pháp, khi đó mới không bị coi là ‘tôi’ hay ‘người khác’. Quan sát ngay từ đầu bằng trí tuệ, sau đó ‘tôi’ và ‘người khác’ sẽ bị xua tan. Đó chỉ là pháp sinh khởi và pháp diệt đi, là pháp vô thường, không có ‘tôi’, không có ‘của tôi’.

Trong giáo pháp của Đức Phật, không có gì quan trọng hơn thực hành vipassanā, thực hành vipassanā nghĩa là xua tan tà kiến. Thay vì ăn hai bữa một ngày thì ăn một lần trong ngày là đủ, nếu mái nhà dột thì bỏ đi, không vấn đề gì, chúng sẽ không gửi bạn đến các cõi khổ, bị ướt có thể là điều tồi tệ nhất xảy ra. Nhưng nếu tà kiến không được xua tan, kết quả là tái sinh trong các cõi khổ.

Đừng nghĩ đây là vấn đề nhỏ, thân kiến là gốc rễ của tất cả các hành động bất thiện. Bạn nói rằng bạn đang kiếm tiền “cho bản thân tôi”, “cho con trai và con gái của tôi”. “Bản thân tôi” là tà kiến, “con trai và con gái của tôi” là tham ái. Những niềm tin này dựa trên thân kiến, do sức mạnh của thân kiến, bạn cố gắng kiếm tiền cho đến khi kiệt sức. Bạn không có lấy một ngày nghỉ ngơi, kiệt sức và già đi, bệnh tật đang bắt đầu hành hạ bạn. Mỗi ngày trôi qua bạn luôn phải sống trong nỗ lực kiếm tiền, hôm nay, ngày mai và ngày kia. Bởi vì có ‘tôi’ bạn đang cố gắng biến mọi thứ thành ‘của tôi’. Nếu cái ‘tôi’ tà kiến không được loại bỏ, việc cố gắng đạt được thứ này thứ kia sẽ làm cho ‘của tôi’ tiếp tục.

Hàng ngày bạn ngồi ở cửa hàng của mình và lần tràng hạt cầu nguyện, với mong muốn có nhiều khách đến mua hàng. Bạn làm điều này với sự thèm muốn (taṇhā), bạn đang cố gắng làm cho sự giàu có trở thành ‘của tôi’. Ngay cả khi bạn quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, rồi bạn tin rằng công việc làm ăn kinh doanh tốt đẹp là nhờ quy y Tam bảo. Thân kiến đang lén lút đi vào, bạn đang quy y Tam bảo với hy vọng doanh nghiệp của bạn sẽ thành công.

Khi tà kiến chưa được xua tan, trí tuệ sẽ không ở đó. Do thiếu hiểu biết (avijjā) nên các hành động có điều kiện (saṅkhāra) sinh khởi, avijjā paccaya saṅkhāra, ngay cả những hành động thiện cũng sinh khởi từ sự thiếu hiểu biết. Sau đó saṅkhāra paccaya viññāna, phụ thuộc vào các hành động có điều kiện (saṅkhāra) nên thức (viññāna) sinh khởi, và sẽ có tái sinh (jāti). Kết quả là bạn tiếp tục rơi vào sự tái sinh.

Khi hùn phước xây dựng nhà vệ sinh cho các tu viện, hay cho các nơi công cộng, bạn nói hướng này là may mắn đối với tôi. Bạn đang chọn hướng may mắn. Khi tặng một nhà vệ sinh, bạn nói đây là hướng không may mắn, sẽ gây nguy hiểm cho cuộc sống của tôi. Mặc dù đây là những phước thiện, nhưng chúng là các hành động có điều kiện, và bạn tiếp tục rơi vào kẽ hở của sự tái sinh. Đây là công việc của tà kiến, nếu tà kiến chưa được xua tan, thực hiện bất kỳ công việc gì đều dẫn đến một kết quả xấu xí.

Bạn muốn tặng một nhà vệ sinh, bố thí nước uống, hoặc trang trí một cây cột gần bảo tháp, thậm chí ngay cả khi đang dựng cột cho bảo tháp, bạn đang cố gắng chọn một hướng tốt. Bạn đang trở thành kẻ thù của giáo pháp vì vậy bạn nên lo lắng cho điều này. Nếu thân kiến chưa được xua tan, bất cứ điều gì được thực hiện, tất cả đều bị trộn lẫn với bất thiện. Các đốm đen lẫn trong một khung ảnh màu trắng không thể là một khung ảnh đẹp. Kết quả bạn nhận được không thể trong sạch và thanh tịnh, bởi vì phước thiện đã bị trộn lẫn với thân kiến. Sau đó bạn phàn nàn rằng kết quả không được như ý.

Bất cứ nơi nào tồn tại thân kiến thì không có cách nào đạt được Niết Bàn. Tại sao không thể đạt được Niết Bàn? Có phải vì bố thí (dāna) không? Bố thí có thể đưa bạn đến Niết Bàn nhưng thân kiến kéo bạn xuống. Giới (sīla) cũng có thể gửi bạn đến Niết Bàn nhưng thân kiến kéo bạn xuống. Bạn nói “tôi sẽ giữ các giới luật để sống lâu”. Muốn sống lâu thì chỉ cần sống lâu, không cần đến Niết Bàn. Không thể giác ngộ Niết Bàn chỉ bằng cách tuân thủ các giới luật.

Ai muốn sống lâu? Thân kiến trả lời tôi muốn sống lâu. Bất cứ điều gì bạn làm đều được trộn lẫn với tà kiến, khi bạn chuẩn bị đi lên thì nó kéo bạn đi xuống. Tôi không nói bố thí và giữ giới không đưa bạn tới đích, nhưng nếu có thân kiến ở đó bạn sẽ không bao giờ đến được đó. Chỉ khi thân kiến được xua tan, bất cứ điều gì bạn làm, bố thí, giữ giới, làm phước thiện sẽ được điều hành bởi trí tuệ, tà kiến được loại bỏ và chánh kiến sinh khởi.

Việc cần phải làm gấp là gì? Đó là thực hành vipassanā, sau đó mọi thứ sẽ dễ dàng. Thực hành vipassanā để làm gì? Để xua tan thân kiến. Khởi đầu của con đường dẫn đến Niết Bàn là vipassanā, nếu bạn không bắt đầu từ đây thì bạn sẽ ra đi. Chính Đức Phật đã nói với chúng ta điều này trong kinh Tương Ưng “katamo ca bhikkhave asankhatagami maggo”, giáo pháp chân chính chắc chắn sẽ đưa bạn đi trên con đường đến Niết Bàn. Câu trả lời là vipassanā, đây là con đường độc nhất dẫn đến Niết Bàn bởi vì nó xua tan thân kiến.

Bạn đã hiểu, điều quan trọng bây giờ là quan sát các uẩn như thế nào? Thực hành phải được thực hiện và không lùi bước. Bạn không cần phải tìm kiếm ở nơi khác, mở mắt và nhãn thức sinh khởi, quan sát sinh và diệt của nhãn thức. Lắng nghe, nhĩ thức sinh và diệt, biết điều này đang xua tan thân kiến. Ở mũi, bạn biết có mùi, quan sát sinh và diệt của tỷ thức. Ngứa ngáy trên cơ thể, quan sát sự sinh và diệt của ngứa. Khi có làn gió mát thổi vào cơ thể và cảm giác dễ chịu sinh khởi, hãy quan sát sinh và diệt của cảm giác dễ chịu tại nơi đó. Dễ chịu hay khó chịu, chỉ cần quan sát sự sinh khởi và diệt đi thì tà kiến được xua tan. Biết sinh khởi thì đoạn kiến bị xua tan, biết diệt đi thì thường kiến bị xua tan và rồi thân kiến cũng được xua tan.

Chúng ta đang nói về con đường dẫn đến Niết Bàn, con đường đó là gì? Đó là con đường minh sát, vipassanā. Tại sao minh sát tuệ dẫn đến Niết Bàn? Bởi vì nó xua tan thân kiến.

Nếu tà kiến có thể bị xua tan thì chánh kiến phát sinh tự động, và bạn không cần phải ao ước nó phát sinh. Chánh kiến biết rằng chỉ có sinh khởi và diệt đi, không có ‘tôi’ hay ‘người khác’, không có ‘con người’ hay ‘chúng sinh’. Khi chánh kiến xuất hiện bạn không cần phải mong muốn đạt được Niết Bàn. Vipassanā là con đường đích thực dẫn đến Niết Bàn. Do đó chánh kiến về vipassanā rất quan trọng.

Bạn muốn biết thực hành chánh kiến về vipassanā này trong bao lâu? Liên tục quan sát sinh và diệt của các uẩn từ lần này qua lần khác, cho đến khi bạn cảm thấy nhàm chán đối với các uẩn. Hãy quan sát sinh diệt nhiều hơn nữa để nhàm chán nhiều hơn, đây sẽ là nơi kết thúc của trí tuệ minh sát.

Thấy sinh diệt rồi chán ghét nó, bạn đi đến đoạn cuối của chánh kiến về vipassanā. Sau đó đến chánh kiến về đạo, magga sammādiṭṭhi, là chánh kiến về con đường dẫn đến diệt khổ. Magga sammādiṭṭhi là Bát Thánh Đạo và chánh kiến là lãnh đạo của tám chi đạo. Khác nhau giữa chánh kiến về vipassanā và chánh kiến về đạo là như thế nào? Vipassanā sammādiṭṭhi quan sát sự sinh diệt của các uẩn và có tiềm năng xua tan thân kiến. Sức mạnh của vipassanā sammādiṭṭhi kết thúc ở đó. Nhìn thấy sự sinh diệt của các uẩn và tà kiến được xua tan, đây là chức năng của vipassanā sammādiṭṭhi, đừng cho rằng đây là chánh kiến bình thường.

Chức năng của chánh kiến về đạo là gì? Nó cũng là chánh kiến (sammādiṭṭhi), sammā là đúng, diṭṭhi là nhìn nhận, xem xét, sammādiṭṭhi nghĩa là nhìn nhận đúng. Người này thấy như thế nào, người kia thấy ra sao? Nhưng với magga sammādiṭṭhi, sự sinh diệt của các uẩn không còn được nhìn thấy nữa và Niết Bàn xuất hiện, đây là chức năng của magga sammādiṭṭhi.

