Tính liên tục trong các phương pháp nghiên cứu mới về Paṭṭhāna: Sự phát triển của việc nghiên cứu Paṭṭhāna ở Myanmar từ thế kỷ 18 sau Công nguyên
Trong tài liệu này, Ven Atulañāṇa đã biên soạn tác phẩm này để cung cấp cách học về Kusalatika, ‘tam đề thiện’, của Paṭṭhāna, bộ sách thứ bảy trong tạng Abhidhamma Paṭaka, cho học viên ở Srilanka. Ven Atulañāṇa đã tích lũy được kiến thức chuyên môn làm nền tảng cho tài liệu này trong suốt 5 năm học tập tại Myanmar. Tài liệu này dựa trên phương pháp của các học giả về Abhidhamma ở Myanmar như Mūla-paṭṭhāna Sayadaw Venerable Nārada (1898–1983) và Pahtàn-theík-pan Sayadaw Venerable Indaka (1903–1988). Tôi lần đầu gặp đại đức Atulañāṇa trực tuyến vào đầu năm 2023 khi tôi cùng một vài Phật tử khác tham dự một chuỗi ba lớp học Paṭṭhāna do sư giảng dạy bằng tiếng Anh. Những lớp học này đã dẫn đến hai điều quan trọng. Thứ nhất, trong suốt các lớp học này, tôi vô cùng vinh dự được sư Atulañāṇa mời viết một bài báo về phương pháp nghiên cứu Paṭṭhāna theo truyền thống của chư tăng Myanmar, và bài báo đó nay đã trở thành lời tựa cho cuốn sách này. Thứ hai, những lớp học này, ban đầu tập trung vào phần Paccanīyuddhāra, ‘Tóm tắt về điều kiện đối lập’ trong Paṭṭhāna, nay đã chuyển thành các lớp học trực tuyến thường xuyên, bao gồm nhiều văn bản Abhidhamma khác nhau. Điều này dẫn đến sự hình thành một nhóm Dhamma sôi nổi trên Viber, nơi các bản ghi âm bài giảng Abhidhamma và tài liệu học tập được chia sẻ tự do với lòng hào phóng và tử tế.
Quá trình học Paṭṭhāna của tôi cũng bắt đầu ở Myanmar, dưới sự hướng dẫn của các Ngài trưởng lão Paṭṭhāna đáng kính như Sayadaw Tilokābhivaṃsa (1938- ) và Ngài Sayadaw Dr Nandamālābhivaṃsa (1940- ), tôi cũng học tại nhiều tu viện khác nhau và các hiệp hội Abhidhamma tại gia từ năm 2010 đến năm 2012. Tôi tiếp tục viết luận án tiến sĩ về chủ đề này tại Đại học King, London và hoàn thành vào năm 2014. Luận văn đó là bài trình bày đầu tiên về truyền thống nghiên cứu Paṭṭhāna của Myanmar bằng tiếng Anh trong giới học thuật phương Tây, cũng vậy, tôi tin rằng tập tài liệu hiện tại của sư Atulañāṇa là tập sách đầu tiên ở Sri Lanka. Để nhấn mạnh tầm quan trọng của tài liệu này, tôi muốn giải thích trong lời tựa này về truyền thống Paṭṭhāna của Myanmar vừa dựa trên truyền thống chú giải được cho là của ngài Buddhaghosa và các nhà chú giải đáng kính khác trong truyền thống Mahāvihāra của Sri Lanka, vừa đồng thời phát triển các phương pháp chú giải riêng của mình. Ở đây tôi giải thích những phương pháp đó và mục đích của chúng, từ đó đặt trong bối cảnh cách thức mới mẻ của Sayadaw Mūla-paṭṭhāna trong việc nghiên cứu Paṭṭhāna, mà sư Atulañāṇa đã phát triển cho người học ở đây.
