TIỂU KINH PHƯƠNG QUẢNG

Bạn sẽ có cơ hội tìm hiểu cuộc vấn đáp giữa thánh tỳ khưu ni Visākha và ông cư sĩ Dhammadinnā theo lộ trình từ thân kiến (sakkāyadiṭṭhi) cho đến Niết Bàn.

Sự tồn tại của thân (sakkāya) là như thế nào? Đó là năm thủ uẩn (khandha), năm thủ uẩn tồn tại nên thân này tồn tại. Quá trình tồn tại của thân tâm là sakkāya, đây là bản chất tự nhiên của các uẩn và chúng thực sự tồn tại, nên được gọi là sự tồn tại của thân, hay có thân. Điều này rất quan trọng cần phải hiểu rõ trước khi thực hành, vì giáo pháp dành cho mục đích thực hành để chấm dứt các uẩn, chứ không phải để cho tư duy lý luận.

Có thân thì không có lỗi, lỗi nằm ở tà kiến, sự tồn tại của thân nghĩa là cả thân (rūpa) và tâm (nāma). Sắc (rūpa) là sakkāya, nếu bạn coi sắc là ‘tôi’, là ‘của tôi’ sẽ trở thành tà kiến. ‘Tôi bị lạnh’, ‘tôi nóng’…theo cách đó, ‘tôi’ đang xen vào sự tồn tại của thân. Mọi người không biết rằng bản chất của sắc là khổ và cho rằng ‘sắc giống như tôi’, ‘sắc là của tôi’, do đó dẫn đến các cõi khổ. Quan niệm về sự tồn tại của thân theo những cách sai lầm trở thành thân kiến (sakkāyadiṭṭhi), vì vậy bạn cần phải biết rằng sắc chỉ là sắc, đó là trí tuệ.

‘Tôi có một bữa ăn ngon’, ở đây ‘tôi’ đang xen vào với thọ uẩn (vedanā-khandha). ‘Tôi nhận thức được điều đó’, ‘tôi’ đang xen vào với tưởng uẩn (saññā-khandha). ‘Đừng hiểu lầm ý định của tôi’, đây là ‘tôi’ đang can thiệp vào hành uẩn (saṅkhara-khandha). Cần phải lưu ý rằng ‘tôi’ trong cách nói chuyện hàng ngày thì không có lỗi, mọi người đã rõ ràng về điểm này và dùng trong giao tiếp thì không vấn đề gì. Đây là sự thật tương đối và chúng ta cần sử dụng để giao tiếp, Đức Phật cũng sử dụng điều này trong lời dạy của Ngài.

Nếu xen tà kiến vào trong bất kỳ một uẩn nào đó, nó có thể trở thành tà kiến về sự huỷ diệt hay còn gọi là đoạn kiến (ucchedadiṭṭhi). Ví dụ, ‘nếu tôi chết, tôi sẽ kết thúc’, ‘khi tâm tôi đi tới điểm kết thúc, tôi sẽ chết’, đây là ý tưởng của sự đoạn diệt hoàn toàn. ‘Tôi sẽ chết với thọ này’, điều này chứa đựng cả thân kiến (sakkāya-diṭṭhi) và đoạn kiến (ucchedadiṭṭhi).

Nếu một người có tà kiến thì sự chấp thủ vào tà kiến đó đi liền theo sau. Khi còn đang sống mọi người có quan điểm về thường kiến (sassatadiṭṭhi) và gần chết thì quan điểm là đoạn kiến. Khi kinh doanh buôn bán tiến triển tốt thì tin vào thường kiến, và khi bệnh tật ốm đau thì tin vào đoạn kiến. Không biết những điều này dẫn tới đời sống con người trở nên thấp kém.

Tà kiến là hạt giống của địa ngục. Tại sao? Nguyên nhân vì bám víu vào tà kiến đó, ‘tôi không bao giờ từ bỏ quan điểm của tôi’, trở thành chấp thủ (upādāna) và ‘làm cái mà tôi tin’ trở thành hành động (kamma). Hành động hay tà kiến dẫn tới tái sinh trong cõi khổ? Chúng ta thường nghĩ rằng rơi vào các cõi khổ là bởi vì hành động bất thiện. Thực tế thì không như vậy, tà kiến cài đặt chương trình và hành động bất thiện đi liền theo sau. Chúng đều là tham ái, Đức Phật còn nhấn mạnh rằng tà kiến là tham ái lớn, tâm tham chỉ là tham ái nhỏ.

‘Tôi không thể vượt qua thọ này’, đây là tự ngã (atta) đến và trộn lẫn với thọ (vedanā). Thọ sinh khởi và đoạn diệt bởi chính nó. Phải quan sát cảm thọ như một người xa lạ, cảm giác đau đến rồi đi, cảm giác dễ chịu đến rồi đi. Cảm giác trung bình đến rồi đi theo cách đó, tâm quan sát cũng giống như vậy, tất cả chúng đến rồi đi và đây chính là công thức để phá bỏ tà kiến. Cảm thọ sinh khởi và tâm quan sát đang diễn ra bên cạnh. Vì vậy, đừng có trộn lẫn chúng. Nếu bạn không trộn chúng vào nhau thì tà kiến không thể sinh khởi. Hãy coi đó như một người xa lạ và xem rằng đó không phải là chính mình. Khi đó hiểu biết về vô ngã (anatta) xuất hiện. Bạn phải quan sát các uẩn theo cách như vậy, coi các uẩn xuất hiện giống như những vị khách và chết cũng giống như những vị khách.

Tôi sẽ hướng dẫn bạn cách quan sát về vô ngã. Đức Phật vẫn còn khổ thọ trên thân nhưng không còn khổ thọ trên tâm. Đây là điều khác biệt với những người bình thường. Đức Phật chỉ còn đau trên thân mà không còn đau trên tâm. Tại sao như vậy? Bởi vì Ngài đã có khả năng quan sát các uẩn giống như một vị khách. Tất cả năm uẩn hay bất cứ cái gì sinh khởi là những vị khách, những vị khách đến rồi đi.

Nếu coi các uẩn như vật chủ, bạn sẽ đau khổ, như ví dụ ‘nếu con trai tôi chết, tôi sẽ bị tổn thương’. Trong thực tế thì không có gì là của bạn, con trai chỉ là một vị khách. Cậu ta đến với bạn nhưng không phải là bạn muốn thì cậu ta đến. Khi bạn muốn cậu ta đến và cậu ta không đến, bạn khóc lóc, vì bạn đã coi vị khách là ‘của tôi’. Phần lớn phụ nữ khóc, bởi vì họ coi khách giống như chủ. Trong cụm từ ‘con tôi’, ‘mẹ của tôi’ hay ‘con gái của tôi’, ‘tôi’ và ‘của tôi’ đang xen vào. Thân tâm cô con gái thì không liên quan gì tới thân tâm người mẹ. Con người khóc không phải vì những điều bất hạnh, mà nguyên nhân là do tự ngã (atta) xen vào. Chuỗi tà kiến của người mẹ kết nối với năm uẩn của cô con gái và sau đó chấp thủ vào tà kiến đó phát sinh (diṭṭhupādāna). Do đó nước mắt sẽ không rơi nếu không có sự lẫn lộn tạo ra thân kiến.

‘Dù cho có bất cứ điều gì xảy ra với thế giới, tâm tôi không lay động’, điều này không có tà kiến. Tâm bậc thánh nhân không lay động trước tám ngọn gió đời, không kết nối với chuỗi đau khổ của tà kiến. Một số người ở đây sẽ lo lắng trầm cảm khi có chuyện xảy ra với con cái của họ ở nước Anh, cách đây 600 dặm. Quá dài là chuỗi quan điểm sai lầm. Bạn khóc vì ai đó hành hạ bạn hay vì bạn đã trộn lẫn mọi thứ? Buộc hai con bò với nhau lại bằng một sợi dây, nếu một con rơi xuống vách đá thì con còn lại cũng sẽ bị rơi xuống.

Không còn thân kiến, bất cứ điều gì diễn ra với người mẹ, người con gái luôn ổn. Tương tự bất cứ điều gì xảy ra với cô con gái, người mẹ không sao cả. Theo cách này sẽ không tái sinh trong cảnh khổ và luôn an vui trong cuộc sống. Đừng có trộn lẫn các uẩn với thân kiến. Đức Phật nói rằng không có lỗi nào lớn hơn lỗi tà kiến. Tà kiến có thể dẫn đến làm năm trọng nghiệp. Giết cha của chính mình là tà kiến, với tà kiến không có gì là không dám làm. Trong các pháp bất thiện, tà kiến là pháp đáng sợ nhất.

Nếu tôi chết, thọ cũng sẽ chết, khi ngọn lửa tắt thì ánh sáng cũng biến mất. Vì vậy ngọn lửa và ánh sáng đi cùng nhau. Nhưng ngọn lửa và ánh sáng là hai thứ khác nhau, lửa là nóng và ánh sáng là sự sáng. Có nhiều loại thọ khác nhau lần lượt xuất hiện và bộc lộ sự không ổn định của chúng. Hãy thử quan sát sự sinh khởi và biến mất của các cảm thọ. Theo cách này sẽ không có ‘tôi’, ‘của tôi’ trộn vào trong quá trình của các cảm thọ, không có ‘tôi’ trong sự sinh khởi và không có ‘tôi’ trong sự biến mất, xem tất cả cảm thọ như những người lạ. Chúng sinh rơi xuống các cõi khổ không phải bởi cảm thọ mà bởi tà kiến nhưng cảm thọ điều kiện nên tà kiến (vedanā paccaya diṭṭhi).