Sau khi chánh kiến về vipassanā kết thúc, chánh kiến về Đạo sinh khởi và được nắm giữ bởi trí tuệ. Các pháp sinh khởi và diệt đi giống như bánh xe quay tròn bị cắt đứt. Lúc này không còn thấy sinh diệt nữa, chúng bị bỏ lại và magga sammādiṭṭhi lấy Niết Bàn làm đối tượng.

Trí tuệ nhìn thấy Niết Bàn và không thấy sự sinh diệt của các uẩn là chánh kiến về Đạo. Magga sammādiṭṭhi không thấy sự sinh diệt. Nếu  còn thấy sinh diệt thì còn ở trong chánh kiến về vipassanā, thấy sinh diệt thì sẽ hướng sự chú ý đến các pháp có điều kiện. Niết Bàn là đối tượng (ārammaṇa paccayena) của Đạo tuệ, Niết Bàn có liên quan đến magga, magga nhìn thấy nibbāna và thấy sự diệt khổ. Đây là chánh kiến về Đạo dẫn đến diệt khổ, là trí tuệ nhìn thấy sự kết thúc của sinh diệt.

Kết thúc của sinh diệt là Niết Bàn, trí tuệ thấy được sự chấm dứt của sinh diệt magga sammādiṭṭhi, là con đường dẫn đến chấm dứt sự đau khổ. Không cần phải mong muốn đạt được Đạo tuệ, chỉ cần siêng năng thực hành vipassanā sammādiṭṭhi thì magga sammādiṭṭhi sẽ tự động đến. Chánh kiến về vipassanā là tiền thân của Đạo và Quả, chỉ có chánh kiến về vipassanā là quan trọng, những điều khác không quan trọng. Chỉ cần tiếp tục thực hành vipassanā. Bất cứ pháp nào sinh khởi bên trong, bất cứ tâm nào sinh khởi, chỉ cần liên tục quan sát về sự sinh và diệt của chúng. Vipassanā sammādiṭṭhi chỉ thấy sinh và diệt, đây là công việc duy nhất của nó. Khi quan sát đủ nhiều tà kiến sẽ tự động bị xua tan.

Chánh kiến về Đạo không thấy sinh khởi, không thấy đoạn diệt, chỉ thấy sự diệt vong của vòng tròn duyên sinh (vaṭṭa). Khi quan sát về sinh diệt, đến một thời điểm sinh diệt không còn được thấy nữa, bánh xe vipāka vaṭṭa đang quay vòng cũng biến mất. Vipāka vaṭṭa là các hiện tượng vật chất (rūpadhamma) và hiện tượng tinh thần (nāmadhamma) sinh khởi và diệt đi. Sinh diệt lặp đi lặp lại nên vipāka vaṭṭa lặp đi lặp lại. Khi magga sammādiṭṭhi sắp xuất hiện, bánh xe vipāka vaṭṭa này ngừng quay, và sinh diệt không còn được thấy nữa.

Đừng nghĩ Niết Bàn xuất hiện như một quả cầu sáng rực rỡ, đó chỉ là sự chấm dứt của sinh và diệt. Biết bản chất của sự chấm dứt là Đạo tuệ. Vipassanā sammādiṭṭhi chỉ thấy sinh và diệt của các uẩn, còn magga sammādiṭṭhi không thấy sinh và diệt nữa, thay vào đó là thấy Niết Bàn.

Để cho bạn hình dung rõ hơn, tôi sẽ đề cập đến kinh Mi Tiên Vấn Đáp (milindapañha). Mặc dù chánh kiến về vipassanā và chánh kiến về Đạo đều là chánh kiến nhưng chúng rất khác nhau. Vipassanā thấy đúng là một chuyện, magga sammādiṭṭhi thấy đúng là một chuyện khác. Vua Milinda là một ông vua rất thông thái, ngay cả các vị A La Hán cũng phải bỏ chạy vì không thể trả lời được các câu hỏi của vị  ấy.

Một ngày nọ ngài thánh tăng Nāgasena đáng kính đến, khi đó họ đã hoàn thành ước nguyện tương ứng của họ trong vòng sinh tử. Vua Milinda hỏi ngài Nāgasena “Hãy cho tôi biết Niết Bàn được nhìn thấy như thế nào? Thưa ngài Nāgasena đáng kính, tôi tin rằng ngài là một vị thánh tăng A La Hán và đã thấy Niết Bàn. Xin hãy cho tôi biết cách nhìn thấy Niết Bàn cùng với phương pháp tu tập”. Nếu ngài Thánh tăng không đưa ra câu trả lời, vua Milinda sẽ nói rằng không có Niết Bàn. Câu hỏi này có liên quan đến chánh kiến, chánh kiến về vipassanā và chánh kiến về Đạo.

Vua Milinda: Niết Bàn có tồn tại không?

Ngài Nāgasena: Có

Vua Milinda: Niết Bàn có trong quá khứ, hiện tại hay tương lai?

Ngài Nāgasena: Không có trong cả ba.

Vua Milinda: Nếu Niết Bàn không có trong bất kỳ thời nào thì nó không tồn tại.

Ngài Nāgasena: Nếu Niết Bàn ở trong quá khứ thì chỉ những người ở trong quá khứ mới có thể kinh nghiệm nó. Nếu ở trong tương lai thì chỉ những người trong tương lai mới có thể kinh nghiệm Niết Bàn và những người hiện tại sẽ chết trong vô vọng. Niết Bàn là kala vimutti, pháp vượt thời gian, không có thời gian, không có quá khứ, hiện tại hay tương lai, nhưng Niết Bàn tồn tại.

Lấy một ví dụ, chà xát hai que tre để có được lửa. Vậy ngọn lửa từ quá khứ, hiện tại hay tương lai? Trong que tre chỉ có tre, không có lửa. Trong tre không bao giờ có lửa, nhưng nỗ lực chà xát đã tạo ra lửa. Hai que tre được chà xát trong thời gian dài sẽ tạo ra lửa.

Cũng như vậy, thực hành vipassanā thì Niết Bàn sẽ xuất hiện, nhưng nó không có ở trong ba thời kỳ. Không thực hành, Niết Bàn sẽ không đến. Nếu bạn chỉ đi dâng hoa và nước cho tượng Phật rồi cầu nguyện “mong cho tôi đạt được Niết Bàn”, bạn sẽ không đạt được điều đó.

Que tre có tự động tạo ra lửa không, hay bạn phải chà xát chúng với nhau? Đặt những que tre xuống đất thì liệu lửa có bùng lên? Chỉ khi bạn chà xát chúng cho đến khi  đủ các điều kiện để chúng bốc cháy thì bạn mới có lửa. Tương tự như vậy, thực hành vipassanā sammādiṭṭhi và quan sát các hiện tượng sinh diệt cho đến khi sinh diệt chấm dứt thì Niết Bàn xuất hiện.

Chà xát hai que tre tạm thời chưa có lửa, lửa xuất hiện vì công sức của người chà tre. Đây là ngọn lửa không đến từ ba thời kỳ. Đối với vua của cõi Trời, phương tiện di chuyển của vị ấy không tự động xuất hiện. Vị vua ấy, mặc áo bào trắng, giữ gìn năm giới và phóng hào quang hướng đến tất cả, rồi cỗ xe xuất hiện trên bầu trời. Chỉ khi nhà vua thực hành các hạnh công đức thì cỗ xe mới xuất hiện.

Tương tự như vậy, thực hành pháp giúp bạn đến được Niết Bàn. Chỉ với mong ước Niết Bàn thì sẽ không có kết quả, chỉ khiến người khác mỉm cười. Hãy coi đó là điều đáng xấu hổ. Trước đây bạn không biết, bạn nghĩ rằng Niết Bàn là thứ có thể ước ao được. Bây giờ bạn biết rằng bạn phải thực hành.

Niết Bàn có tồn tại hay không? Nó ở đó. Với vipassanā sammādiṭṭhi, hãy luyện tập chăm chỉ và tinh tấn. Nỗ lực quan sát không ngừng nghỉ sự sinh diệt của các uẩn, đầu tiên quan sát về sự sinh diệt, sau đó trí tuệ hướng đến sự chấm dứt của sinh diệt. Lúc đầu là chánh kiến về vipassanā, sau đó được phát triển và hướng đến kết thúc sinh diệt, cuối cùng không còn sinh khởi, không còn đoạn diệt.

Từ sinh diệt hướng đến không sinh diệt, đây là sự giác ngộ Niết Bàn. Bạn phải nhớ rằng không có sinh diệt thì không có khổ đau. Diệt đế là Niết Bàn, Niết Bàn là một thị trấn, một thành phố hay là sự chấm dứt của sinh diệt? Biết sự chấm dứt của sinh diệt là Đạo tuệ, bạn phải thực hành để trí tuệ vipassanā phát triển lên tầm cao hơn.

Không cần phải suy đoán bạn đã đạt đến giai đoạn nào, điều này không giống như leo cầu thang. Khi bạn leo cầu thang, bạn nói rằng bạn đã đến bước thứ bảy hoặc thứ mười sáu. Nhưng đối với tuệ minh sát, bạn không thể phân biệt được chúng. Các tuệ minh sát được đề cập tới trong Vô Ngại Giải Đạo (paṭisambhidā) được ngài Sariputta miêu tả bằng bốn tuệ phân tích của ngài. Khi tuệ minh sát được phát triển đầy đủ, nó sẽ đột ngột chuyển hướng về Đạo tuệ, như ngài Nāgasena nói. Đối tượng của trí tuệ minh sát là sinh diệt, đối tượng của Đạo tuệ là sự biến mất của sinh diệt. Trong khi quan sát về sinh diệt, trí tuệ hướng đến nơi không có sinh diệt. Đây là tuệ minh sát tiến đến Đạo tuệ, đây là câu trả lời do ngài Nāgasena miêu tả cho đức vua Millinda.