Việc nghiên cứu Paṭṭhāna tại các tu viện và một số hội cư sĩ Abhidhamma ở Myanmar từ những năm 1940 đến nay tuân theo một phương pháp sư phạm mới do Mūla-pahtàn Sayadaw Venerable Nārada nói trên sáng tạo và giảng dạy (từ nay trở đi Mūla-paṭṭhāna Sayadaw, 1898–1983). Cách tiếp cận mới mẻ của Mūla-paṭṭhāna Sayadaw trong việc nghiên cứu Paṭṭhāna được thể hiện qua việc Ngài sử dụng rộng rãi các bảng biểu để tóm tắt các khía cạnh chính của văn bản kinh điển Pali cũng như văn bản chú giải Abhidhamma. Công trình nghiên cứu của Ngài rất toàn diện, được cho là đã nghiên cứu và hoàn thiện toàn bộ Paṭṭhāna, tức là năm tập trong ấn bản của kỳ Kết tập kinh điển lần thứ sáu ở Myanmar. Phương pháp nghiên cứu Paṭṭhāna của Ngài kết hợp những đặc điểm chính của văn bản kinh điển với các văn bản chú giải được lấy từ cả truyền thống Mahāvihāra của Sri Lanka và truyền thống Abhidhamma của Myanmar.
Trước khi chuyển sang phương pháp sư phạm của Myanmar, một vài lời về cụm từ “truyền thống Mahāvihāra của Sri Lanka” sẽ hữu ích. Các văn bản chú giải từ truyền thống Mahāvihāra của Sri Lanka mà tôi đề cập đến là các bài chú giải và phụ chú giải bằng tiếng Pali về Abhidhamma, chủ đề đang được thảo luận, vốn theo truyền thống được cho là thuộc về truyền thống chú giải của trường phái Mahāvihāra. Tu viện Mahāvihāra ở Anuradhapura, Sri Lanka, được cho là nơi nhà chú giải nổi tiếng Buddhaghosa từng cư ngụ vào thế kỷ thứ 5 sau Công nguyên. Vào thế kỷ 12 sau Công nguyên, tu viện này trở thành tổ chức duy nhất được công nhận trong quá trình thống nhất Tăng đoàn dưới thời Parākramabāhu I, một cuộc cải cách cũng chứng kiến việc tài trợ cho việc biên soạn nhiều phụ chú giải và các cẩm nang chỉ dẫn. Các chú giải bằng tiếng Pali được cho là của ngài Buddhaghosa và các phụ chú giải về những bài đó mà chúng ta có được từ Sri Lanka chính là những tài liệu được lưu giữ trong dòng truyền thừa Mahāvihāra.
Trong lời tựa này, tôi đề cập đến các chú giải và chú giải phụ bằng tiếng Pali về Paṭṭhāna trong dòng truyền thừa Mahāvihāra này, cụ thể là Pañcappakaraṇa-aṭṭhakathā, Pañcappakaraṇa-mūlaṭīkā và Pañcappakaraṇa-anuṭīkā. Ba tài liệu này là các văn bản chú giải về năm trong bảy bộ Abhidhamma kinh điển, đó là Dhātukathā, Puggalapaññatti, Kathāvatthu, Yamaka và Paṭṭhāna. Tôi sử dụng cụm từ ‘Chú giải Paṭṭhāna’ (Paṭṭh-a) để chỉ aṭṭhakathā về Paṭṭhāna trong Pañcapapparaṇaaṭṭhakathā. Cụm từ ‘Phụ chú giải Paṭṭhāna’ (Paṭṭh-mṭ) đề cập đến mūlaṭīkā về Paṭṭhāna trong Pañcapappakaraṇa-mūlaṭīkā. Từ viết tắt ‘Paṭṭh’ đề cập đến bộ Paṭṭhāna kinh điển trong ấn bản của Hội nghị kết tập kinh điển lần thứ sáu của Myanmar. Các truyền thống chú giải và sư phạm mà tôi đang thảo luận ở đây đều phát triển qua nhiều lớp giải thích, trong đó mỗi thế hệ nhà chú giải hoặc giáo thọ sư đều tìm cách giải thích, diễn giải, phân tích và biện minh cho các từ ngữ, cụm từ và câu văn được tìm thấy trong các văn bản kinh điển và trong các văn bản chú giải mà họ có quyền tiếp cận. Ví dụ, bộ sách aṭṭhakathā về Paṭṭhāna giải thích, diễn giải, biện minh và phân tích Paṭṭhāna kinh điển thông qua việc chú giải cẩn thận, từng từ và từng cụm từ trong văn bản. Mūlaṭīkā trong Paṭṭhāna lần lượt thực hiện điều này đối với aṭṭhakathā, và anuṭīkā đối với mūlaṭīkā. Truyền thống Paṭṭhāna của Myanmar đã dựa trên các tầng lớp khác nhau của các văn bản chú giải này và phát triển phương pháp chú giải riêng của họ. Dưới đây, chúng ta sẽ dần dần phân tích một số sự phát triển này liên quan đến việc nghiên cứu Paṭṭhāna.