Nguyên nhân của thân tâm này từ đâu? Từ tham ái (taṇhā), tham ái trong dục lạc giác quan (kāma taṇhā), tham ái trong sự trở thành (bhava taṇhā) và tham ái trong sự không trở thành (vibhava taṇhā). Nguyên nhân của thân tâm đến từ tham ái. Các uẩn sinh khởi từ tham ái (taṇhā), chấp thủ (upādāna) và nghiệp (kamma), trong đó nguyên nhân chính là tham ái. Tham ái không mất đi thì các uẩn vẫn tồn tại, các uẩn tồn tại thì già, bệnh, chết vẫn đi theo bên cạnh. Tất cả chúng sinh khởi bởi vì tham ái vào sự trở thành và bị vây quanh bởi các loại đau khổ. Vì mùi của con cá nên những con ruồi bay đến, vì thân này tồn tại nên sự nguy hiểm đang đến. Nguyên nhân từ pháp xấu xa chỉ mang lại điều xấu xa. Chúng đang sinh khởi, nếu bạn nhìn thấy sự thay đổi của sakkāya, bạn sẽ vượt qua đế chế của nó. Sự thật của sakkāya là khổ. Nhìn thấy Khổ Đế thì Tập Đế (taṇhā samudaya) phải gầy đi, sau khi làm giảm bớt tham ái, đau khổ ngày càng ít đi. Người có tình cảm sẽ gặp phải đau khổ và tự làm tổn thương mình, càng nhiều tình cảm thì càng nhiều đau khổ.

Khi nào thân tâm này kết thúc? Nếu tham ái kết thúc, thân tâm này sẽ kết thúc. Tóm lại, sự kết thúc của Tập Đế (samudaya-sacca) sẽ dẫn tới sự kết thúc của Khổ Đế (dukkha-sacca). Tham ái kết thúc thì Niết Bàn xuất hiện, đoạn diệt của tham ái là Niết Bàn. Đức Phật có thể nhập vào trạng thái của Niết Bàn thậm chí trong suốt thời gian Ngài thuyết pháp hay trong thời gian của hơi thở vào hay hơi thở ra, Ngài bắt đầu từ vô thường và ngay lập tức hướng về Niết Bàn.

Thực hành như thế nào để kết thúc sakkāya? Thực hành theo con đường Bát Thánh Đạo. Để đạt được Thánh Đạo thì phải nỗ lực thực hành phát triển năm chi phần là chánh niệm (sammā sati), chánh tinh tấn (sammā viriya), chánh định (sammā samādhi), chánh kiến (sammā diṭṭhi) và chánh tư duy (sammā saṅkappa). Chúng được gọi là năm chi đạo (pañca maggaṅga)

Sau khi đạt được Thánh Đạo đầu tiên, quá trình sẽ tiếp tục với tám chi đạo. Tại sao những yếu tố đó được gọi là tám chi đạo (aṭṭha maggaṅga). Bởi vì chúng cắt bỏ phiền não tạm thời. Nếu phiền não được cắt bỏ hoàn toàn sẽ trở thành pháp hướng tới Niết Bàn. Chỉ cần quán tưởng về vô thường và không cần làm gì hơn, bạn đang tạm thời ở trong Niết Bàn. Bố thí (dāna), trì giới (sīla) và thiền định (jhāna) chỉ là các yếu tố hỗ trợ cho maggaṅga. Năm chi đạo là các yếu tố hỗ trợ quyết định (upanissaya paccayo) và maggaṅga là con đường điều kiện (maggaṅga paccayo) tức là nguyên nhân xa và gần cho các Thánh Đạo. Bát Thánh Đạo bao gồm giới, định, tuệ, trong đó tuệ lãnh đạo, là yếu tố quan trọng nhất.

Sự bám víu vào năm uẩn (upādānakhandha) diễn ra như thế nào? Năm uẩn là đối tượng cho sự chấp thủ (ngũ thủ uẩn).  Tôi đến đây để giải thích cho bạn hiểu rõ hơn. Các uẩn tồn tại bởi chính nó, giống như các uẩn của con trai hay các uẩn của người vợ. Nếu chỉ có thân tồn tại, thì đó chỉ là các đối tượng giác quan mà không thể trở thành các đối tượng của sự bám víu (upādāna). Sự bám víu từ bên này kết nối với các uẩn bên kia tạo thành các uẩn bám víu. Bên kia là năm uẩn (khandha) và bên này là tham ái (taṇhā), hai khía cạnh này kết hợp với nhau trở thành các uẩn bám víu (upādānakhandha). Nếu không có sự kết nối thì chỉ là sự tiếp xúc giữa các đối tượng giác quan (ārammaṇa) và các căn (āyatana).

Các uẩn và tham ái không giống nhau, có tham ái vì bám chấp vào các uẩn. Mọi người không chịu đựng được thậm chí chỉ là bị muỗi đốt, do đó chúng kết nối với nhau. Các bạn không thể chịu đựng được khi chúng làm tổn thương các uẩn thân yêu của mình. Các uẩn là nơi trốn cho sự bám víu. Một số người trộn chúng lại với nhau, một số thì không. Những bậc thánh nhân (ariya) thì không có trong đó. Khi các bạn hạnh phúc hay đau khổ các bạn đều kết nối với tham ái. Chúng đang được kết nối giống như mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả, mặc dù chúng có bản chất khác nhau và không giống giống nhau.

Nguyên nhân của thân kiến đến từ đâu? Không có đầy đủ kiến thức, không lắng nghe giáo pháp từ các bậc thánh nhân và coi năm uẩn là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Nếu có đủ kiến thức và trí tuệ về các uẩn thì sẽ không còn tin vào thân kiến. Các uẩn là sakkāya và thân kiến đang xen vào chúng. Thật khó để xua tan thân kiến nếu không nghe giáo pháp. Có bốn nguyên nhân để trở thành bậc thánh Tu Đà Hoàn:

1/ Thân cận bậc Thiện Tri Thức

2/ Lắng nghe giáo pháp

3/ Tư duy chân chánh

4/ Thực hành dựa trên lời dạy

Tri thức và trí tuệ bắt nguồn từ đâu? Bắt đầu lắng nghe giáo pháp và thực hiện tròn đủ bốn yếu tố trên để liễu ngộ giáo pháp. Pháp thoại của tôi mỗi ngày đều nhắc đến tà kiến như là hạt giống của địa ngục. Nó nguy hiểm hơn so với tham lam, sân hận, si mê, ganh tỵ và hám lợi. Nếu thân kiến bị đoạn diệt, một phần tư tham sân si bị phá bỏ, bao gồm cả ganh tỵ, hám lợi và bất cứ cái gì liên kết với chúng. Nếu bạn không muốn rơi xuống cõi khổ thì hãy phá huỷ thân kiến trước. Thậm chí nếu bạn không sợ các phiền não khác thì bạn phải sợ thân kiến. Bố thí, giữ giới, thiền định có thể dẫn tới cảnh giới tái sinh tốt đẹp, nhưng sau đó bạn sẽ tiếp tục bị kéo xuống cõi khổ bởi tà kiến. Nếu bạn không phá huỷ thân kiến, nó sẽ tạm thời tăng lên.

Không có gì đáng sợ hơn là tà kiến. Xuất phát từ tà kiến, một số người có thể giết cha, giết mẹ của mình, năm trọng nghiệp tới từ tà kiến. Đối với bậc thánh Tu Đà Hoàn những điều đó không bao giờ diễn ra. Mọi người nói rằng sợ các pháp bất thiện. Đừng sợ hãi! Nếu bạn phá huỷ tà kiến, không cần phải lo lắng về bất cứ pháp bất thiện nào.

Thân kiến sẽ dẫn dắt các pháp bất thiện khác và gửi chúng sinh tới tám địa ngục lớn và mười hai0 địa ngục nhỏ. Nếu bạn thấy sakkāya, tà kiến sẽ bị xua tan. Tại sao? Vì trở thành chánh kiến nên tà kiến biến mất. Tà kiến phải được tiêu diệt bởi chánh kiến. Bất kỳ bệnh tật nào cũng được chữa khỏi bằng thuốc cho bệnh đó. Bố thí, giữ giới và thiền định thì không thể vượt qua được tà kiến. Tốt hơn là hãy làm nghiệp tốt sau khi đã xua tan được tà kiến, nếu không bạn lại bị rơi xuống lần nữa. Đức Phật khuyến khích bố thí, giữ giới, thiền định để phát triển vipassanā. Thân kiến sinh khởi bởi vì không biết về thực tại. Do đó, nhận biết về sự khác biệt rõ ràng trước rồi hãy làm phước thiện sau.  Ví dụ như thợ săn bắn một con chim bằng mũi tên độc nhưng mũi tên chỉ trúng vào da. Con chim tiếp tục bay xa khi chất độc chưa lan ra, nhưng khi chất độc lan ra khắp cơ thể thì nó bị rơi xuống. Theo cách tương tự, bất kỳ phước thiện nào làm với tà kiến chỉ tạm thời đi lên và sau đó lại rơi xuống bởi tà kiến.

Tại sao tà kiến sinh khởi? Khi Đức Phật xuất hiện, có nhiều bậc thánh nhân xuất hiện theo, nhưng con người vẫn bị tà kiến bởi vì họ không được gặp và không được nghe giáo pháp từ các bậc thánh nhân ấy. Ngày nay con người vẫn bị tà kiến bởi vì họ không có cơ hội nghe giáo pháp, nên không bao giờ xua tan được tà kiến. Không có gì quan trọng hơn là xua tan thân kiến. Khi năm uẩn sinh khởi và không  biết chúng sinh khởi sẽ trở thành thân kiến.