Sư Chân Thiện dịch

Pháp thoại với U-Pe-Win

U Pe Win: Thưa ngài, con là một tín đồ của đức tin khác. Con đã đặt câu hỏi về những điều con nghi ngờ tới nhiều người từ các tôn giáo khác nhau, nhưng chưa ai đưa ra câu trả lời đủ để làm con hài lòng. Từ những gì được nghe, con biết rằng Phật giáo dạy về giới đức. Khi con đến phương Tây, con đã thảo luận về tôn giáo, chính trị, kinh tế với giới tinh hoa đến từ những nước phát triển. Theo đức tin của họ, không bao giờ có thể đạt được thành tựu trọn vẹn khi con người thực hành, Niết Bàn không thể đạt được.

Đối với họ, niềm tin là chính. Chỉ có niềm tin vào Đức Chúa Trời của họ thì mới được cứu rỗi và Thiên Đàng sẽ đạt được. Điều con muốn hỏi ngài là liệu con người có thể đạt được Niết Bàn thông qua thực hành không, và Thiên Đàng có thể đạt được bằng cách thức như đã ghi trong Kinh Thánh không? Con người có thể thực hành tới mức độ nào? Thực hành được là rất tốt, nhưng ở trên đời tâm bất thiện chiếm ưu thế. Xin ngài hãy giải thích để con có thể hiểu được.

Sayadaw: Tôi sẽ giải thích, hãy lắng nghe. Thực tế mà nói, có đức tin thì mới tin vào người khác và có niềm tin vào chính mình. Khi nói ‘người khác’, đó không ai khác chính là ‘Chúa’ mà mọi người đều tin tưởng hoặc tôn kính, cũng như các nhà sư đang được tôn kính tại các ngôi làng. Vì vậy niềm tin này kết thúc ở nơi người khác. Nếu bạn nói “Thượng đế vĩnh cửu”, thì điều này kết thúc bằng “Thượng đế vĩnh cửu”. Bởi vì bạn có đức tin nơi Ngài, dù tốt hay xấu, đều kết thúc ở Ngài, sự khôn ngoan của chính bạn không có ở đó. Chúng kết thúc bằng những gì đã được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Sẽ tốt hơn nếu bạn thực sự biết điều đó và nói ra điều đó.

Nếu anh ta không biết rõ và anh ta đang nói từ trí tưởng tượng, thì trí tuệ của bạn sẽ kết thúc ở miệng của anh ta. Trí tuệ của bạn không vượt quá những gì anh ta nói. Con đường của bạn kết thúc với những kiến thức ít ỏi mà anh ta có. Thậm chí nếu bạn không biết những gì anh ta biết, thì cuối cùng bạn biết ít hơn anh ta.

Đức Phật không thích tin vào người khác. Chỉ với niềm tin thôi là chưa đủ, hãy lưu ý rằng niềm tin kết thúc ở miệng của người khác. Nó không được phân tích xem đây là miệng tốt hay miệng xấu. Không phân tích có nghĩa là bạn là người không khôn ngoan, thiếu hiểu biết.  

U Pe Win: Thưa ngài, từ những gì con biết, Đức Chúa Trời của họ nói: “Hãy hoàn toàn tin tưởng vào tôi. Nếu bạn hoàn toàn tin tưởng vào tôi, thì tôi sẽ cứu bạn.”

Sayadaw: Điều này là thông qua trí tuệ của chính bạn hay từ việc nghe người khác nói?

U Pe Win: Nghe từ người khác nói, thưa ngài.

Sayadaw: Những suy nghĩ của riêng bạn có thông qua trí tuệ của chính bạn không?

U Pe Win: Không, thưa ngài.

Sayadaw: Do đó bạn kết thúc ở cái miệng của người khác.

U Pe Win: Thưa ngài, vậy thì làm thế nào để biết là đúng?

Sayadaw: Với kiến thức của riêng bạn, hãy nhìn vào các uẩn của chính bạn. Sau đó hãy tự quyết định điều gì đang xảy ra với mình. Chỉ khi bạn tự mình biết và tin vào điều đó thì sự thật mới đạt được. Tin những gì người khác nói, bạn sẽ không đạt được sự thật. Hãy để tôi hỏi bạn, nếu bạn muốn làm điều gì đó, tin những gì người khác nói và tin sau khi bạn đã tự mình kiểm tra, bạn sẽ tin vào điều nào?

U Pe Win: Con sẽ tin tưởng vào những gì đã tự mình kiểm tra, thưa ngài.

Sayadaw: Sau đó, nảy sinh một vấn đề. Nếu thầy của bạn không hướng dẫn bạn, bạn sẽ làm gì? Có hai loại giáo viên, giáo viên dạy đúng và giáo viên dạy sai. Hãy tự mình phân tích điều mà giáo viên của bạn đã dạy. Cho dù giáo viên của bạn dạy điều gì đó đúng hay sai, hãy tìm hiểu và kiểm tra điều đó với thân tâm của bạn. Chấp nhận những gì đến cùng với thân tâm như nó đang là. Lời dạy ở đó và bạn phải kiểm tra chính mình. Chỉ khi nó cân bằng, hãy chấp nhận điều đó. Bạn có hiểu không?

U Pe Win: Thưa ngài, con hiểu. Họ cho con ví dụ, đối với người Miến Điện, đó là Niết Bàn, trong Thiên chúa giáo đó là Thiên Đường. Cũng như bờ biển bên này và bờ biển bên kia. Bên này là thế gian, bên kia là xuất thế gian. Có một người cố gắng bơi để vượt qua biển. Chúng con là những người đang cố gắng bơi qua biển, những người giữ giới là những người cố gắng bơi qua biển. Họ nói rằng người đang cố gắng bơi qua biển sẽ không thể sang đến bờ bên kia nếu không có sự giúp đỡ. Đức Chúa Trời của họ nói rằng tin Ngài giống như đang ở trên một chiếc bè và chắc chắn sẽ đưa họ đến bờ bên kia. Nếu tự mình thực hành theo Phật Giáo, và bơi qua biển, không có nghĩa là sẽ thành công.

Sayadaw: Trong tai của chúng ta, của bạn và của tôi, điều này có thể đúng. Bạn nhận lấy chiếc bè mà Ngài có thể ban cho bạn. Bạn có thể cưỡi bè của Ngài chỉ với đức tin. Bạn hỏi họ sử dụng cái gì, và họ trả lời rằng sử dụng cái bè siêu năng lực của Ngài. Với chiếc bè đến từ siêu năng lực này, bạn sẽ đến được bờ bên kia.

U Pe Win: Đó là bởi vì họ tin vào sự sáng tạo, thưa ngài.

Sayadaw: Nếu Ngài có thể tạo ra con người, tại sao Ngài không thể giúp tất cả con người lên Thiên đàng?

U Pe Win: Đức Chúa Trời tạo ra con người, và nói rằng nếu chúng ta tin Ngài, thì chúng ta sẽ rất dễ dàng để lên được Thiên đàng. Họ nói rằng trong Phật Giáo không đề cập đến việc con người được đưa đến bờ bên kia bởi Đức Phật. Nếu phải tự mình luyện tập thì làm sao có thể bơi qua biển cả bao la. Vì vậy họ cho rằng đức tin của họ rất đáng tin cậy.

Sayadaw: Được rồi, để tôn giáo và đức tin của họ sang một bên, chúng ta sẽ kiểm tra chúng. Tôi giả sử rằng nếu có đức tin nơi Ngài, thì Ngài có thể cứu chúng ta khỏi mọi sự nhưng Ngài không thể cứu những người không có đức tin nơi Ngài. Ngài không thể làm gì đối với những người không có đức tin nơi Ngài, nghĩa là Ngài sẽ bỏ qua họ? Sau đó, nếu Ngài bỏ qua những người này, thì Ngài có lòng từ bi thật sự với tất cả mọi người không?

U Pe Win: Thưa ngài, con đã hỏi họ. Họ nói, chất độc dù được uống bởi những người biết nó và những người không biết nó đều gây ra cái chết. Những người không có niềm tin giống như những người đang uống thuốc độc, nên sẽ không được cứu. Theo quan điểm của họ, cho dù họ có thể phạm tội như thế nào, thì cũng giống như cha mẹ luôn tha thứ cho con cái. Làm sao Đức Chúa Trời tạo ra họ lại không tha thứ cho họ? Đức Chúa Trời tha thứ cho tội nhân nếu tội nhân ăn năn tội lỗi của mình một cách đúng đắn.

Sayadaw: Chúng ta hãy làm sáng tỏ quan điểm này. Điều này có nghĩa là nếu gần chết một người nhớ lại các tội lỗi, thì tội lỗi sẽ được tha thứ và có quả báo tốt?

U Pe Win: Vâng thưa ngài.

Sayadaw: Trong đức tin của chúng tôi, khi một người gần đến cái chết, dù có tin Đức Phật hay không, anh ta đều nhìn thấy con đường mình sắp đi. Người sắp đoạ địa ngục nhìn thấy lửa địa ngục, người trở thành ngạ quỷ nhìn thấy khu rừng, đồi núi, vách đá. Người này không thể thay đổi những hình ảnh đó bằng bất cứ cách nào. Không ai có thể cứu người này, anh ta đang kiệt sức. Trước khi chết anh ta nhìn thấy những thứ này, nếu bạn không tin hãy để ý những người sắp chết. Nếu một người đã làm điều ác trong cuộc đời của mình, lúc sắp chết nước mắt sẽ chảy ra trên khuân mặt người đó. Vặn đi xoay lại, cho dù không thể chịu nổi nhưng anh ta không thể thay đổi được. Những điều anh ta đã làm đã sai, anh ta chắc chắn sẽ phải đi con đường đó. Giờ thì anh ta đã biết con đường mình phải đi nhưng lúc này không còn ai cứu được anh ta nữa. Anh ta muốn để lại những lời nhắn nhưng không còn thời gian để nói, đây là những gì Đức Phật đã dạy chúng tôi.

Tôi có thể dẫn chứng từ nhiều bài kinh. Một người có cuộc sống hạnh phúc khi gần chết sẽ thấy những dấu hiệu hạnh phúc. Những người rơi xuống các cõi khổ sẽ nhìn thấy các dấu hiệu đáng sợ. Tôi sẽ giải thích tại sao người này không thể nhớ bất cứ ai vào thời điểm này. Đó là do các tâm cận tử. Sau tâm tử, thức tái sinh sinh khởi trong kiếp sống mới. Tại thời điểm đó thậm chí Đức Phật cũng không thể ra tay cứu giúp.