Giờ chúng ta hãy cùng xem xét sự phát triển của việc nghiên cứu Paṭṭhāna ở Myanmar. Tôi bắt đầu bằng những đặc điểm chính của các phương pháp sư phạm hiện nay và truy tìm nguồn gốc của những đặc điểm này cũng như tầm quan trọng của chúng trong truyền thống Paṭṭhāna của Myanmar. Là một học viên của Paṭṭhāna ở Myanmar vào thế kỷ 21 sau Công nguyên, nhiệm vụ đầu tiên của chúng ta là ghi nhớ: (1) sự phân loại của hai mươi bốn duyên (paccaya) cốt lõi của nhân quả theo chín nhóm paccaya chính và các paccaya phụ nằm trong đó, và (2) các công thức tụng niệm của ‘liệt kê đơn giản’ (suddhasaṅkhyā) của Pañhāvāra, ‘Chương thẩm tra’. Chúng ta có thể tự hỏi Paṭṭhāna nói về điều gì, những đặc điểm của việc nghiên cứu Paṭṭhāna là gì và chúng đến từ đâu.
Paṭṭhāna đề cập đến chiều sâu và bề rộng của tính điều kiện, giải thích các mối quan hệ điều kiện giữa các dhamma, ‘thực tại chân đế’, được liên hệ thông qua hai mươi bốn duyên (paccaya). Các dhamma trong Paṭṭhāna là hai mươi hai bộ ba (tika) và một trăm bộ đôi (duka) được liệt kê trong Mātikā, xuất hiện ở tập đầu tiên trong Abhidhamma Piṭaka. Hai mươi bốn duyên có thể được coi là những lực điều kiện (satti) tác động lên mối quan hệ giữa các pháp. Cấu trúc của Paṭṭhāna rất phức tạp và khó theo dõi vì có nhiều phần và tiểu phần trong văn bản.
Đặc điểm đầu tiên của các phương pháp sư phạm Myanmar, là sự phân loại sâu về hai mươi bốn paccaya, liên quan đến các loại paccaya trong phần gọi là Paccanīyuddhāra, ‘Tóm tắt về duyên đối lập’. Paccanīyuddhāra được bao gồm trong tập 1 của ấn bản hội nghị kết tập Tipitaka lần thứ sáu của Myanmar về bộ Paṭṭhāna (Paṭṭh 527–531). Nó được cho là do các trưởng lão của một hội đồng Phật giáo biên soạn (Paṭṭh-a 527; Nandamedhā 1973: 527). Paccanīyuddhāra cung cấp bản tóm tắt về các mối quan hệ có điều kiện giữa ‘pháp thiện’ (kusala-dhamma), ‘pháp bất thiện’ (akusala-dhamma) và ‘pháp vô ký’ (abyākatadhamma) được liên hệ bởi tám nhóm paccaya chính và bởi các nhóm paccaya kết hợp (missaka). Trong ‘tam đề thiện’ (kusalatika), có mười lăm loại quan hệ điều kiện, được coi là “câu trả lời” (vissajjana). Chúng là mười lăm cách mà các pháp làm duyên (paccaya-dhamma) liên hệ với các pháp được duyên (paccayuppana-dhamma), trong đó pháp làm duyên và pháp được duyên là bất kỳ pháp nào sau đây: pháp thiện, pháp bất thiện và pháp vô ký, riêng lẻ hoặc kết hợp. Ví dụ, đoạn 527 của Paccanīyuddhāra như sau:
Kusalo dhammo kusalassa dhammassa ārammaṇapaccayena paccayo, sahajātapaccayena paccayo, upanissayapaccayena paccayo.