Ví dụ, có cảm giác căng cứng trên cơ thể, bạn lấy tính chất căng cứng của yếu tố đất (paṭhavī) và nghĩ rằng ‘tôi đang căng cứng’. Đối với người hiểu biết, thì đó chỉ là sự thay đổi của yếu tố đất. Đừng trộn lẫn yếu tố ‘đất’ với ‘tôi’, đất chỉ là đất, nóng và lạnh cũng vậy, đừng trộn thành ‘tôi nóng, tôi lạnh’, nóng lạnh chỉ là yếu tố lửa (tejo). Khi bị tiêu chảy, ‘tôi không biết điều gì đang xảy ra’, coi yếu tố nước (āpo) giống như ‘tôi’, ‘của tôi’,… cứ như vậy họ coi tứ đại (mahābhūta) như là ‘tôi’. ‘Chân tôi bị ngứa’, không biết về thọ uẩn sinh khởi và biến mất trở thành thân kiến. ‘Tôi quên’ là tạo nên cái ‘tôi’ vào trí nhớ. ‘Tôi muốn ngủ’, tạo cái ‘tôi’ vào hôn trầm và thuỳ miên của hành uẩn. ‘Đừng kiểm tra tôi’, nhận thức giống như ‘tôi’. Mỗi khi các hiện tượng thực tại chân đế sinh khởi và biến mất đều bị trở thành tà kiến. Chúng diễn ra bao nhiêu lần trong một ngày? Không thể đếm được!

Khi nào không có thân kiến ở đó? Bất cứ hiện tượng nào sinh khởi, quan sát hiện tượng đó giống như ‘không phải là tôi’, ‘không phải là của tôi’, ‘không phải là tự ngã của tôi’, sau đó thân kiến sẽ bị xua tan. Quán tưởng sự sinh khởi của thọ, của tâm cũng như các trạng thái của tâm là vô thường, khổ và vô ngã. Những người đã xua tan được thân kiến sẽ không bao giờ rơi xuống bốn cõi khổ.

Pháp nào có thể phá huỷ thân kiến? Thực hành Bát Thánh Đạo sẽ vượt qua được thân kiến.

Có sự khác biệt giữa các yếu tố của Bát Thánh Đạo? Bát Thánh Đạo được chia làm ba nhóm riêng biệt: nhóm về giới (sīla), nhóm về định (samādhi) và nhóm về tuệ (pañña).

Tại sao có ba yếu tố khác biệt trong nhóm về định? Bởi vì chúng không thể thực hiện công việc một cách riêng lẻ. Với sự trợ giúp của chánh niệm (sammā-sati) và chánh tinh tấn (sammā-viriya) nên chánh định (sammā-samādhi) phát triển. Chú giải đưa ra một ví dụ, làm thế nào để hái bông hoa trên cao mà bạn không thể với tới? Người thứ nhất đưa tay và cong lưng của anh ta cho người thứ hai leo lên. Người thứ hai leo lên lưng người thứ nhất còn người thứ ba đứng bên cạnh người thứ nhất và đưa vai cho người thứ hai bám vào. Tương tự như vậy trong thực hành vipassanā, người thứ nhất uốn cong lưng được ví như chánh tinh tấn. Người thứ ba đứng bên cạnh tương tự như chánh niệm. Chánh định giống như người thứ hai hái bông hoa đó. Chánh niệm và chánh tinh tấn là các yếu tố hỗ trợ cho chánh định. Trong vipassanā, không có nỗ lực, không có chánh niệm thì không thể có chánh định. Chỉ sau đó định mới có thể trực tiếp hướng tới đối tượng. Muốn phát triển định thì đừng rời xa niệm và cũng đừng giảm nỗ lực. Phải có định tâm mới có thể nắm bắt được vô thường. Nếu bạn không thể nắm bắt được vô thường, nghĩa một trong ba yếu tố này đang bị thiếu.

Ba yếu tố này rất quan trọng, chánh tinh tấn đang đẩy từ phía sau và chánh niệm đang giúp chánh định hái bông hoa trên cao. Điều này chỉ diễn ra khi hội tụ đủ ba yếu tố lại với nhau. Nếu thiếu một trong ba yếu tố, bạn phải nhận ra và sửa chữa. Chánh định sẽ hướng đến đối tượng của vô thường, nhưng định không thể nhìn thấy, chỉ dẫn đến đối tượng. Để hướng tâm về một nơi thì cần phải có định. Chỉ có trí tuệ mới nhìn thấy vô thường. Vô thường cũng không được thấy bởi chánh niệm, chánh niệm chỉ hướng về phía đó. Ba yếu tố kết hợp với nhau và trực tiếp hướng đến một đối tượng giác quan nhưng không thể nhìn thấy vô thường. Bạn phải biết điểm này, đây là điều quan trọng đối với thiền sinh. Định chỉ chạm tới bông hoa, nó không thể chọn tốt hay xấu. Tại sao vậy? Nó chỉ trỏ đến đối tượng. Cái này là vô thường và là hiện tượng có điều kiện, ở đó không liên quan tới định, định là yếu tố giúp ích cho trí tuệ.

Tại sao tuệ được chia làm hai yếu tố khác nhau? Đó là chánh kiến (sammā-diṭṭhi) và chánh tư duy (sammā-saṅkappa). Tại sao chúng lại đi cùng với nhau? Đôi mắt đang trong tình trạng tốt, nhưng để chọn một vật là tốt hay xấu, cần phải có một cái gì đó quay xung quanh đối tượng đó. Ví dụ, khi bạn thấy một đối tượng nhưng chỉ mới nhìn được một phần của đối tượng, bạn không thể nhìn thấy những phần khác của đối tượng. Để nhìn thấy những phần khác của đối tượng, bạn phải đi xung quanh đối tượng để quan sát. Phần này  như thế này, phần kia như thế kia. Chánh tư duy cung cấp cái nhìn, cái nhìn về vô thường.

Trí tuệ đang quan sát đối tượng. Sinh khởi là một cái gì đó và biến mất là một điều khác. Ai đó phải cung cấp cái này để quan sát, chỉ thấy sinh mà không thấy diệt, chỉ thấy diệt mà không thấy sinh, và sau đó chánh tư duy trở nên yếu.

Sammā là đúng, chân chánh và saṅkappa là tư duy, suy nghĩ; sammā saṅkappa là suy nghĩ, tư duy đúng đắn. Tôi muốn đưa ra một ví dụ: dùng kính để hỗ trợ cho người có thị lực yếu. Khi đeo kính sẽ thấy một chàng trai trẻ và nhìn thấy rất rõ ràng với sự giúp đỡ của cái kính. Không có kính bạn vẫn thấy nhưng không rõ ràng. Mắt ở đây là chánh kiến, và cái kính là chánh tư duy. Theo cách này có thể nhìn thấy toàn bộ quá trình. Nếu bạn không thể nhìn rõ, sẽ được trợ giúp từ chánh tư duy. Tư duy, suy nghĩ là vitakka, và nó mang lại sức mạnh cho sự quan sát.

Tại sao giới lại được chia làm ba yếu tố khác nhau? 

Do cùng là kiêng tránh nên chúng cùng thuộc nhóm giới (sīla) nhưng có nhiệm vụ khác nhau. Nếu một yếu tố tồn tại thì hai yếu tố kia không được bao gồm. Chánh ngữ (sammā vāca) và chánh nghiệp (sammā kammanta) thực hiện những công việc khác nhau, do vậy cái này không thể giúp cái kia trong quá trình chúng xuất hiện. Chúng có nghiệp khác nhau. Đối với thiền sinh, giữ gìn năm giới và thỉnh thoảng giữ tám giới. Định và tuệ có thể đi cùng nhau nhưng giới thì không, vì vậy giới không thể giúp những yếu tố khác. Xuyên suốt quá trình thực hành vipassanā giới không được bao gồm. Nếu cái này được bao gồm thì cái kia không.


Khi nào thì giới, định, tuệ đi cùng với nhau? 

Đó là thời điểm tâm hướng về Niết Bàn. Tuy nhiên không có nghĩa là chúng không đi cùng nhau, khi thực hành bạn phải giữ giới, giới không trong sạch là một trong các nguyên nhân khiến chúng không đến được với nhau. Chưa có chánh kiến thì giới vẫn chưa ổn định, chánh kiến giúp phát triển vipassanā. Ai đó có tà kiến không thể dựa vào giới và dễ dàng phá vỡ các quy định của giới. Những nhà sư có giới nhưng chưa xua tan được tà kiến vẫn có thể tái sinh thành naga hay con rận. Hãy tự do khỏi bốn cõi khổ bằng cách phá huỷ tà kiến. Tà kiến là mầm mống của địa ngục, cái mà tôi nhắc nhở các bạn hàng ngày, điều này đang trở nên rõ ràng.

Nếu bạn nhổ tận gốc dễ thân kiến, thì thường kiến và đoạn kiến cũng biến mất theo. Cả hai đều bắt nguồn từ thân kiến, chỉ khi thân kiến mất đi bạn mới nhận ra được Thánh Đạo đầu tiên.

Diṭṭhi nirodho Nibbānaṃ

Chấm dứt của tà kiến là Niết Bàn.

Sau khi tà kiến ra đi, không có pháp nào có thể ngăn cản hay cản trở đối với những Thánh Đạo cao hơn. Từ đây trở đi giáo pháp sẽ dẫn đầu, và công việc thực hành vẫn được tiếp tục. Sau khi tà kiến bị phá huỷ thì không cần ai dạy về Đạo lộ cao hơn. Đức Phật chỉ dạy về bốn nhân để nhập vào dòng thánh, và không áp dụng cho các Đạo lộ cao hơn. Tà kiến biến mất thì hoài nghi cũng biến mất. Do vậy, ngăn cản tất cả các Đạo Quả là tà kiến. Sau khi nhổ tận gốc dễ tà kiến, không ai có thể tái sinh quá bảy kiếp. Mỗi khi bạn nhìn thấy pháp chân đế, hãy quán tưởng đó không phải là tôi, không phải của tôi, không phải là tự ngã của tôi và chúng có bản chất là vô thường.