Tâm lúc hấp hối sẽ nhìn thấy con đường sắp đi. Nếu những việc tốt đã được thực hiện trong cuộc sống, tâm sẽ nhìn thấy con đường tốt sắp đi, nếu những việc ác đã được thực hiện, tâm sẽ thấy con đường đáng sợ sắp đến. Sau khi nhìn thấy những thứ này, cái chết sẽ đến. Đây có phải là lúc mà người ta có thể cầu xin sự tha thứ không? Không phải lúc. Như vậy theo quan điểm của họ, cho rằng sau khi làm các việc ác ở đời, và ăn năn ngay trước khi chết, thì vẫn có thể được cứu rỗi. Hãy suy nghĩ về điều này một cách cẩn thận, liệu có khả năng thành công không?

Sau khi nhìn thấy năm tâm đổng lực khi hấp hối, người làm điều tốt sẽ được tái sinh ở cảnh giới tốt. Có một loại niềm tin, tin những gì người khác nói. Có một loại niềm tin khác, tin tưởng sau khi sau khi đã tự mình kiểm tra điều đó. Cái nào nên được tin tưởng hơn?

U Pe Win: Điều đã được thử nghiệm rồi mới tin là đúng, thưa ngài.

Sayadaw: Đúng, Đức Phật chỉ hướng dẫn điều này, Ngài không phải là một vị cứu tinh. Ngài là thầy thuốc hướng dẫn chúng ta, nếu bạn uống thuốc mà tôi cho bạn, bạn sẽ khỏi bệnh. Bạn không thể được chữa khỏi chỉ bằng cách thốt lên “hãy chữa khỏi bệnh”. Đây là sự khác biệt lớn. Đức Chúa Trời là người chữa bệnh bằng đức tin, còn Đức Phật là một thầy thuốc. Tôi sẽ cho bạn thuốc, hãy dùng nó và sẽ được chữa trị. Đối với những người bị chứng khó tiêu, thuốc tiêu hoá sẽ được dùng. Ai đang bị tiêu chảy thì dùng thuốc tiêu chảy. Chỉ nói rằng “hãy có cách chữa trị”, thì không có cách chữa trị nào cả. Đối với người bị rắn cắn, cần phải tiêm huyết thanh ngay, nếu chỉ nói “được chữa khỏi” sẽ không có ích gì.

Họ nói họ sẽ đến Thiên đàng, chúng tôi cũng phải nói rằng chúng tôi sẽ đạt được Niết Bàn. Họ được đưa đến Thiên đàng trên một chiếc bè do Đức Chúa Trời vĩnh cửu làm nên. Đối với chúng tôi không giống như vậy. Chúng tôi sẽ phải tự làm chiếc bè, và phải băng qua đại dương bằng chiếc bè do chính chúng tôi làm ra. Tuổi già, bệnh tật, cái chết có thể tránh được hay không?

U Pe Win: Thưa ngài, không thể tránh khỏi.

Sayadaw: Bây giờ chúng ta đang ở trên con đường mà không thể tránh khỏi, vậy thì có con đường khác nào  ngoài con đường này không? Nếu có một con đường già, bệnh, chết thì phải có một con đường không già, không bệnh, không chết. Có bệnh thì phải có thuốc chữa. Đức Phật đã chỉ cho chúng ta hai con đường, ngoài con đường già, bệnh, chết còn có một con đường khác không có già, không có bệnh và không có cái chết.

Các uẩn này thường xuyên bị giày vò bởi sự già nua, ốm yếu và cái chết. Tuy nhiên những ai mong muốn sau cuộc sống này có một cuộc sống khác mang lại hạnh phúc hơn, như những người đàn ông giàu có hay những vị thần sức mạnh, thì họ đang đi trên con đường mà ở đó có sự già, bệnh và cái chết tồn tại. Những ai không dính mắc vào các uẩn này sẽ không đi theo con đường mà ở đó có sự già, bệnh tật, và cái chết tồn tại. Dính mắc với các uẩn này, bạn sẽ thích nó nếu bạn có, và mong muốn trong kiếp sau các uẩn sẽ tốt hơn. Nếu vậy, các uẩn trong kiếp sau vẫn sẽ là năm uẩn. Những gì bạn có bây giờ cũng là các uẩn, tất cả các uẩn đều là già, bệnh và chết. Các uẩn là con đường của lão hoá, bệnh tật và cái chết, không có các uẩn là con đường không có già, bệnh và chết. Có hai con đường, bạn chọn con đường nào?

U Pe Win: Thưa ngài, con chọn con đường không có già, bệnh và chết.

Sayadaw: Tôi thích điều đó. Quyết định của bạn sẽ dẫn đến biết được Pháp giác ngộ trong đời sống này. Cho dù một người có thể giàu sang đến đâu trong cuộc sống này, nếu người đó không biết đường đi, thì các uẩn không trở nên ít đi. Sau đó người này sẽ bị già, bệnh và chết. Bây giờ bạn đến để không thích già, bệnh, chết, nhưng bạn vẫn đang già đi, bệnh tật và sẽ chết. Bạn phải sợ hãi. Bây giờ tôi biết bạn muốn đi con đường nào, dù cho bạn đang sống trong một ngôi biệt thự mạ vàng, nhưng nếu đó là con đường có sự già nua, bệnh tật, chết chóc thì bạn cũng không muốn.

Con đường của già nua, bệnh tật và cái chết là con đường của tà kiến (micchadiṭṭhi). Ngược lại là con đường không có già nua, không có bệnh tật, không có cái chết, là con đường của chánh kiến (sammādiṭṭhi). Con đường tà kiến sẽ dẫn đến già, bệnh và chết, con đường chánh kiến là con đường tự do khỏi những điều này.

Người nào dính mắc vào các uẩn này, khi chết sẽ ném xuống các uẩn này, nhưng sẽ phải chịu gánh nặng của các uẩn khác. Rồi anh ta tiếp tục gặp lại sự già nua, bệnh tật, chết chóc. Người nào không dính mắc vào các uẩn hiện tại sẽ không có các uẩn trong tương lai. Hãy hỏi tôi cách không dính mắc vào các uẩn hiện tại. Khi đó bạn sẽ không bị già nua, bệnh tật, chết chóc. Con đường không thoát khỏi già, bệnh, chết gắn liền với các uẩn hiện tại. Mong muốn về các uẩn tương lai tốt hơn các uẩn hiện tại, người như vậy có hai loại tham ái (taṇhā). Người nào có hai loại tham ái này sẽ bị già, bệnh, chết trong sự hiện hữu ở tương lai. Không dính mắc vào các uẩn hiện tại sẽ không dính mắc vào các uẩn tương lai. Người nào biết năm uẩn là già, bệnh, chết sẽ không bị già, bệnh, chết nữa.

Khi được hỏi ai tạo ra các uẩn già, bệnh, chết này, sẽ không có Thượng đế. Chúng được tạo ra bởi tham ái, bởi vì có tham ái nên có các uẩn già, bệnh và chết. Bây giờ thủ phạm đã được tìm thấy. Đó không phải là Thượng Đế vĩnh cửu, cũng không phải là Đức Phật tạo ra sự già nua, ốm yếu, chết chóc. Tham ái được gắn vào các uẩn và tạo ra chúng. Vậy con đường kết thúc ở miệng của người khác hay do chính bạn nhận ra? Bạn tin vào những gì người khác nói hay chính bạn nhận ra? Tự mình nhận ra là kiến thức paccakkha. Còn ham muốn về các uẩn thì còn tạo ra già, bệnh, chết. Làm cho ham muốn của bạn không còn nữa sẽ dẫn đến tự do khỏi già, bệnh, chết. Vì vậy thoát khỏi ham muốn là quan trọng nhất. Bây giờ bạn đã hiểu điều này chưa?

U Pe Win: Thưa ngài con đã hiểu.

Sayadaw: Nếu bạn hiểu điều này, bạn đang bắt đầu hiểu sự thật (sacca), bạn phải nhớ rằng nguyên nhân của đau khổ (samudaya sacca) cần phải được thoát khỏi. Sự thật của samudaya sacca là ái (taṇhā), khi ái bị cắt đứt, công việc của bạn sẽ xong. Bây giờ bạn có tin rằng cắt bỏ sự thèm muốn sẽ giúp hoàn thành nhiệm vụ của bạn không? Đừng tin những gì Thượng Đế nói, đừng tin những gì Đức Phật nói. Hãy quyết định bằng chính mình, sau đó tin vào điều đó. Cái nào tồn tại lâu hơn, đau khổ do hận thù hay đau khổ do dính mắc?

U Pe Win: Thưa ngài, đau khổ do dính mắc tồn tại lâu hơn.

Sayadaw: Đúng vậy, khi sân hận, bạn bỏ đi, nhưng khi dính mắc bạn không thể cắt bỏ. Không thể cắt bỏ là do tham ái nằm phía sau nó. Không thoát khỏi tham ái, sẽ có các uẩn. Chỉ khi không dính mắc vào các uẩn thì bạn mới không mệt mỏi với các uẩn này. Bạn cho các uẩn này ăn vừa đủ để nó tiếp tục. Biết rằng các uẩn trong tương lai cũng sẽ dẫn đến già, bệnh, chết, liệu bạn còn mong muốn điều đó không?

U Pe Win: Thưa ngài, con sẽ không mong muốn chúng nữa.

Sayadaw: Không còn mong muốn thì bạn còn thực hiện những điều ước thông thường nữa không?

U Pe Win: Thưa ngài con sẽ không thực hiện những mong muốn thông thường.

Sayadaw: Không có mong muốn, bạn cần thực hành để đạt được điều đó. Bạn phải thực hành. Bạn bị lở loét và những người khác nói “hãy  chữa khỏi bệnh” sẽ không giúp bạn chữa khỏi. Bạn phải sử dụng đúng toa thuốc, rồi sẽ có thuốc chữa. Do đó phải dựa vào chính bản thân bạn. Thời Đức Phật có tỳ khưu Vakkali, người ngưỡng mộ Đức Phật đến nỗi không rời khỏi Đức Phật. Đức Phật nói với vị ấy rằng không được ở gần Ngài nữa vì làm như vậy sẽ không có kết quả. Đức Phật đuổi vị ấy đi và yêu cầu vị ấy phải tự mình thực hành.