Kusalo dhammo akusalassa dhammassa ārammaṇapaccayena paccayo, upanissayapaccayena paccayo.
Kusalo dhammo abyākatassa dhammassa ārammaṇapaccayena paccayo, sahajātapaccayena paccayo, upanissayapaccayena paccayo, pacchājātapaccayena paccayo, kammapaccayena paccayo.
Kusalo dhammo kusalassa ca abyākatassa ca dhammassa sahajātapaccayena paccayo.
Pháp thiện liên quan đến pháp thiện bởi cảnh duyên, đồng sinh duyên và cận y duyên,
Pháp thiện liên quan đến pháp bất thiện bởi cảnh cảnh duyên và cận y duyên,
Pháp thiện liên quan đến pháp vô ký bởi cảnh duyên, đồng sinh duyên, cận y duyên, hậu sinh duyên và nghiệp duyên,
Pháp thiện liên quan đến pháp thiện và pháp vô ký bởi đồng sinh duyên.
Đoạn 527 trình bày bốn mối quan hệ điều kiện giữa pháp điều kiện là pháp thiện và các pháp được điều kiện là pháp thiện, bất thiện và vô ký theo riêng lẻ hoặc kết hợp. Bốn mối quan hệ điều kiện này là những câu trả lời khả thi (vissajjana) mà chúng ta nhận được trong tam đề thiện. Đoạn 527 cũng đưa ra bản tóm tắt về các lực duyên (paccaya-satti) trong các mối quan hệ điều kiện này, cụ thể là: cảnh duyên, đồng sinh duyên, cận y duyên, hậu sinh duyên và nghiệp duyên. Đoạn 528 trình bày bốn mối quan hệ điều kiện giữa pháp điều kiện là pháp bất thiện và các pháp được điều kiện là pháp thiện, bất thiện và vô ký theo riêng lẻ hoặc kết hợp. Các đoạn văn trong Paccanīyuddhāra đều tuân theo cùng một khuôn mẫu như trong 527 và 528.
Paccanīyuddhāra có ba chức năng. Thứ nhất, nó có thể được coi là một tập hợp các mã hoặc bản tóm tắt có thể được mở rộng để đưa ra phân tích chi tiết (vibhaṅga) về các mối quan hệ điều kiện trong ba phần chính. Các phần này là Paccayapaccanīya, Paccayānulomapaccanīya và Paccayapaccanīyānuloma của tam đề thiện trong Paṭṭhāna. Thứ hai, nó đưa ra bản tóm tắt về tất cả các sự kết hợp có thể liên quan đến nhau thông qua hai mươi bốn paccaya trong tam đề thiện. Thứ ba, Paccanīyuddhāra tập hợp hai mươi bốn paccaya và các paccaya phụ của chúng thành các nhóm paccaya chính. Nếu chúng ta thu thập và liệt kê các paccaya trong Paccanīyuddhāra, sẽ có tám nhóm paccaya chính, liên quan đến các mối quan hệ điều kiện riêng lẻ. Chúng là: (1) cảnh duyên (ārammaṇa-paccaya), (2) đồng sinh duyên (sahajāta-paccaya), (3) cận y duyên (upanissaya-paccaya), (4) tiền sinh duyên (purejāta-paccaya), (5) hậu sinh duyên (pacchājāta-paccaya), (6) nghiệp duyên (kamma-paccaya), (7) vật thực duyên (āhāra-paccaya), và (8) quyền duyên. (indriya-paccaya) (Paṭṭh 527- 529). Mục tiêu chính của Paccanīyuddhāra là trình bày một phiên bản cô đọng của hai mươi bốn paccaya dưới dạng các nhóm paccaya chính. Xin lưu ý rằng tôi sử dụng từ ‘nhóm’ để chỉ từ myò (မ ိ ်း) trong tiếng Myanmar, nghĩa đen là ‘loại’ hoặc ‘kiểu’. Điều này có nghĩa là hai mươi bốn paccaya được cô