Tà kiến bị mắc kẹt ở đâu? 

Tà kiến xuyên vào bên trong các uẩn như là phiền não ngủ ngầm (anusaya kilesa). Nếu bạn thấy vô thường trong các uẩn thì tà kiến sẽ không thể đi vào. Ví dụ, cảm thọ khổ mà bạn cảm giác trên thân xảy ra trong thời gian dài vì bạn không nhìn thấy sự thay đổi hoặc cắt đứt được sự liên tục (santati). Nếu bạn coi các uẩn là thường hằng thì tà kiến sẽ đi vào, ngược lại nếu bạn có thể quan sát vô thường một cách chi tiết thì tà kiến sẽ dần biến mất. Thấy các uẩn trong hiện tại chỉ là sinh và diệt thì tà kiến không thể vào trong các uẩn này được. Nhìn thấy vô thường và không có khe hở là rất quan trọng, nếu không tà kiến tiếp tục đi vào trong. Vì vậy tôi luôn yêu cầu bạn nhìn vô thường nhiều và nhiều hơn nữa.

Bạn nghĩ gì khi tôi yêu cầu bạn làm như vậy? Tôi lo lắng tà kiến sẽ vào bên trong. Nếu bạn quan sát một cách khăng khít, không có kẽ hở giống như không thể đưa đầu kim vào bên trong cơ thể thì tà kiến không thể vào trong. Thực hành theo cách này, tà kiến bị yếu đi và trở thành chánh kiến. Bản chất tự nhiên của thân và tâm được đóng gói do sự thay đổi liên tục và không có khoảng trống ở giữa. Trong một giây, tâm sinh diệt với tốc độ trăm nghìn tỷ lần (~1013). Vì vậy nó không có khoảng cách. Tốc độ thay đổi của thân là năm nghìn tỷ lần trên một giây (5*1011). Nếu tà kiến có sức mạnh thì vô thường bị gián đoạn, nếu chánh kiến có sức mạnh thì vô thường được gia tăng. Chúng đang chống lại nhau. Nếu tà kiến quá mạnh thì không thể thấy vô thường. Nếu chánh kiến quá mạnh thì có thể thấy vô thường ngay khi mới bắt đầu ngồi thiền.

Cần phải phân biệt được giữa tốc độ vô thường trong tâm và trong thân thì mới nhận ra Niết Bàn không? Bạn nhận ra Niết Bàn mà không cần biết tỷ lệ này, điều này được biết dựa vào sức mạnh của định tâm. Đây là kinh nghiệm của người đã đi hết con đường, các vị ấy đã nói bằng năng lực của riêng mình. Điều này không dành cho người còn đang thực hành, đây là năng lực của các vị A La Hán.

Tại sao quan điểm của kẻ phàm phu và bậc thánh nhân không giống nhau? Bởi vì phàm phu có rất nhiều phiền não bên trong, do đó có rất nhiều dòng tâm hữu phần (bhavaṅga citta) ở giữa các quá trình nhận thức. Đức Phật chỉ có 2 bhavaṅga ở giữa, của ngài Sāriputta là 16 bhavaṅga ở giữa, còn đối với các bạn có rất nhiều bhavaṅga sau mỗi lần nhận thức. Tâm hữu phần bhavaṅga thì không có vấn đề gì bởi vì tâm đó không có phiền não. Nếu phiền não đi vào trong nó sẽ trở thành vấn đề.

Do đó trong Anguttara Nikaya, Đức Phật nói rằng nếu phiền não không ở giữa, thực hành vào buổi sáng và có thể chứng ngộ vào buổi tối. Không đề cập tới tâm bhavaṅga, bhavaṅga là thông thường và là quy luật của pháp. Số lượng bhavaṅga dựa trên nhân của tâm.

Định (samādhi)

Bát Thánh Đạo là con đường Trung Đạo. Các bạn chưa bao giờ đi trên con đường Trung Đạo trong toàn bộ vòng tái sinh luân hồi (saṃsāra). Nếu các bạn đã từng đi, sẽ không bao giờ quay trở lại. Trên con đường Trung Đạo, định (samādhi) là yếu tố rất quan trọng.

Thế nào là định? Tâm an trú tại một điểm gọi là định (ekaggatā citta). Định lấy một điểm làm đối tượng, cái gì làm đối tượng? Nếu đối tượng là thọ thì chỉ có thọ, đối tượng là tâm thì chỉ có tâm chứ không phải là những đối tượng khác. Hướng đến một đối tượng và tập trung trên một đối tượng là ekaggatā. Nếu bạn có thể tập trung trên một đối tượng, phiền não sẽ được vượt qua.

Cái gì là dấu hiệu của samādhi? 

Có bốn niệm xứ là: thân, thọ, tâm và pháp, định theo sau chánh niệm hướng đến bốn đối tượng đó. Nếu định trên thọ thì sẽ rơi vào thọ ngay lập tức, bằng cách này bạn biết về thọ. Nếu định trên tâm thì sẽ rơi vào tâm và chánh niệm cũng rơi vào đó. Nhất tâm phải hoạt động với các đối tượng Satipaṭṭhāna. Dấu hiệu của định là cơ thể biến mất và chỉ còn biết trên tâm hoặc thọ. Ví dụ khi chánh niệm trên cảm thọ, định rơi vào cảm thọ và không biết gì khác. Do đó nó cũng trở thành dấu hiệu của Satipaṭṭhāna.

Chánh niệm rơi vào đối tượng nên dấu hiệu thường hằng của đối tượng đó biến mất. Sau đó, dấu hiệu vô thường xuất hiện và cũng là dấu hiệu của Satipaṭṭhāna. Nhìn thấy dấu hiệu vô thường thì hình dáng của người đàn ông hay người đàn bà biến mất. Liệu định có thể tự nó dẫn đến hiểu biết không? Định phải bao gồm các yếu tố khác của Satipaṭṭhāna, đó là nỗ lực (viriya). Nỗ lực hướng đến đối tượng nên dấu hiệu thường hằng biến mất, và chánh niệm cùng trí tuệ nhìn thấy dấu hiệu của vô thường. Đây là nhìn thấy bằng sự giúp đỡ của nỗ lực. Nỗ lực và định là các thành phần của định. Chánh niệm và trí tuệ là các thành phần của trí tuệ.

Những yếu tố mà chúng ta đang nói đến theo những cách khác nhau đều có mặt trong sự quán tưởng tính vô thường. Liệu có thể nhận ra Niết Bàn theo cách này không? Đối tượng cần phải được quán sát trong nhiều lần (bhāvetabba). Tại sao? Phiền não giống như cái bát cũ bằng đồng, liệu cái bát cũ có thể được sáng bóng chỉ bằng một lần đánh bóng không? Ngay từ khi sinh ra các bạn đã chất đầy phiền não giống như cái bát đồng cũ.

Không thực hành thiền Tứ Niệm Xứ, không thực hành nhất tâm, không nỗ lực quan sát nên tâm ngày càng nhiều phiền não và ô uế  như cái bát đồng cũ. Ngay từ khi mới lọt lòng, các bạn lớn lên với bà mẹ tham ái (taṇhā) và ông bố vô minh (avijja), các bạn được nuôi lớn trên bàn tay và sự chăm sóc của họ. Họ rất lo lắng nếu các bạn nhận ra Đạo Quả và giải thoát khỏi vòng tay họ. Vô minh che đậy Tứ Thánh Đế còn tham ái dạy các bạn  dính mắc vào cha mẹ, con cái và tài sản. Các bạn đang làm những việc mà vô minh và tham ái muốn các bạn làm. Vì vậy phiền não ngày càng chồng chất.

Chúng tồn tại được bao lâu rồi? Trong toàn bộ vòng luân hồi trước đó chúng đã không được đánh bóng. Giữa chúng và bạn là những tên vệ sĩ tà kiến (diṭṭhi). Tà kiến luôn kiểm soát bạn và nói với bạn rằng đây là bố của bạn và kia là mẹ của bạn. Bình thường các bạn để đó chứ không bao giờ cọ rửa và đánh bóng. Vì vậy chúng chồng chất bụi bặm. Đây là lý do bạn không thể nhận ra Niết Bàn. Khối lượng của vô minh (avijja), tham ái (taṇhā) và tà kiến (diṭṭhi) đang tăng lên. Do vậy chúng cần phải được quán sát nhiều lần, bằng việc đánh bóng đi đánh bóng lại chiếc bát đồng cũ mà bạn để lâu ngày sẽ trở nên sáng bóng. Tương tự như vậy, phải quan sát liên tục vô số lần với nỗ lực không ngừng nghỉ. Quan sát liên tục làm giảm vô minh, tham ái và tà kiến.

Minh sát tuệ cần phải thực hành hết lần này qua lần khác chứ không phải như Đạo tuệ. Đạo tuệ nhìn thấy Niết Bàn chỉ một lần duy nhất, chỉ phát sinh đúng một lần. Giống như qua sông bằng thuyền, có một con thuyền và người lái thuyền xếp hàng lên thuyền rồi chèo sang bờ bên kia. Con thuyền đang làm bốn việc: rời khỏi bờ bên này, sang đến bờ bên kia, mang tải hàng hoá và vượt qua dòng sông. Ở đây con thuyền giống như Đạo tuệ, băng qua dòng sông ô nhiễm một lần duy nhất. Rời khỏi bờ của tà kiến bên này và đến bờ Niết Bàn bên kia. Con thuyền cũng đang chở các uẩn. Đạo tuệ xảy ra một lần và kết thúc bốn việc, từ sự vô thường của các uẩn, nó thấy sự vĩnh cửu của Niết Bàn.