U Pe Win: Thưa ngài, con có thể hỏi ngài một câu hỏi được không?

Sayadaw: Hãy hỏi đi.

U Pe Win: Con muốn biết liệu con có thể đạt được giải thoát thông qua thực hành không, thưa ngài?

Sayadaw: Để biết được điều này, bạn cần phải thực hành. Không thực hành, điều này không thể đạt được. Để được giải thoát, không chỉ thực hành một lần, mà bạn phải tập đi tập lại vô số lần. Bạn cứ tiếp tục như vậy cho đến khi bạn trở thành một chuyên gia. Hãy nghĩ về việc bạn lái xe ô tô. Nếu bạn không tập lái, không thực hiện đúng cách thì bạn không thể lái được xe ô tô. Nếu ai đó đã tập lái tốt, thì khi bắt đầu lái xe anh ta có thể lái được ngay lập tức. Chỉ khi nào chưa làm tốt bạn mới phải tập đi tập lại, nhưng khi công việc của bạn đã hoàn thành, bạn không cần phải luyện tập thêm. Khi đó, bạn có cần phải luyện tập thêm không?

U Pe Win: Thưa ngài, không.

Sayadaw: Trong số những người thực hành, người có trí tuệ sắc bén có thể nhận ra sự thật ngay khi thực hành chỉ một lần. Nhưng người không có trí tuệ sắc bén phải thực hành nhiều lần. Điều này tuỳ theo sức mạnh của trí tuệ. Tất cả những người thực hành đều không thể mong đợi điều tương tự.

Họ nói rằng thực hành là không thể, Niết Bàn không thể đạt được thông qua thực hành. Họ nói rằng họ có thể đến Thiên đường chỉ nhờ sự cứu rỗi. Hãy suy nghĩ về điều đó. Bạn đang dựa vào những gì người khác nói, nỗ lực của chính bạn có ở đó không? Bạn có cuộc sống thịnh vượng, bạn được tôn trọng. Sự thịnh vượng của bạn là do người khác trao cho bạn hay bạn đã phải làm việc để có được điều đó?

U Pe Win: Con thịnh vượng vì con đã làm việc cho điều đó.

Sayadaw: Bạn có tin vào sự cứu rỗi mà người khác nói với bạn không? Nếu Ngài có thể đến cứu bạn, Ngài sẽ giúp bạn thoát khỏi cảnh nghèo khổ. Ngài sẽ chữa khỏi bệnh cho bạn. Ngài sẽ cứu bạn thoát khỏi già, bệnh, chết. Khi đó mới có thể nói rằng Ngài cứu bạn. Nhưng liệu Ngài có thể ngăn chặn sự già nua, bệnh tật, cái chết trong bạn không, để không còn sự già, không còn bệnh tật và cái chết không đến với bạn nữa. Nếu không thì Ngài không có quyền năng để cứu người người khác.

U Pe Win: Nhưng thưa ngài, liệu con người có thể tuân theo phương pháp mà Đức Phật đã hướng dẫn không? Nếu con người không thể thực hành, thì nói về thực hành cũng chẳng lợi ích gì.

Sayadaw: Có hai cách thực hành, thực hành pháp thế gian và thực hành pháp siêu thế. Bạn đã học tập bao nhiêu năm để lấy được bằng cử nhân. Đối với người có trình độ dân trí cao, họ phải học tập trong khoảng mười bốn năm. Bạn đã học đi học lại để không quên kiến thức. Điều này xảy ra vì bạn nói “hãy để điều này xảy ra” hay bạn đạt được vì bạn đã làm việc nỗ lực cho điều đó? Chỉ khi bạn làm việc chăm chỉ, bạn mới sở hữu được những điều như vậy. Bạn học và làm cho công việc thế gian như thế nào thì bạn cũng phải thực hành giáo pháp giống như vậy.

U Pe Win: Thưa ngài, đây là điều con muốn biết. Con đã suy nghĩ khoảng một năm về việc thực hành. Con nghĩ rằng mình không bao giờ có thể đạt được với khả năng của chính mình. Học tập lấy được bằng cử nhân, nhưng nếu chúng ta thực hành, tại sao chúng ta lại không thể đạt được? Con muốn biết điều này rõ ràng.

Sayadaw: Tôi sẽ giải thích điều này theo một cách khác. Bạn lấy bằng cử nhân và bằng thạc sĩ, bạn làm việc với người nước ngoài, bạn hiểu ngôn ngữ của họ. Bạn không cần phải cố gắng nhiều hơn cho ngôn ngữ Miến Điện vì đây là ngôn ngữ của tổ tiên bạn. Khi mới sinh ra, trước tiên cha mẹ bạn sẽ dạy bạn rằng, đây là cha, đây là mẹ, ăn cơm trước, uống nước sau. Sau đó trở thành thói quen. Trong mọi công việc đều phải có sự luyện tập. Có một loại thực hành do cha mẹ dạy, có một loại thực hành khác do Đức Phật dạy. Người được cha mẹ dạy dỗ thì không thoát khỏi già, bệnh và chết, còn người được Đức Phật dạy thì tự do khỏi già, bệnh và chết. Vì vậy bạn phải thực hành theo cách để thoát khỏi những điều đó.

U Pe Win: Thưa ngài, điều con đang muốn nói là tất cả mọi người đều đang thực hành, nhưng Niết Bàn không thể đạt được. Cuối cùng thì nó vẫn nằm ngoài tầm với. Con đường thực sự ở đó, chúng con đều đi trên hành trình đó, nhưng không thể đến được điểm cuối cùng của hành trình. Đây là giả định của con, thưa ngài.

Sayadaw: Đừng tư duy theo cách này, nó không giống như vậy. Giữa Đức Phật hiện tại và Đức Phật kế tiếp, bề mặt trái đất sẽ dày thêm một do tuần (yojana). Nếu trái đất không bị phá huỷ, bề mặt trái đất sẽ tăng thêm 13 dặm. Nó không phải là rất cao? Một người muốn trở thành một vị Phật phải thực hành cho đến khi bề mặt trái đất tăng lên 13 dặm. Bạn không nghĩ đến việc trở thành một vị Phật và chỉ muốn thoát khỏi sự già, bệnh, chết thì nếu bạn bắt đầu thực hành vào buổi sáng, bạn thậm chí có thể đạt được giải thoát vào buổi tối. Tôi chỉ nói điều này một cách ngắn gọn. Đức Phật thực hành vì Ngài muốn cứu độ chúng sinh nên Ngài phải mất nhiều thời gian cho việc thực hành. Nhưng đối với chúng ta, thực hành chỉ để thoát khỏi đau khổ, do đó không mất nhiều thời gian.

U Pe Win: Vâng thưa ngài, việc cố gắng giải thoát cho chính mình sẽ dễ dàng hơn. Cần nhiều thời gian hơn để trở thành một vị Phật và hướng dẫn người khác tự cứu bản thân họ.

Sayadaw: Đúng vậy, điều này phụ thuộc vào mục đích. Đối với người đã có bằng cử nhân, lấy bằng thạc sĩ cần phải học thêm hai năm, để giúp cho người đó có vị trí cao trong xã hội. Đối với hạnh phúc của riêng bạn, bạn sẽ không mất nhiều thời gian, nhưng để hướng dẫn và giúp đỡ người khác, bạn sẽ mất nhiều thời gian hơn.

U Pe Win: Đây là điều quan trọng với con, thưa ngài. Mục đích của con không phải là cứu vớt những người khác.

Sayadaw: Bạn bắt đầu thực hành vào buổi chiều và có thể được giải thoát vào sáng hôm sau, sau đó bạn sẽ đi trên con đường không có già, bệnh, chết. Nhưng trước đó bạn phải bắt được thủ phạm và loại bỏ thủ phạm này. Nếu bạn dính mắc vào các uẩn hiện tại, hoặc bạn mong muốn cho các uẩn ở tương lai, thì tiến trình của các uẩn sẽ tiếp tục. Không mong muốn các uẩn trong hiện tại thì sẽ không mong muốn các uẩn trong tương lai. Có như vậy thì kiếp này mới xong nhiệm vụ.

Bây giờ bạn đã tìm ra thủ phạm, đó chính là tham ái. Bạn sẽ thoát khỏi thủ phạm này nhưng bạn không thể đột ngột xua đuổi chúng. Chúng sẽ bào chữa. Trước khi bạn tìm ra thủ phạm, điều này không hề dễ dàng. Bạn muốn hơ nóng da của mình gần lửa vì có vết loét. Khi vết loét được chữa khỏi, bạn không còn muốn hơ nóng nữa. Tất cả những gì tôi phải làm bây giờ là kê cho bạn một toa thuốc để chữa khỏi vết loét, nhiệm vụ của là phải tự dùng thuốc. Bạn còn bố mẹ không?

U Pe Win: Thưa ngài, không.

Sayadaw: Bạn đã không thể cứu được họ. Là vì bạn không thương yêu họ hay bạn phải để họ ra đi mặc dù bạn yêu thương họ?

U Pe Win: Con đã phải để họ ra đi mặc dù con rất yêu thương họ.

Sayadaw: Không có gì trên thế giới có thể cứu chúng ta thoát khỏi già, bệnh, chết. Điều này chỉ tồn tại bên ngoài thế giới. Chúng ta phải đến nơi không có già, bệnh, chết. Nếu có nóng và lạnh, có bóng tối và ánh sáng, có mùa đông và mùa hè, có già, bệnh, chết thì cũng sẽ có không già, không bệnh, không chết. Đây là quy luật của tự nhiên. Điều gì tạo nên già, bệnh, chết? Tham ái (taṇhā) mong muốn các uẩn trong tương lai, và thực hiện nó. Vì vậy hãy nhổ tận gốc dễ tham ái, để loại bỏ thủ phạm của già nua, bệnh tật và chết chóc, và đi đến siêu thế gian, nơi không còn những thứ này.