đọng lại, hoặc nằm trong, các ‘nhóm’ paccaya này. Một ví dụ về cách điều này xảy ra như sau: nhân duyên (hetu-paccaya) được bao hàm trong nhóm paccaya đồng sinh duyên. Tại sao lại như vậy? Nhân duyên là một trạng thái trong đó các pháp làm duyên hoạt động như một nền tảng vững chắc cho các pháp được duyên. Nó được ví như một rễ cọc, mang lại sự vững chắc và hỗ trợ cho sự phát triển của một cái cây. Các pháp làm duyên trong mối quan hệ có điều kiện này là: ba căn bất thiện: tham sân, si, và ba căn thiện: vô tham, vô sân, vô si có thể mang lại nghiệp tốt hoặc vô ký. Các pháp được duyên là những trạng thái tâm gắn liền với mỗi nhân và sắc (rūpa) sinh khởi đồng thời với chúng. Bởi vì các pháp được duyên sinh khởi đồng thời với các pháp làm duyên trong mối quan hệ có điều kiện này, nên nhân duyên được bao hàm trong nhóm đồng sinh duyên.
Trong chú giải Paṭṭhāna (aṭṭhakathā) về Paccanīyuddhāra, chúng ta thấy một lời giải thích chi tiết hơn về cách hai mươi bốn paccaya và các paccaya phụ của chúng được thu thập và tóm tắt (saṅgaha) dưới tám nhóm paccaya này (Paṭṭh-a 527). Chúng ta có thể tự hỏi ‘paccaya phụ’ là gì. Trong hai phần chính đầu tiên của Paṭṭhāna—tức là Paccayuddesa, ‘Danh sách các duyên’, và Paccayaniddesa, ‘Trình bày phân tích các duyên’, chúng ta thấy một danh sách gồm hai mươi bốn duyên và các mối quan hệ điều kiện được liên hệ bởi hai mươi bốn duyên đó. Trong các phần chính khác ở phần sau của Paṭṭhāna, chúng ta thấy rằng hai mươi bốn paccaya được phân tích thành những gì Karunadasa gọi là paccaya “phụ” (2010: 269). Ví dụ, ‘trưởng duyên’ (adhipatipaccaya) có hai paccaya phụ: (i) cảnh trưởng duyên (ārammaṇādhipati) và (ii) đồng sinh trưởng duyên (sahajātādhipati) (Paṭṭh 1.157; Nārada 1981: 62; Karunadasa 2010: 267). Trưởng duyên được bao hàm trong hai nhóm paccaya chính, đó là nhóm cảnh duyên (ārammaṇa) và nhóm đồng sinh duyên (sahajāta). Cảnh trưởng duyên đề cập đến một mối quan hệ có điều kiện trong đó đối tượng (ārammaṇa), như một pháp làm duyên, chi phối các trạng thái tinh thần coi nó là đối tượng của chúng. Vì pháp làm duyên như cảnh duyên (ārammaṇa) chi phối các pháp được làm duyên, nên cảnh trưởng duyên (ārammaṇādhipati-paccaya) được bao gồm trong nhóm cảnh duyên. Đồng sinh trưởng duyên đề cập đến một mối quan hệ có điều kiện, trong đó pháp làm duyên tác động chi phối lên các pháp được duyên. Trong mối quan hệ có điều kiện này, pháp làm duyên và pháp được duyên cùng sinh khởi, và do bản chất đồng sinh này nên đồng sinh trưởng duyên (sahajātādhipati-paccaya) được bao gồm trong nhóm đồng sinh duyên. Trong ví dụ về trưởng duyên này, hai duyên phụ có bản chất riêng biệt và chúng có thể được coi là hai biến thể của trưởng duyên (xem Kyaw 2014: 210–212 để biết giải thích chi tiết về bản chất của chúng).