Xuyên suốt quá trình thực hành, nhất tâm là quan trọng và cũng là dấu hiệu của Satipaṭṭhāna. Cùng với sự giúp đỡ của nỗ lực là quan trọng không kém, tất cả mọi thứ diễn ra một lần là không đủ, cần phải quan sát nhiều lần. Đức Phật nhấn mạnh điểm này giống như con gà mái mẹ ấp những quả trứng. Con gà mái bận rộn với ba công việc. Bạn cũng bận rộn với vô thường, khổ và vô ngã. Nếu không được ấp đúng cách, thực hành đúng cách những quả trứng sẽ bị hư hỏng và hiểu biết của bạn sẽ mờ nhạt đi.

Quan sát liên tục, lớp vỏ của vô minh bị mỏng đi và chất lỏng của tham ái dần cạn kiệt. Trí tuệ giống như mỏ của gà con bên trong quả trứng ngày một cứng cáp hơn. Bạn phải quan sát trên những quả trứng vô thường, chất lỏng phiền não khô đi và lớp vỏ vô minh mỏng hơn. Khi mỏ và móng vuốt của con gà cứng và sắc nhọn, gà con có thể mổ vỏ từ bên trong và chui ra. Hành thiền giống như con gà mái ấp trứng, bạn phải ngồi trên những quả trứng thường xuyên, nếu không, tuệ giác không thể sinh khởi.

Ánh sáng xuất hiện nghĩa là nhận ra Niết Bàn. Khi chất lỏng phiền não khô đi và lớp vỏ vô minh mỏng hơn sẽ nhìn thấy ánh sáng. Móng vuốt nhọn tương tự như trí tuệ sắc bén. Đức Phật nói rằng người nào nỗ lưch thực hành sẽ tiêu diệt được các lậu hoặc (asāva). Do phiền não tâm không thể thâm nhập được vào sâu. Thậm trí ngay cả bản thân phiền não cũng không kiên định. Chúng có sức mạnh của tình trạng lặp lại (asevana paccava), do đó tâm không thể thâm nhập vào sâu.

Khi trở về nhà và quan sát cơ thể, bạn không còn thấy cơ thể này như một khối u. Hãy quan sát về thọ, về tâm, nếu bạn biết cách thực hành thì cơ thể sẽ biến mất. Nếu bạn không thực hành thì hình dạng bàn tay, bàn chân hay 32 bộ phận của cơ thể vẫn tiếp tục xuất hiện.

Tiếp theo thánh tăng ni Dhammadinna giải thích về bảy yếu tố dẫn đến giác ngộ (bojjhaṅga). Vị ấy giải thích các yếu tố dẫn đến giác ngộ theo cách này. Trạch pháp giác chi (dhammavicayasambojjhaṅga) thuộc về chánh kiến. Đây là con đường dẫn đến Niết Bàn bằng sự thức tỉnh (bodhi). Bodhi nghĩa là biết, tỉnh thức, nó cũng bao gồm quan sát nhiều lần (bhāvita bahulīkata) các yếu tố dẫn đến giác ngộ. Do đó chánh kiến (sammā diṭṭhi) và trạch pháp giác chi giống nhau. Chánh kiến nếu chỉ nhìn thì không đủ, các chi phần giác ngộ cần phải được quan sát nhiều lần để chánh kiến nhận ra. Bạn có thể nghĩ rằng các chi đạo thì không cần quán tưởng nhiều lần. Vì vậy, tôi nói về chúng ở đây. Cả hai đều là các yếu tố về trí tuệ. Nếu bạn thực hành trên các chi đạo thì cũng bao gồm các yếu tố giác ngộ trong đó. Tại sao lại nói về hai điều này? Các chi đạo cắt đứt phiền não và yếu tố giác ngộ làm phát triển các chi đạo.

Quan sát lập đi lập lại mà vẫn chưa thấy Niết Bàn thì đừng cho là lãng phí thời gian. Đức Phật ví điều này giống như cán cưa của người thợ mộc. Nếu dùng một lần thì bị mòn một lần, nếu bạn liên tục sử dụng thì cán cưa bị bào mòn liên tục. Không thể đến Niết Bàn chỉ bằng những lời cầu nguyện. Lúc đầu cán cưa trơn tru, nhưng sau đó các vết hằn từ ngón tay xuất hiện trên đó.

Phiền não được huân tập và phát triển trong các vòng luân hồi nên rất sâu dày, vì vậy nếu không liên tục quan sát thì liệu phiền não có mỏng đi được chút nào không? Chỉ thiền Minh Sát mới có tác dụng làm giảm phiền não. Đừng thất vọng và bỏ cuộc. Nếu phiền não mỏng đi, việc thực hành đang phát triển. Mỗi khi nhìn thấy sự vô thường là phiền não đang mỏng dần đi. Càng quan sát chúng càng trở nên mỏng hơn. Phiền não bị bào mòn dần và cuối cùng sẽ bị tiêu diệt và tuyệt chủng.

Tinh tấn giác chi (viriyasambojjhanga) cũng phải được phát triển. Bạn đừng cho rằng thực hành không bao gồm hỷ giác chi (pītisambojjhanga). Hỷ đã ở bên trong định, tôi chỉ đang nói về những yếu tố dẫn đầu. Hỷ được bao gồm trong sự liên kết với định. Mỗi một cảm thọ lạc (sukhavedāna) khi quan sát đều bao gồm hỷ ở trong đó. Hỷ không phải là yếu tố dẫn đầu, mà là yếu tố đi sau. Quan sát mà không có hỷ thì lười biếng sẽ theo sau. Đức Phật nói rằng cần quan sát với hỷ và tạo nên sự thích thú, vì vậy hãy quan sát mọi thứ giống như bạn chưa bao giờ nhìn thấy trước đó.

Cặp mắt của Phạm thiên có thể nhìn xuyên qua thế giới loài người từ cách xa bốn trăm tỷ do tuần (1 do tuần = 10km). Nhưng họ không thấy được vô thường. Họ nhìn bằng con mắt thế gian (lokiya). Ở đây các bạn nhìn bằng con mắt siêu thế. Vì vậy bạn nhìn thấy tính vô thường thì tốt hơn tầm nhìn của các vị Phạm thiên. Một phiến đá rơi từ thế giới Phạm thiên sẽ mất một tháng rưỡi để xuống tới trái đất. Đôi mắt của họ là thiên nhãn. Cặp mắt thuộc về thời gian nằm ngoài lời dạy của Đức Phật, chúng chỉ là cặp mắt định, còn ở đây là cặp mắt trí tuệ. Không dễ để có được cặp mắt trí tuệ này. Ở đây có cái ngứa và ở đây ngứa biến mất. Thọ sinh khởi và biến mất, đó là cặp mắt trí tuệ. Đó là cặp mắt trạch pháp giác chi hoặc bạn có thể gọi là cặp mắt của chánh kiến hay trí tuệ. Các vị Chư Thiên hay Phạm thiên không thể nhận ra Niết Bàn vì họ thiếu cặp mắt này. Do đó sau khi qua đời họ quay trở lại thế giới loài người và cõi súc sinh.

Hàng trăm ngàn năm trước ngày tận thế, loài người sợ hãi về ngày tận thế sắp tới. Do sợ hãi nhiều người đã phát triển sức mạnh thần thông và phần lớn trong số họ trở thành các vị Phạm thiên. Tất cả những điều này là do thực hành thiền chỉ (jhana) nhưng khi thời gian đến họ sẽ quay trở lại. Dù cho con mắt này có thể nhìn thấy chiếc kim từ rất xa thì cũng không thể phân biệt được ba đặc tính vô thường, khổ, vô ngã. Họ thực hành thiền chỉ với mong muốn cho sự trở thành (bhava taṇhā). Tuy nhiên họ cũng có những nghiệp bất thiện, nên sau khi rơi khỏi cõi Phạm thiên, thậm chí một số trường hợp trở thành lợn. Tất cả các bạn từng là Phạm thiên trước đây hoặc từng là Chư Thiên trong khoảng thời gian không đếm được. Nhưng bạn chưa bao giờ thoát khỏi tuổi già, bệnh tật và cái chết, và chưa từng có cặp mắt trí tuệ trước đây. Không gì có giá trị hơn cặp mắt này.

Dục lạc của cõi trời là tốt nhưng vua trời Sakka (tāvatiṃsa) đã tự mình xuống trái đất để thực hành. Vị ấy có đôi mắt nghiệp lực chứ không phải là đôi mắt trí tuệ. Phân biệt vô thường còn vượt hơn cả vua trời Sakka và chúa Phạm thiên. Sau khi nhận ra được vô thường là sự sinh khởi của trí tuệ sinh diệt sẽ và vô thường kết thúc sẽ chắc chắn nhận ra Niết Bàn.

Bạn phải làm việc nỗ lực để có được đôi mắt trí tuệ vì trong tương lai bạn khó có cơ hội gặp được thầy tốt và giáo pháp giống như thế này. Rất ít người có được đôi mắt trí tuệ trên phạm vi toàn thế giới, vì vậy bạn phải chánh niệm để thấy nhiều hơn và rõ ràng hơn. Đừng trao đổi địa vị với Chư Thiên hay Phạm thiên, bạn là vàng và họ là muối. Bạn phải biết giá trị của chính mình. Họ thậm chí mong muốn trở thành con người để có được trí tuệ này.

Cảm thọ (vedanā). Có bao nhiêu cảm thọ ở đó? 