Để thoát khỏi tham ái, chúng ta hãy quay trở lại pháp mà chúng ta đã thảo luận. Năm uẩn được chia làm danh uẩn và sắc uẩn. Hãy đi đến một nơi vắng vẻ, nơi bạn không còn nghe thấy tiếng con trai và con gái của bạn, rồi thực hành quan sát các uẩn. Quan sát trên tâm và quan sát trên thân. Hãy quan sát và chấp nhận những gì các uẩn nói cho bạn là đúng, hãy tin điều gì đó chỉ khi bạn tận mắt chứng kiến. Tôi đang cung cấp cho bạn phương pháp, đó là phương pháp của Đức Phật. Nhưng khi bạn thực hành, bạn phải phát triển quan điểm của chính mình. Bạn cần phát triển những gì? Quan sát các uẩn, trong các uẩn chỉ có thân và tâm. Quan sát hai thứ này, bạn sẽ thấy rằng tâm muốn ăn sinh khởi, tâm muốn ngủ sinh khởi, rồi muốn nói, muốn đi đây đó,… Tâm thường xuyên thay đổi đúng không?

U Pe Win: Đúng vậy, thưa ngài.

Sayadaw: Khi chúng ta nói tâm thay đổi, có nghĩa là một tâm vừa mất đi, và ngay sau đó một tâm mới xuất hiện. Không có hai tâm nào có thể sinh khởi đồng thời. Vậy bạn có quản lý được tâm của mình không?

U Pe Win: Con không thể, thưa ngài.

Sayadaw: Đừng sống chung với thứ mà không thể quản lý được. Nếu bạn sống chung với nó, bạn sẽ luôn đau khổ. Biết rằng không thể điều khiển được tâm của mình, nên bạn hiểu rằng việc ở lâu với tâm này là vô ích. Trong Phật giáo điều này gọi là vô ngã. Bạn sẽ tiếp tục bị hành hạ cho đến khi bạn có thể quản lý được. Chúng không chỉ ra lệnh cho bạn ngồi, chúng cũng sẽ ra lệnh cho bạn đứng, bạn đi, bạn khóc và ra lệnh cho bạn chết.

Vì vậy bạn cần phải chinh phục chúng, chúng thì vô dụng. Một khi bạn biết rằng chúng đang hành hạ bạn, bạn sẽ chán gét thân tâm này, bạn không còn muốn nó nữa. Bạn không muốn tâm này chút nào nữa. Tôi sẽ cho bạn biết như thế nào cơ thể vật lý này không được mong muốn. Bạn sẽ phải cố gắng không mong muốn cả hai, thân và tâm, cả hai kết hợp lại cho ra năm uẩn. Bây giờ bạn đang ngồi, bạn không thể yêu cầu cơ thể mình không di chuyển, không được thay đổi vị trí. Sẽ có cảm giác tê, cứng. Liệu cơ thể có tuân theo mệnh lệnh của bạn, có duy trì theo cách mà bạn muốn không?

U Pe Win: Không, thưa ngài.

Sayadaw: Nếu cơ thể không tuân theo cách bạn muốn, thì bạn có sở hữu nó không? Vậy thì thân tâm này có phải là điềm lành không, khi mà phải sống chung với thứ mà bạn không sở hữu?

Yogi: Không phải thưa ngài.

Sayadaw: Yêu mến năm uẩn, liệu các uẩn trong tương lai có được như mong muốn không?

U Pe Win: Không, thưa ngài.

Sayadaw: Không còn ham muốn thân tâm này, bạn sẽ không đạt được chúng. Hai thứ này đi kèm với già, bệnh và chết. Không có được chúng, bạn sẽ thoát khỏi già, bệnh và chết. Hãy thực hành, đừng dừng lại ở trước miệng của người khác. Hãy tự bản thân mình thực hành. Nếu bạn nhận ra bằng chính kinh nghiệm của riêng mình, thì công việc của bạn đã xong.

Sau đó U Pe Win trở thành một nam cư sĩ, nghiên cứu kinh điển Pali, thực hành vipassanā và đóng góp cho việc truyền bá giáo pháp của Đức Phật.

Sư Chân Thiện dịch

Tám nguyên nhân phát triển tà kiến

(1) Suy xét sai trên các uẩn

(2) Vô minh (avijja)

(3) Tiếp xúc (phassa)

(4) Tưởng (saññā)

(5) Suy nghĩ (vitakka)

(6) Không khéo tác ý (ayoniso manasikāra)

(7) Thân cận với người thiếu trí

(8) Nghe những lời dạy sai.

(1) Nếu không có sự giúp đỡ từ Đức Phật và các bậc Thiện Tri Thức, khi thẩm tra và suy xét sai trên các uẩn sẽ phát triển tà kiến (micchādiṭṭhi) bởi vì suy xét đó dựa trên hiểu biết sai. Trước khi Đức Phật xuất hiện, con người đã tìm hiểu về nguồn gốc của mình, sau đó tạo ra một Đấng Tạo Hoá và phát triển các dạng tà kiến. Những người bám chấp vào tà kiến cố định (niyata-micchadiṭṭhi) và không từ bỏ quan điểm này, thì sau khi chết phải chịu đựng trong địa ngục. Làm thế nào để một vị Thần Sáng Tạo nào đó tạo nên bầu trời, bầu trời là một khái niệm và không bao giờ tồn tại. Tà kiến cố định nghĩa là tin rằng không có nguyên nhân (ahetukadiṭṭhi), không có kết quả (natthikadiṭṭhi), không có việc thiện, không có việc ác (akiriyadiṭṭhi). Tà kiến cố định thậm chí còn nguy hiểm hơn ngũ nghịch đại tội. Những người này, sau khi chết xuống thẳng đại địa ngục, phải chịu quả khổ thiêu đốt trong suốt thời gian lâu dài. Ngay cả khi thế giới bị phá huỷ, những chúng sinh này sẽ bị chuyển đến một thế giới khác để tiếp tục chịu đựng những đau khổ của họ.

(2) Vô minh (avijjā) phát triển tà kiến. Ở đây vô minh có nghĩa là không biết về Tứ Diệu Đế. Có hai loại trí tuệ: chân chánh và không chân chánh, trí tuệ chân chánh (samma ñāṇa) là về Tứ Diệu Đế, trí tuệ không chân chánh (micchā ñāṇa) là kiến thức thế gian, vì nó dựa trên tự ngã, tham ái, sân hận và si mê. Kiến thức này tạo ra tất cả các vấn đề trên trái đất, từ ô nhiễm nội tâm cho đến ô nhiễm trường.

(3) Tiếp xúc phát triển tà kiến. Với sự tiếp xúc của sáu căn và sáu đối tượng nên sáu thức sinh khởi. Từ đó mọi người sẽ bắt đầu cho rằng tôi thấy, tôi nghe, tôi ngửi,…theo cách này, tà kiến phát triển. Là một thiền sinh, điều quan trọng là phải quan sát khi ngay khi có sự tiếp xúc, vì vậy xúc (phassa) là một trong những yếu tố quan trọng để phát triển tà kiến hoặc trí tuệ. Trong pháp Duyên Sinh, xúc là điều kiện cho ái (taṇhā) sinh khởi. Điều này được miêu tả trong quá trình: Xúc → Thọ → Ái, nhưng xúc cũng có thể là điều kiện để tà kiến (micchādiṭṭhi) hoặc sân (dosa) phát triển.

Đức Phật dạy rằng đó là tà kiến về tham ái (diṭṭhi taṇhā). Sáu căn là sáu mảnh đất cho tà kiến tăng trưởng. Thân kiến không ngăn cản chúng sinh tái sinh vào cảnh giới tốt, nhưng tà kiến phát triển từ thân kiến, và tà kiến dẫn chúng sinh vào các cõi khổ. Do đó, thân kiến là pháp đáng sợ.

Vào sáng sớm, khi bạn bắt đầu mở mắt và nhìn xung quanh, tà kiến sẽ xuất hiện. Một người không có chánh niệm sẽ bị dẫn dắt bởi tà kiến, chỉ những người có tuệ minh sát mạnh mẽ mới tự do khỏi chúng. Từ khi mở mắt cho đến nhắm mắt đi ngủ, tất cả con người đang di chuyển xung quanh với tà kiến. Từ tà kiến, sau đó trở thành tham ái, và bám chặt vào tà kiến đó (diṭṭhupadhi). Khi chết sẽ chết cùng với tà kiến và tham ái trong của cải và vợ con.

Mỗi sự tiếp xúc của sáu căn với sáu cảnh nếu không chánh niệm thì tà kiến sẽ theo sau ngay lập tức mọi lúc, mọi nơi. Quan kiến về vô ngã rất sâu sắc, khó để hiểu hoặc chấp nhận rằng không có ai ở đó cả. Phần lớn mọi người không biết điều này, nếu tôi nói với bạn, bạn sẽ hỏi rằng vấn đề gì sẽ đến với tôi? Bạn cần biết rằng tà kiến sẽ theo sau cho tới khi đạt tới Tu Đà Hoàn Đạo.

(4) Tưởng tượng (saññā) sai dẫn đến phát triển tà kiến. Saññā là tưởng, tưởng tượng, tạo nên các tưởng về cha, mẹ, vợ con. Thực tại về tâm và thân (danh và sắc) biến mất, tưởng tượng xuất hiện và coi thân tâm giống như cha mẹ thật sự và nương tựa vào chúng. Không biết rằng đó chỉ là sự thật chế định (paññatti), tưởng coi chúng giống như sự thật tuyệt đối (paramattha) rồi phụ thuộc và bám víu vào chúng.

Có hai loại tưởng, đó là tưởng đúng và tưởng sai. Tưởng đúng trở thành chánh kiến và tưởng sai trở thành tà kiến. Bạn phải biết sự khác biệt giữa chúng. Tưởng sai đến từ tác ý sai (ayonisomanasikāra), hoặc thiếu kiến thức về giáo pháp. Tưởng đúng thì không phát triển tà kiến,  trong khi nhìn chỉ là cái nhìn, trong khi nghe chỉ là cái nghe,..

Nhưng do có khái niệm nên tà kiến đi vào, ví dụ: “tôi nhìn thấy một cô gái”. Bởi vì tưởng tượng sai lầm nên trở thành tà kiến, phần lớn tà kiến đến từ tưởng tượng. Do vậy con người đang sống dựa trên sự vô thường, đau khổ, vô ngã cũng như sinh, già và chết.

Tưởng điên đảo (saññā vipallāsa) dẫn tới tâm điên đảo (citta vipallāsa) và kiến điên đảo (diṭṭhi vipallāsa) tương ứng. Hiểu về bản chất của thân tâm hay ngũ uẩn rằng chúng chỉ là quá trình nhân quả được gọi là Tiểu Tu Đà Hoàn (cūla sotāpanna), và sau đó thoát khỏi kiếp sống từ các cõi khổ. Trở thành Đại Tu Đà Hoàn (mahāsotāpanna) bằng việc  từ bỏ tà kiến và sự chấp thủ vào tà kiến. Sau đó hoàn toàn thoát khỏi các cảnh khổ, bởi vì không còn phiền não ngủ ngầm về tà kiến (diṭṭhianusaya).

Mỗi khi tưởng (saññā) sinh khởi, bằng sự quan sát về vô thường của tưởng thì tà kiến không xuất hiện. Tưởng sinh khởi mà không quan sát kịp thì tà kiến theo sau. Ví như khi bạn nhìn đứa con trai, biết rằng chỉ là đứa con trai thì không tạo nên sai lầm, nhưng tôi sẽ nương tựa vào cậu ta, và kết quả là dính chặt vào tà kiến. Mỗi khi tưởng tới, hãy quan sát về tưởng. Nếu tưởng đúng trở thành thói quen thì sau đó không còn khó nữa, cái khó là thực hành để trở thành thói quen, đây là điểm rất quan trọng đối với thiền sinh.

(5) Suy nghĩ (vitakka) thiếu trí tuệ dẫn tới phát triển tà kiến. Vitakka có nghĩa là suy nghĩ dựa trên các đối tượng giác quan. Các quan điểm sai lầm trong khi suy nghĩ do thiếu kiến thức, hoặc do nghĩ về những điều không nên nghĩ. Suy nghĩ cần phải đi cùng với trí tuệ. Có hai kiểu suy nghĩ, suy nghĩ thiếu trí tuệ dẫn tới phát triển tà kiến và suy nghĩ với trí tuệ để phát triển chánh kiến. Hai chi đạo đầu tiên của Bát Thánh Đạo là chánh kiến (sammā-diṭṭhi) và chánh tư duy (sammā-saṅkappa) là suy nghĩ. Một số phật tử chuyển sang tôn giáo hay tín ngưỡng khác đã suy nghĩ mà không có trí tuệ đi cùng. Họ coi tà kiến là chánh kiến và chuyển sang các tôn giáo khác. Quan điểm sai lầm của các niềm tin khác đến từ những người thiếu trí tuệ nên không có khả năng tư duy đúng. Nghiệp và thiền định cũng có thể phát triển tà kiến, thậm chí ngay cả Chư Thiên và Phạm thiên. Chỉ có thực hành vipassanā là không liên quan với tà kiến.

(6) Không như lý tác ý (ayonisomanasikāra) dẫn tới phát triển tà kiến. Cho rằng vô thường (anicca) là thường (nicca), đau khổ (dukkha) là hạnh phúc (sukha), vô ngã (anatta) là có tự ngã (atta) và bất tịnh (asubha) là đẹp đẽ (subha). Đó là những ví dụ về không khéo tác ý. Bố thí với sự làm giàu vipassanā sẽ ngày càng đi lên cao hơn và không bị rơi xuống nữa. Đó là bố thí với khéo như lý tác ý, sau khi bạn đi lên vì trí tuệ sắc bén thì sẽ chỉ đi cao hơn nữa. Ngược lại với bố thí và thiền định mà không như lý tác ý, sau khi hết hiệu lực thì sẽ lại rơi xuống.

(7) Thân cận với người tà kiến dẫn tới phát triển tà kiến. Thân cận với bạn xấu (pāpamitta) sẽ phát triển tà kiến, thân cận với bạn tốt (kalyāṇa mitta) sẽ phát triển chánh kiến. Những người bạn xấu ở đây không chỉ là những người làm hành động bất thiện mà còn là những người có niềm tin vào các tín ngưỡng sai trái. Có một người Cơ Đốc Giáo chuyển sang Phật Giáo không phải vì nghiệp trong quá khứ mà do anh ta có liên hệ với một người phật tử. Anh ta nói rằng đó là nghiệp hiện tại của anh ấy, tức là được gặp gỡ với bạn tốt.

Tà kiến rất xa Niết Bàn, nhưng Niết Bàn thì khăng khít với chánh kiến. Thấy được vô thường sẽ trở thành chánh kiến, Niết Bàn tồn tại ở điểm cuối của vô thường. Giữa tà kiến và Niết Bàn là một khoảng cách không thể đo lường được. Do vậy Đức Phật đã cảnh báo mọi người về tầm quan trọng của việc thực hành để phá huỷ tà kiến, điều này còn khẩn cấp hơn cả khi đầu bạn đang bị bốc cháy và ngực bạn bị đâm bởi cây thương. Có nghĩa là đầu bị lửa đốt và ngực bị đâm bởi cây thương sẽ chỉ phải chết một lần nhưng nếu tà kiến không bị phá huỷ thì đau khổ không bao giờ chấm dứt.

(8) Nghe giáo lý sai sẽ dẫn đến phát triển tà kiến. Ví dụ, nghe những lời dạy sai rồi tin vào đấng sáng tạo như Thượng Đế hay Đức Chúa Trời. Thực ra, phần đông các Phật tử vẫn còn tà kiến và họ nghe những lời dạy của Đức Phật với tà kiến. Khi bố thí, cúng dường, họ sẽ nghĩ “nếu tôi làm phước, tôi sẽ nhận được kết quả”. Đây là chỉ là hiểu biết về sự thật chế định (kammassakatā ñāṇa), điều này không thể vượt ra khỏi các lậu (āsava), và vẫn nằm bên trong quan kiến về lậu (diṭṭhāsava).

Tà kiến sẽ bị tiêu diệt nếu bạn luôn được nghe được những lời pháp thoại như: “Quan điểm của tôi về năm uẩn là các hiện tượng có điều kiện (saṅkhata dhamma), chúng có bản chất là vô thường, khổ và vô ngã, vì vậy không coi chúng là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi”.

Nếu mọi người thực sự hiểu biết đâu là quan điểm đúng, đâu là quan điểm sai thì tà kiến sẽ không bao giờ xảy ra. Vì vậy các nhà sư có nhiệm vụ giải thích những điều này cho họ./.

Tà kiến: thường kiến và đoạn kiến

  • Quan điểm về thuyết vĩnh cửu hay còn gọi là thường kiến (sassata-diṭṭhi) là muốn hưởng thụ trong kiếp sống kế tiếp, sau kiếp sống này. Họ sẽ nhận được điều đó nếu họ thực hiện nó. Những người này sẽ đi tới kiếp sau và thích thú trong kết quả của thường kiến. Sau khi bạn làm xong thì không còn gì xảy ra nữa, và coi đó chỉ là các chức năng (kiriya matta). Đây là quan điểm về thuyết đoạn diệt, hay còn gọi là đoạn kiến (uccheda-diṭṭhi). Quan điểm này cho rằng không có bất kỳ sự kết nối nào.

Mỗi người đều có quan điểm riêng của chính mình. Người thường kiến không thể nhận ra Niết Bàn nhưng có thể đi tới nơi tái sinh tốt đẹp (sugati). Người đoạn kiến thì thậm chí còn không thể đi tới nơi tốt đẹp mà chỉ dẫn đến các cảnh khổ (apāya bhūmi). Bạn không thể nhận ra Niết Bàn nếu bạn không từ bỏ các tà kiến, thậm chí ngay cả khi bạn thực hành. Chúng ngăn cản trí tuệ về Đạo (magga-ñāṇa) và Quả (phala-ñāṇa). Nếu dạy pháp Niết Bàn cho những người tin vào thường kiến thì họ sẽ không thích. Họ thích ẩn mình trong vòng quay của sự tồn tại, không muốn nghe về sự kết thúc của cuộc sống vì muốn nhận ra Niết Bàn một cách chậm rãi.

Một số người rất nghèo với nhiều đau khổ, buồn phiền trong cuộc sống, họ tin rằng cái chết là giải pháp duy nhất cho họ. Triết lý của họ là sinh ra một lần, chết đi một lần và mong muốn chấm dứt sự sống. Đây là những người tin vào đoạn kiến, họ muốn lắng nghe về sự chấm dứt cuộc sống.

Tất cả những người này đều có quan điểm sai trái, bị dẫn dắt bởi tà kiến. Thường kiến không thích Niết Bàn vì tham ái trong sự hiện hữu (bhavataṇha). Hiểu biết sai đang ngăn cản họ nhận ra điều đó. Họ thích nghe những bài kinh giảng về tận hưởng cuộc sống. Đối với những người đoạn kiến, khi họ nghe pháp vipassanā, họ thích sự chấm dứt cuộc sống nhưng không hiểu về sự chấm dứt của khổ. Tất cả họ đều không đi theo con đường Trung Đạo, đều bị nghiêng về một trong hai cực đoan, hoặc là vĩnh cửu, hoặc là huỷ diệt.

Tôi sẽ nói về bản chất của họ. Người thường kiến tin vào hành động thiện và tránh xa các hành động bất thiện trong đời này và đời sau. Thật là khó để vượt qua khổ đối với họ, thậm chí ngay cả khi Đức Phật và các đệ tử của Ngài dạy họ về sự thật, bởi vì họ thích thú trong sự hiện hữu và trở thành.

Người đoạn kiến tin trong kiếp này và chuẩn bị để chấm dứt cuộc sống. Họ không làm các việc thiện, ngược lại họ dám làm các việc bất thiện. Nhưng họ có thể nhanh chóng từ bỏ tà kiến của mình nếu có cơ hội nghe những lời dạy của Đức Phật hoặc các đệ tử của Ngài. Sau đó họ sẽ nỗ lực thực hành để chứng ngộ Niết Bàn một cách nhanh chóng.