Có ba dạng cảm thọ là thọ hỷ (somānassa vedanā), thọ ưu (domānassa vedanā) và thọ trung tính (upekkha vedanā). Khi cảm thọ này tồn tại thì các cảm thọ khác không tồn tại, luôn chỉ có một trong ba cảm thọ xuất hiện. Bạn cần bắt kịp với một trong ba cảm thọ đó khi chúng xuất hiện. Để thực hành tốt bạn phải có kiến thức về chúng. Trên thân có các cảm giác dễ chịu (sukha vedanā), cảm giác khó chịu (dukkha vedanā) hoặc luôn có một cảm giác nào đó xuất hiện.

Mắt, tai, mũi, lưỡi là các cảm thọ trung tính, tại sao? Trong cái nhìn chỉ có cái nhìn, nên cảm thọ đó là trung tính. Sau khi nhìn, tốt hơn nếu nó không tiếp tục. Trong cái nghe chỉ có cái nghe, không trở thành dễ chịu hay khó chịu về âm thanh. Trong cái mùi chỉ là cái mùi và bạn sống với thọ trung tính. Nếu bạn phản ứng với đối tượng như là sự thất vọng thì tâm sẽ đến giai đoạn tích cực của quá trình nhận thức, gọi là tâm đổng lực (javana citta). Tâm chuyển thành trạng thái sân, mặc dù ở thời điểm ban đầu chỉ là trạng thái trung tính. Trong cái ăn chỉ có cái ăn cũng là trung tính nhưng phản ứng với thức ăn giống như là thích hay gét sẽ trở thành tâm đổng lực. Ngứa chỉ là ngứa, đau chỉ là đau nghĩa là các cảm thọ đang diễn ra trên khu vực của chúng thì đó chỉ là cảm thọ trung tính. Nhưng khi cơ thể bị lạnh, cảm giác khó chịu xuất hiện hoặc sưởi ấm với lửa nên cơ thể cảm thấy dễ chịu, những điều này sẽ trở thành tâm đổng lực.

Hôm nay các bạn sử dụng cảm thọ làm đối tượng cho tâm quan sát. Nếu bạn thoả mãn trong cái nghe, đó là thọ hỷ, nếu bạn không thoả mãn thì nó là thọ ưu. Bất cứ điều gì đang diễn ra, chúng đều ổn sẽ trở thành thọ trung tính. Tất cả các cảm thọ mà tôi vừa đề cập, nếu một trong số chúng còn ở đó thì những cảm thọ khác bị loại trừ.

Tại sao Đức Phật gọi các cảm thọ là thọ uẩn (vedanakhandha)? 

Bởi vì cảm thọ luôn diễn ra mọi lúc. Bạn có cần phải tìm kiếm cảm thọ ở đâu đó hay không, bạn có thấy cảm thọ sinh khởi không? Trên cơ thể có những cảm giác dễ chịu (sukha) và khó chịu (dukkha), trong tâm có những cảm xúc vui (somānassa) hay cảm xúc buồn (domānassa). Ngoại trừ đầu lông, đầu móng tay, móng chân, mọi nơi trên thân đều có thể phát sinh cảm giác. Cảm thọ được điều kiện bởi các hiện tượng có điều kiện, ví dụ cảm thọ trên mắt sinh khởi do tiếp xúc giữa mắt và cảnh sắc. Nếu đôi mắt bị mù sẽ không thể phát sinh cảm thọ trên mắt. Đó chỉ là hành (saṅkhara) và rơi vào vô ngã. Sabbe saṅkhara anicca, tất cả các hành đều vô thường. Chúng sinh khởi do điều kiện bởi những yếu tố khác.

Khi bạn không chánh niệm, sau khi nhìn thấy và mong muốn thì tâm sẽ tiếp tục tiến trình của tham ái (taṇhā), bám víu (upadana) và nghiệp (kamma). Nhìn thấy với sự không hài lòng, kinh tởm, thì tức giận (dosa) dẫn đến tiến trình duyên sinh tiếp tục. Thiếu chánh niệm nên không nhìn thấy rõ ràng (moha) dẫn đến sự phát sinh vòng nhân duyên của vô minh. Như vậy, không có chánh niệm và tỉnh giác trên nhãn căn tạo ra ba cách cho vòng tròn duyên sinh sinh khởi. Do không biết những điều này bạn nghĩ rằng chúng không quan trọng.

Đức Phật dạy rằng nếu không biết về pháp Duyên Sinh thì còn tệ hơn là sử dụng cục sắt nóng chọc vào mắt. Cục sắt nóng chọc vào mắt gây ra cái chết một lần nhưng khi nhìn mà thiếu chánh niệm dẫn đến chết và tái sinh đau đớn nhiều lần. Nhìn với chánh niệm sẽ nhanh chóng nhận ra các hiện tượng có điều kiện và không đồng hoá với chúng, sau đó pháp Duyên Sinh cắt đứt ba pháp bất thiện, không cho chúng sinh khởi.

Thánh tăng ni Dhammadinna trả lời các câu hỏi và tôi áp dụng điều đó vào thực hành, để chúng trở nên rõ ràng hơn. Biết về sự sinh khởi và diệt đi sẽ tự do khỏi các lậu hoặc. Trong tiến trình nhìn nếu tham ái sinh khởi, nó trở thành lậu hoặc của các dục lạc giác quan. Không biết là lậu hoặc của vô minh. Dễ dàng để nói, nhưng trong sự quan sát thực sự thì nó trở nên muộn màng.

Bạn có thể dừng lại ở việc chỉ nhìn thấy không? Nếu bạn không thể dừng lại thì hãy nhanh chóng quan sát về tính vô thường. Đức Phật nói rằng bằng việc quan sát về tính vô thường của cảm thọ khi gần chết có thể trở thành bậc thánh A La Hán và phá huỷ các lậu hoặc. Ngài Sariputta nhận ra Đạo Quả đầu tiên bằng việc quan sát trên thân và ba Đạo Quả sau bằng cảm thọ. Sự chứng ngộ của ngài Sariputta đến trong thời gian nghe Đức Phật thuyết pháp. Tâm trở nên sắc bén khi quan sát trên sự thay đổi của các cảm thọ. Ngài Sariputta đã quan sát cảm thọ đồng thời với lắng nghe giáo pháp từ Đức Phật. Trí tuệ không thể phát sinh chỉ bằng nghe giáo pháp, lắng nghe và chánh niệm đồng thời có thể đạt được bậc thánh Tu Đà Hoàn hay thậm chí là bậc thánh A La Hán. Vì vậy tôi thường xuyên dạy bạn rằng tai dùng để nghe giáo pháp và tâm để quan sát các uẩn. Chỉ lắng nghe mà không quan sát thì không thể giác ngộ. Tâm không sắc bén nên không nhìn thấy sự thật, không thể bào mòn phiền não và không đạt được Niết Bàn. Cần phải lắng nghe và nỗ lực thực hành, đừng chỉ lắng nghe để lấy phước thiện. Kinh điển cũng dạy rằng cần phải lắng nghe và quan sát, ngược lại sẽ không thể ngăn chặn được tham ái và tà kiến.

Trong khi nghe, cũng như khi nhìn, nghe là hiện tượng có điều kiện. Không biết các hiện tượng có điều kiện thì không thể biết về vô ngã. Bất cứ hiện tượng gì sinh khởi trên thân cũng đều có điều kiện. Bản chất của sự kết thúc là vô thường. Các hiện tượng có điều kiện đang sinh khởi, trở thành và biến mất. Nếu bạn có thể quan sát theo cách này thì đó là pajānāti, nghĩa là hiểu biết tường tận. Bạn hiểu biết về cái gì? Biết về sự thay đổi của các hiện tượng có điều kiện. Du sĩ ngoại đạo Dīghanakha lắng nghe bài pháp cùng với ngài Sariputta, quán tưởng tính vô thường trong khi nghe và trở thành vị thánh Tu Đà Hoàn.

Khi bạn quan sát theo cách này thì ba cách kia của pháp Duyên Sinh sẽ không sinh khởi. Yadā paññāya passati, quan sát với trí tuệ khi chúng sinh khởi. Sự tiếp xúc của thân với các đối tượng bên ngoài cũng giống như vậy. Xúc chạm trên thân (kāyappasāda) là do sự tồn tại bởi nghiệp. Một chúng sinh còn sống và nghiệp cũ chưa kết thúc nên sự nhạy cảm trên thân vẫn tồn tại. ‘Cơ thể quá lạnh’, tâm sẽ trở thành sân. Do đó, nếu bạn biết cảm giác lạnh, ngay lập tức quan sát lạnh như vô thường. Khi bạn biết các hiện tượng duyên sinh đang sinh khởi, chúng sinh khởi (samudaya) rồi biến mất (vaya), thực tế là bạn nhìn thấy sự thật của khổ (dukkha sacca).

Magga sacca là sự thật của Đạo lộ. Nếu bạn hiểu rõ hoàn toàn bản chất của khổ thì điều đó trở thành Đạo tuệ. Chưa hiểu rõ hoàn toàn khổ thì mới chỉ là tuệ minh sát. Tại sao ông trưởng giả Visakha và tỳ khưu ni Dhammadinna lại bàn về các cảm thọ? Bởi vì đó là cách nhanh nhất để đạt đến A La Hán Đạo (arahattamagga). Điều này cũng được hướng dẫn bởi chính Đức Phật. Do đó chánh niệm, tỉnh giác trên cảm thọ được bao gồm trong kinh Tứ Niệm Xứ (satipaṭṭhāna), như vậy cảm thọ có thể chạm đến mục tiêu bởi chính nó. Ngài Sāriputta và du sĩ Dīghanakha thực hành với cảm thọ mà không sử dụng đề mục khác. Không biết về sự sinh khởi, không biết về sự đoạn diệt, thì chân lý về khổ luôn bị che dấu.

Đức Phật nói rằng tất cả các hiện tượng sinh khởi trên thân là sự thật của khổ. Không nhìn thấy các hành thì không thể quan sát vô thường. Cuộc vấn đáp giữa ông cư sĩ Visakha và tỳ khưu ni Dhammadinna tiếp tục bàn về các tuệ minh sát. Ở đây tôi sử dụng cảm thọ để miêu tả cho việc thực hành, hãy quan sát sự vô thường của bất cứ thọ nào đang sinh khởi, chúng luôn luôn sinh khởi trong mọi lúc.

Tôi chỉ lo ngại nếu bạn không biết cảm thọ sinh khởi. Không biết là vô minh. Bất cứ cái gì sinh khởi là Khổ Đế (dukkha sacca), không biết về khổ là vô minh. Vô minh không sống theo cách đó, chúng sẽ làm theo khả năng của chúng. Nếu vô minh đến, thân hành, khẩu hành và ý hành đi theo sau bởi vô minh, người ta sẽ trở thành vô liêm sỉ (vô tàm) và không sợ hậu quả (vô uý) giống như động vật. Điều này tới từ kinh Vô minh trong kinh Tương Ưng.

Tệ như thế nào? Không biết về bất cứ điều gì sinh khởi trong sáu cửa giác quan, không biết sự thật của khổ. Theo cách này con người tạo ra nghiệp trong đời sống hàng ngày mà phần lớn là nghiệp bất thiện.

Nói một cách ngắn gọn, thiền minh sát là quán chiếu về sự thật của khổ. Sự tiếp xúc của suy nghĩ và sự nhạy cảm của tâm tạo ra cảm giác dễ chịu hoặc khó chịu. Chúng là các hiện tượng có điều kiện, nếu các hiện tượng có điều kiện này trở thành dukkha ñāṇam, sự hiểu biết về khổ, thì đó chính là trí tuệ.

Avijja nirodha saṅkhāra nirodho

Vô minh diệt thì hành diệt

Saṅkhāra nirodha  viññāna nirodho

Hành diệt thì thức diệt.

Thức diệt thì tái sinh kết thúc. Đây là sự chấm dứt của tái sinh, không sinh (ajāti) là Niết Bàn. Như vậy lợi ích rõ ràng của quan sát là cắt đứt phiền não. Thực hiện công việc nhận biết khổ, tham ái được chấm dứt và khổ cũng chấm dứt.

Mỗi một khoảnh khắc quan sát là mỗi khoảnh khắc hướng đến Niết Bàn, vì vậy thật xứng đáng để bạn làm điều đó. Đạo tuệ sẽ xuất hiện khi tham ái chấm dứt. Các bạn tự làm sáng tỏ những nguy hiểm của chính mình bằng việc quan sát. Tham sân và si là các kẻ thù bên trong. Nếu bạn đưa ra nhiều lý do để không thực hành nghĩa là bạn đang tuân theo sự ô nhiễm của tham ái, kết quả bạn chỉ nhận được đau khổ từ tham ái mà thôi.

Ông Visakha tiếp tục hỏi rằng: Không quan sát các cảm thọ thì điều gì xảy ra? Nếu không quan sát các cảm thọ thì phiền não ngủ ngầm của tham ái sẽ theo sau. Tỳ khưu ni trả lời một cách vắn tắt nhưng bạn phải hiểu rằng cả tham ái (taṇhā), chấp thủ (upādāna) và nghiệp (kamma) sẽ bám theo. Chúng sẽ tiếp tục sự trở thành và vòng duyên sinh tiếp tục diễn ra, đây là quy luật của tự nhiên. Nếu bạn chết với tham ái, peta jāti, nghĩa là tái sinh ở cõi ngạ quỷ.

Tham ái bị theo sau bởi dục lậu (kāmāsava) trong sáu giác quan, chúng quyến luyến, mê say, chìm ngâm trong cõi dục. Từ dục lậu, hữu lậu (bhavāsava) sẽ theo bên cạnh. Rất khó để tìm được một người có chánh niệm. Mọi người đang vui cười với cảm thọ dễ chịu và nếu không quan sát cảm thọ khó chịu, tâm sân sẽ theo sau. Sân sinh khởi từ vô minh dẫn tới tái sinh trong cõi súc sinh, tức là bị theo sau bởi vô minh lậu (avijjāsava). 

Các lậu hoặc (āsava) này theo tới tận cõi Phạm thiên vô sắc cao nhất (arūpa brahma) hoặc cho đến tuệ Chuyển Tộc (gotrabhū ñāṇa) trong thiền minh sát. Khi những cảm thọ này sinh khởi, hãy nỗ lực quan sát. Nếu không, đó là con đường dẫn tới ngạ quỷ và súc sinh. Không quan sát cảm thọ trung tính vô minh lậu sẽ theo sau. Đây là cảm thọ vi tế, chỉ những người có trí tuệ mới có thể biết về nó. Phần lớn con người  tái sinh trong cõi ngạ quỷ hoặc súc sinh, điều này không đáng sợ đúng không?

Ngay cả khi làm các phước thiện mà không có trí tuệ đi cùng thì vô minh sẽ theo sau. Vô minh mang lại năng lực cho sự thèm muốn. Do thiếu hiểu biết nên mọi người thực hiện những lời cầu nguyện với tham ái, sau đó dục lậu và vô minh lậu bám theo. Vì vậy có nhiều phước thiện được tạo ra cho sự tiếp tục của tái sinh hơn là giải thoát khỏi nó. Đây không phải là kết quả của phước thiện mà là nhân của vô minh do thiếu hiểu biết và tiếp tục với những thèm muốn về bản thân. Thật hiếm có vị thầy nào có thể hướng dẫn lại cho các bạn những điều mà Đức Phật đã dạy.

Ông Visakha hỏi tiếp “Có ba phiền não ngủ ngầm theo sau cảm thọ mọi lúc?” Câu trả lời là không phải mọi lúc. Một người thực hành chánh niệm và quan sát về tính vô thường thì không bị theo sau bởi các phiền não ngủ ngầm. Đây là một lời khuyên nhủ.

Tôi phải đề cập tới cách thứ hai mà Đức Phật đã dạy rằng phước thiện có thể mang lại kết quả cho thiền định, cho Đạo và Quả. Nhưng những hiểu biết sai lầm trở thành nguyên nhân dẫn đến sự tái sinh lặp đi lặp lại. Hào phóng (cāga) là từ bỏ nên nó đang giết chết tham ái (taṇhā), từ bỏ tự ngã của mình, và giết chết thân kiến. Do đó bố thí là pháp tiêu diệt tham ái và thân kiến. Nếu bạn không biết làm thế nào để làm điều đó, sẽ trở thành ‘tôi có’, vì vậy ‘tôi cho’, khi đó thân kiến đi vào. ‘Tôi bố thí để tôi hưởng phước’ thì tham ái sẽ đi vào.

Kiến thức và trí tuệ thì rất quan trọng trong đời sống cũng như trong tu tập. Cần dựa vào sự hướng dẫn của người thầy có trí tuệ, phải biết chọn lựa lời dạy và xem xét những lời dạy có chạm đến trái tim bạn hay không. Nếu lời dạy dẫn đến sự thật thì đó là viên ngọc quý. Đức Phật thừa nhận rằng bản thân Ngài cũng không biết về sự thật trước đó nên đã phải lang thang rất lâu trong vòng luân hồi.

Tỳ khưu ni Dhammadinna miêu tả về con đường thực hành. Khi cảm thọ dễ chịu sinh khởi, nó là dễ chịu, và biến mất là khổ. Do đó quán tưởng cảm thọ dễ chịu giống như Khổ Đế, và sau đó cắt đứt phiền não ngủ ngầm của dục lạc giác quan trong vòng duyên sinh. Khi cảm thọ khó chịu sinh khởi, nó là khó chịu, và biến mất là lạc. Đối với cảm thọ trung tính, chỉ hành giả có trí tuệ sắc bén mới có thể nhận ra tính vô thường của nó. Cảm thọ khó chịu ngược lại với cảm thọ dễ chịu. Các bạn phải quan sát khi chúng sinh khởi. Chỉ một cảm thọ sinh khởi tại một thời điểm. Khi thọ khổ xuất hiện, quan sát thọ khổ, khi thọ lạc xuất hiện, quan sát thọ lạc. Quan sát các cảm thọ giống như sự thật về khổ.

Thế nào là đối lập? Khi cảm thọ này sinh khởi thì hai cảm thọ kia không có mặt, chúng luôn sinh khởi nhưng chỉ một trong số ba cảm thọ có mặt tại một thời điểm. Đừng nói rằng không tìm thấy bất kỳ cảm thọ nào sinh khởi để quan sát, điều này dường như không có vô thường ở đó. Nói như vậy cũng giống như nhìn thấy Niết Bàn. Tất cả các cảm thọ bị đoạn diệt là Niết Bàn. Do đó tiếp tục quan sát cho tới khi các cảm thọ kết thúc.

Khi tâm không thể thâm nhập vào ba cảm thọ, nó sẽ bị trộn lẫn vì tâm quan sát theo sau muộn. Các uẩn sinh khởi nhanh hơn tâm quan sát, có nghĩa là phiền não đi vào giữa, dẫn đến sự nhận biết diễn ra chậm hơn. Xuyên suốt quá trình quan sát, các cảm thọ lạc, cảm thọ khổ hoặc cảm thọ trung tính liên tục thay nhau sinh khởi.