Những người đi trên con đường Trung Đạo thì biết rằng đó chỉ là năm uẩn với bản chất vô thường, khổ, vô ngã và bất tịnh. Bản chất của chúng chỉ là khổ. Bằng việc phân tích các uẩn với lý thuyết và thực hành bạn sẽ nhìn thấy chúng đến và đi như các bong bóng nước. Nhìn thấy các pháp sinh khởi thì sẽ thoát khỏi niềm tin đoạn kiến và nhìn thấy các pháp diệt đi thì thoát khỏi niềm tin vào thường kiến. Người đi theo con đường Trung Đạo thoát khỏi cả hai cực đoan của tà kiến. Người này không chấp nhận quan điểm về thường kiến và đoạn kiến. Trong thế giới hiện hữu chỉ có các pháp sinh khởi và pháp diệt đi, không có hiện tượng trường tồn vĩnh cửu hay đoạn diệt hoàn toàn. Trước đây mọi người có quan điểm thường kiến vì không nhìn thấy các pháp biến mất, và những người có quan điểm đoạn kiến vì không nhìn thấy các pháp sinh khởi. Họ không có những thông tin chi tiết như thế này trước đây. Do đó khi thực hành và nhận ra vô thường họ sẽ đi trên con đường Trung Đạo.

Bạn thử lấy móng tay cào lên cánh tay, bạn sẽ thấy các cảm giác xuất hiện rồi biến mất. Đối tượng của quan sát là vô thường và tâm quan sát, nhận biết đối tượng đó cũng vô thường. Đây là lý do chính tại sao tôi dạy các bạn về những điều này trong nhiều năm qua.

Tà kiến đến từ điên đảo (vipallāsa), những quan điểm sai lầm và niềm tin sai lầm đến từ sự điên đảo. Một số người tin vào thường kiến đang cố gắng tận hưởng cuộc sống, nên họ không thích Niết Bàn và ở rất xa Niết Bàn. Những người tin vào đoạn kiến mong muốn không còn gì xảy ra nữa, tin rằng sinh ra một lần và chết đi một lần duy nhất trong đời, nên họ đánh giá cao Niết Bàn. Tôi kêu gọi những người có quan điểm sai lầm này phải tự mình thực hành để tìm ra sự thật.

Sự thật và hiểu biết phải phù hợp với nhau. Trên thân này, bất cứ lúc nào bạn quan sát, cũng chỉ tồn tại vô thường, khổ, vô ngã. Nếu sự thật về thân này và sự hiểu biết trên tâm khăng khít với nhau, thì sẽ trở thành cakkhumanto ca passanti, người với cặp mắt có thể nhìn thấy điều đó.

Nếu bạn sinh ra bị mù loà thì cũng chết đi với mù loà. Đây là điều được nói bởi Đức Phật trong udāna pali. Phần lớn mọi người chết mà không nhận ra vô thường, họ chỉ biết sinh ra một lần rồi chết đi một lần trong đời sống. Những người này sinh trong bóng tối và chết trong bóng tối. Cơ thể này tồn tại như những hiện tượng vô thường và không nhìn thấy điều đó nghĩa là bị mù loà. Luôn coi những thứ không tồn tại thành ‘thân tôi, con trai của tôi, vợ tôi’ tức là bị điên. Vì vậy, đừng muốn trở thành xác chết điên khùng và mù loà.

Kẻ điên và người mù đều phải chịu đựng trong các cảnh khổ và chìm xuống dưới địa ngục trần gian. Con người chỉ coi trọng hình thức bên ngoài nhưng không biết điều gì xảy ra bên trong, cho đến cuối cuộc đời họ chết giống như kẻ điên và người mù. Thậm chí nếu bạn là người nhị nhân (dvihetukapuggala), bằng nỗ lực thực hành và nhận ra được vô thường, bạn sẽ kết thúc mục tiêu trong đời sống kế tiếp. Ngược lại không thực hành thì kiếp tới bạn sẽ tiếp tục tái sinh vào bóng tối và chết trong bóng tối. Bạn không chỉ sống trong bóng tối mà còn bị điên. Nếu không chữa khỏi chứng mù loà và điên khùng, thì thậm chí một vị Phạm thiên có thể trở thành một con lợn và một bậc Chuyển Luân Thánh Vương có thể trở thành một con chó, bởi vì bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra trong thế giới này. Mọi thứ đều có thể xảy ra, ngoại trừ Niết Bàn, bởi vì vòng luân hồi dài vô tận đối với tất cả chúng sinh.

Những người không đi trên con đường Trung Đạo đang bước đi ngẫu nhiên và theo cách cực đoan. Cả hai cực đoan đều không thoát khỏi già, bệnh, chết, cũng như không thể tìm thấy con đường tự do. Nếu không chữa trị thì người mù và kẻ điên sẽ không bao giờ đi trên con đường Trung Đạo. Chúng sinh đang di chuyển giống như những con giun. Một con gà đang đợi ở phía trước mặt nó, nhưng con giun không biết về điều đó và vẫn đang di chuyển hướng về phía con gà. Do đó con giun trở thành thức ăn cho con gà. Theo cách tương tự, chúng sinh bị Thần Chết ăn thịt. Bạn có thể mỉm cười khi bạn đi trên con đường Trung Đạo. Bạn có thể mỉm cười sau khi nhìn thấy vô thường, chán nản, và kết thúc các hiện tượng có điều kiện. Không có những điều này thì chỉ là nụ cười của những kẻ mù quáng và điên khùng.

Kiến điên đảo (diṭṭhi vipallāsa) chế ngự các bạn và hướng các bạn đến con đường chết. Nếu bạn nhìn với trí tuệ thì sẽ thấy các uẩn này chết vô số lần trong một ngày. Nếu ai đó trở thành thánh Nhập Dòng (sotāpanna) thì Đức Phật gọi người đó là āloko udapādi, người đạt được ánh sáng trí tuệ. Có được ánh sáng khi nhận được hạt giống của Đạo Tuệ. Sau khi nhận ra vô thường, bạn sẽ có được trí tuệ phù hợp với chân lý (sacca anulomika ñāṇa) và khi trí tuệ lớn mạnh sẽ nhìn thấy sự thật về khổ. Thật khó để nói cho mọi người trân trọng những điều này vì họ chỉ thích tái sinh trong những cảnh giới tốt đẹp. Nếu bạn nhìn thấy vô thường, thì bạn đang đi trên con đường Trung Đạo. Nhận ra vô thường và trở thành hạt giống của bậc thánh nhân (ariya). Phần lớn con người tái sinh làm súc vật trong nhiều tiền kiếp bởi vì sự tồn tại của con người là rất khó có được. Vì vậy các bạn phải chán gét và ghê tởm các uẩn này.

Đức Phật đã giải thích tính cách của người mù và kẻ điên. Người nắm giữ thường kiến tin vào kiếp sống kế tiếp là kết quả của thiện và ác, những người này thích làm điều thiện và sợ điều ác. Các bạn sẽ nghĩ rằng điều đó giống người có giới đức. Tuy nhiên nếu gặp được một vị thầy tốt, người ấy vẫn dời xa việc thực hành để nhận ra Niết Bàn, thậm chí nếu gặp được Đức Phật họ vẫn không chịu thực hành cũng như không từ bỏ quan điểm của mình. Lỗi của họ tuy nhỏ nhưng thật khó để vượt qua khổ. Họ rất miễn cưỡng cắt bỏ quá trình của các uẩn và không muốn từ bỏ dục lạc ngũ trần. Họ là những người có bản chất hiền lành, giả vờ là người đạo đức và không muốn thoát khỏi vòng tròn sinh tử (vaṭṭa). Do đó rất khó để giúp họ giải thoát. Đây là một niềm tin sai lầm và tinh vi, giống như rất khó để cạo tóc trên đầu của một đứa bé.

Người đoạn kiến thì mắc lỗi nặng, nhưng họ dễ dàng từ bỏ quan điểm của mình. Họ tin vào cuộc sống, không muốn trau dồi những hành động lành mạnh nhưng có thể làm điều bất thiện. Tuy nhiên họ dễ dàng vượt qua đau khổ nếu họ lắng nghe các bài thuyết giảng và có niềm tin vào đó.

Điều khó khăn là hầu hết mọi người tin vào thường kiến. Nếu bạn có đôi mắt sáng thì cả hai quan điểm này sẽ bị mất. Người đoạn kiến có thể phát nguyện thành đức Bồ Tát cho dù họ gặp rất nhiều khó khăn. Trong hai tà kiến này, đoạn kiến gần với Niết Bàn hơn. Nếu bạn thấy được vô thường của bất kỳ các uẩn nào thì cả hai tà kiến đều biến mất. Vì vậy nhìn thấy vô thường là vô cùng lợi ích. Nếu không bạn sẽ nghiêng về một bên. Do đó tôi thường xuyên hỏi rằng “bạn có nhận ra vô thường không?”

Ở đây thọ sinh khởi và sau đó không còn nữa, tâm sinh khởi và sau đó không còn nữa. Cần phải hiểu biết về chúng một cách tổng quan, đây là những điều quan trọng tôi phải nói với bạn. Bạn có thể đã gặp một vị Phật nào đó trong những kiếp trước, nhưng một trong các tà kiến này đã ngăn cản bạn giải thoát. Bây giờ bạn đã gặp được lời dạy của Đức Phật và phải thực hiện nhiệm vụ này.

Phân biệt theo tính cách thì người thường kiến có xu hướng nhiều về tham dục (rāga carita). Người đoạn kiến thì có tính cách sân hận (dosa caritta), người này sẽ không làm bất cứ điều gì nếu họ không muốn cho dù bất kể lý do gì, họ là những người thẳng tính. Nếu những người này có niềm tin trong giáo pháp thì họ có thể từ bỏ mạng sống của mình để tu hành. Người đoạn kiến là người sắc sảo, còn người thường kiến là người mềm mại.

Đức Phật đã dạy mọi thứ rất chi tiết và không giữ lại điều gì. Tất cả các bạn đều hiểu rõ về pháp Duyên Sinh, vì vậy đừng nghi ngờ về bản thân các bạn có đang ở con đường Trung Đạo hay không. pháp Duyên Sinh hướng dẫn các bạn về nhân và quả của các hiện tượng vô thường, vì vậy các bạn đang ở trên con đường Trung Đạo. Năm uẩn giống như giòng nước tuôn chảy, luôn ở trong trạng thái vô thường. Trí tuệ nói cho bạn biết điều này, trí tuệ giống như đang xem dòng nước ngũ uẩn tuôn chảy. Nước chảy vào phần trên và chảy ra phần dưới. Sự chấm dứt của sinh và diệt là Niết Bàn.