Khi cảm thọ lạc xuất hiện, chỉ là thọ lạc đang sinh khởi, và tâm quan sát, khi đó phiền não không thể xen vào giữa. Nếu cái đau sinh khởi và nó tiếp tục đau, tâm quan sát không thể thâm nhập vào cái đau nên sân xen vào giữa. Cảm thọ dễ chịu tiếp tục dễ chịu thì tâm quan sát cũng không thâm nhập được vào nên tham ái xen vào giữa. Nếu thọ trung tính sinh khởi và tâm quan sát không thể thâm nhập được vào, vô minh xen vào giữa. Đây là điểm rất quan trọng đối với thiền sinh. Tham theo sau bởi thọ lạc, sân theo sau bởi thọ khổ, vô minh theo sau bởi thọ trung tính.

Không dễ để nói về những điều như thế này. Trong thực tế bạn có biết phiền não tới hay không, tâm quan sát có thể bắt kịp với từng thay đổi không? Bạn phải quan sát chúng, nếu chưa quan sát được thì bạn cần nỗ lực hơn nữa. Bạn sẽ nhận ra Niết Bàn, không nhận ra Niết Bàn bởi vì phiền não đang xen vào giữa quá trình thực hành.

Tuệ minh sát là trí tuệ đầu tiên cần phát triển. Chánh kiến về tuệ minh sát đến trước, chánh kiến Đạo tuệ theo sau và thấy Niết Bàn. Khi tuệ giác minh sát sắc bén thì Niết Bàn đến gần hơn. Không lười biếng thực hành bạn sẽ nhận ra điều đó. Không có chánh kiến về minh sát tuệ thì chánh kiến về Đạo tuệ không thể sinh khởi, điều này được đề cập trong Sagatha vagga Samutta.

Tuệ Thuận Thứ (anuloma ñāṇa) vẫn còn là trạng thái của vô thường. Tuệ giác này tạo điều kiện cho tuệ Chuyển Tộc (gotrabhū ñāṇa) sinh khởi và lấy Niết Bàn làm đối tượng. Trí tuệ sinh khởi theo quy luật tự nhiên mà không có chúng sinh nào cả. Đạo tuệ tới ngay sau tuệ Chuyển Tộc và nhìn thấy Niết Bàn. Do đó nếu không có tuệ giác minh sát thì Đạo tuệ không thể sinh khởi, thậm chí đứng giữa chúng là tuệ Chuyển Tộc cũng không thể sinh khởi.

Đừng để thất vọng và hoài nghi (vicikicchā) đến. Hoài nghi rằng tôi là người nhị nhân (duhetuka) hay tôi đã làm gì sai trái với ai đó, vì vậy tôi không thể nhận ra Niết Bàn. Đừng để những suy nghĩ này tồn tại trong tâm. Đức Phật đảm bảo rằng nếu bạn có thể lắng nghe giáo pháp và nhận ra vô thường thì sẽ nhận ra Niết Bàn. Không có phiền não xen vào giữa vô thường và tâm quan sát, bạn sẽ nhận ra Niết Bàn. Đừng quan tâm về những điều này, những người do nghi ngờ và hối hận sẽ bị dẫn tới tái sinh vào cõi khổ và không thể nhận ra Niết Bàn.

Tuệ Chuyển Tộc tới sau các tuệ giác minh sát khác nhưng tới trước Đạo tuệ. Đây là lộ trình tâm đắc đạo (vithicitta), chúng luôn đi theo tiến trình này. Lo lắng và hối hận (kukkucca) là pháp rất xấu và nguy hiểm cho con đường thực hành. Các bạn phải phá huỷ chúng bằng chính bản thân mình, thực hành không bao giờ là không có kết quả. Đức Phật luôn sách tấn thực hành. Trong giây phút hấp hối, người nỗ lực thực hành có thể nhập vào dòng thánh và thậm chí đạt tới bậc thánh Bất Lai. Nếu điều này không xảy ra thì chết với trí tuệ sáng suốt sẽ tái sinh vào các cõi trời và ngay sau đó có thể trở thành một vị thánh Nhập Dòng. Đức Phật đề cập đến điều này một cách chắc chắn trong Anguttara.

Tâm có hoài nghi (vicikiccha), hãy quan sát tính vô thường của hoài nghi. Sau đó tiếp tục quan sát trên các uẩn. Đối với những người quan sát các cảm thọ, lo lắng là thọ ưu. Đối với những người quan sát tâm, lo lắng là tâm sân. Đừng tìm kiếm nó, nó đến để cho bạn quan sát, đây là điểm cần ghi nhớ.

Trưởng giả Visakha hỏi tiếp “Ngược lại với cảm thọ trung tính là gì?” Tỳ khưu ni Dhammadinna trả lời: “Đó là vô minh”. Điều này  đúng vì mỗi khi cảm thọ trung tính sinh khởi mà không biết nghĩa là vô minh (avijja). Vậy cái gì trái ngược với vô minh? Câu trả lời là trí tuệ hoặc sự hiểu biết, là minh (vijja). Nếu cái này có mặt thì cái kia không có mặt. Do đó vipassanā là con đường của trí tuệ, trí tuệ trực giác sinh khởi và hiểu biết thực chứng phát sinh. Trái ngược với minh là gì? Đó là Quả (phala). Minh là trí tuệ, Quả là tâm tự do (vimutti citta). Cái gì đối lập với Quả, đó là Niết Bàn. Tại sao? Để cho tâm Quả phát sinh phải tu tập rất nhiều. Tu tập dựa trên các hiện tượng có điều kiện (saṅkhāra dhamma). Niết Bàn tồn tại như một Pháp vô điều kiện và không có nguyên nhân, vì vậy chúng đối lập nhau.

Nam cư sĩ Visakha rất hài lòng với những câu trả lời của tỳ khưu ni Dhammadina, rồi ông đến gặp Đức Phật và Ngài cũng yêu cầu quan sát về tính vô thường, vì đó là pháp có điều kiện. Tất cả pháp hữu vi đều kết thúc bằng vô thường. Niết Bàn chỉ nghiêng về phía Niết Bàn. Bất cứ pháp nào vô thường, quan sát tính vô thường của chúng. Những pháp thường hằng vĩnh viễn chỉ nghiêng về phía thường hằng,  nghĩa là sống với tâm an lạc tuyệt đối. Do đó bạn phải hướng tâm đến sự chấm dứt các hiện tượng sinh diệt để kết thúc đau khổ.

Đừng quán tưởng Niết Bàn, đây không phải là pháp để quán tưởng. Coi đó như một pháp xem xét (paccavekkhaṇā), một pháp thẩm tra. Tính chất, đặc điểm hay chất lượng của Niết Bàn là gì? Niết Bàn có thể được điều tra theo cách này? Không quan trọng. Con đường là vô thường và quả cũng vô thường. Quan sát các pháp có điều kiện là vô thường. Đối với Niết Bàn vô điều kiện, xem xét giống như ‘đó là, đó là’.

Tóm tắt lại buổi pháp thoại, để nhận ra Niết Bàn cần bắt đầu từ hiểu biết về các pháp có điều kiện, trí tuệ sinh khởi từ các pháp có điều kiện không phải là Đạo tuệ, mà là tuệ minh sát. Trí tuệ xuất phát từ tuệ minh sát là Đạo tuệ và Quả Tuệ. Tuệ giác minh sát lấy đối tượng là các pháp có điều kiện. Quan sát các hiện tượng có điều kiện đều vô thường là tuệ minh sát. Sau khi kết thúc tuệ giác minh sát, bạn sẽ nhìn thấy vô điều kiện, tức là Niết Bàn. Tại sao? Vì nó tự do khỏi các điều kiện.

Thực hành vipassanā kết thúc khi quan sát các pháp có điều kiện kết thúc. Sau đó trí tuệ nghiêng về phía không có điều kiện, bạn không thể tìm thấy Niết Bàn bên trong các hiện tượng có điều kiện. Nếu nó có thể, thì nó chỉ là tà kiến Niết Bàn (diṭṭhi nibbāna). Ăn ngon là hạnh phúc, vui chơi là hạnh phúc và người ta coi những thứ này là Niết Bàn nhất thời. Đó là tà kiến Niết Bàn.

Vì vậy nếu bạn muốn đến Niết Bàn, phải rời xa khỏi nơi có điều kiện. Nếu bạn không hiểu về các điều kiện thì bạn không thể tìm thấy lối ra. Sinh khởi có điều kiện và biến mất là vô ngã. Nếu bạn không nhìn thấy, thì Niết Bàn là không thể. Trước hết hãy biến mình từ thế giới mù quáng (puthujjana) thành thế giới hiểu biết. Thế giới mù quáng không nhìn thấy các pháp có điều kiện nhưng thế giới hiểu biết thì nhìn thấy điều đó.

Khi bạn nhìn thấy pháp không điều kiện thì trở thành bậc thánh nhân, người mà chắc chắn phải đi theo cách thức này. Trước khi gặp một người thầy tâm linh, ai cũng mù mịt về con đường. Khi bạn gặp được người thầy tốt, bạn sẽ chuyển sang một thế giới hiểu biết. Ví dụ khi ngài Sariputta và ngài Moggolana gặp người thầy đầu tiên của họ là Sanjaya, khi đó họ sống trong thế giới mù quáng. Họ trở thành những người của thế giới tốt đẹp sau khi gặp ngài thánh tăng Asaji, và cuối cùng trở thành những bậc thánh nhân. Đừng coi thế giới người mù là người tái sinh với nhị nhân (duhetuka), hay tam nhân (tihetuka), thế giới người mù là thế giới mà không có người bạn tinh thần tốt. Trước đây chưa gặp Đức Phật, tất cả đều bị mù, do đó đừng nghi ngờ gì về điều đó.

Sư Chân Thiện dịch

Scroll to Top