Trong truyền thống Paṭṭhāna của Myanmar , tám nhóm lớn paccaya này trở nên quan trọng trong việc nghiên cứu Paṭṭhāna. Trong tiếng Myanmar, ‘tám nhóm paccaya‘ được gọi là hkaung-saung-pyítsè-shít-myò (န မော်း) (Tilokābhivaṃsa 2000: 10). Theo như chúng tôi biết, tầm quan trọng của tám nhóm paccaya trong các phương pháp sư phạm của Myanmar có thể được xác định ít nhất là từ đầu những năm 1910. Chúng tôi biết điều này vì chúng tôi tìm thấy tám nhóm paccaya được liệt kê trong ấn bản in năm 1911 của Pahtàn-thòn-saung-twe, ‘Ba tập của Paṭṭhāna‘. Tác phẩm này được biên soạn bởi Theìnnthathana-paing Sayadaw Venerable Sūriya (1764–1840; မြောင်းမ). Trong tài liệu này, chúng tôi cũng nhận thấy rằng tám nhóm chính được mở rộng để bao gồm các paccaya phụ và tổng cộng có bốn mươi bảy paccaya được liệt kê (Sūriya 1911: 11–12).
Khi tham khảo các tài liệu tiếng Myanmar hiện đại hơn như của Myint Swe (1979: 300–315), chúng ta thấy chín nhóm paccaya chính và tổng cộng bốn mươi chín loại paccaya. Vậy các lớp bổ sung này đến từ đâu? Những phân loại paccaya sâu hơn này được xây dựng dựa trên tám nhóm chính và bốn mươi bảy loại paccaya được tìm thấy trong tác phẩm của Sūriya. Trong các đoạn văn của chú giải Paṭṭhāna giải thích bản chất của mối quan hệ có điều kiện giữa pháp thiện và pháp bất thiện, chúng tôi nhận thấy rằng một trong tám nhóm paccaya, tức là nhóm cận y duyên (upanissaya), được phân tích thành hai nhóm phụ: (i) vô gián cận y duyên (anantarūpanissaya) và (ii) tự nhiên-cận y duyên (pakatūpanissaya) (Paṭṭh-a 527). Điều này có nghĩa là tám nhóm paccaya đã được mở rộng thêm thành chín nhóm trong chú giải Paṭṭhāna (Kyaw 2014: 310–312). Trong tiếng Myanmar, chín nhóm paccaya được gọi là pyítsè-kòmyò (အဆာ်းမ).
Vấn đề quan trọng ở đây là hai mươi bốn paccaya được sắp xếp thành chín nhóm chính. Khi so sánh danh sách bốn mươi bảy paccaya của Sūriya với danh sách trong các tài liệu hướng dẫn hiện đại của Myanmar về Paṭṭhāna, danh sách của Sūriya không bao gồm hai paccaya phụ trong nhóm thứ chín, tức là nhóm tự nhiên cận y duyên (pakatūpanissaya). Đây là lý do tại sao họ đưa ra tổng cộng bốn mươi bảy, chứ không phải tổng cộng bốn mươi chín paccaya. Mūlapaṭṭhāna Sayadaw viết rằng chú giải Paṭṭhāna về Paccanīyuddhāra đưa ra danh sách bốn mươi chín paccaya và giải thích chúng một cách chi tiết (Nārada 1981: 62–63). Ở đây chúng ta thấy rằng truyền thống Abhidhamma của Myanmar tiến thêm một bước nữa trong việc phân loại và nêu rõ hai mươi bốn paccaya theo chín nhóm paccaya và một danh sách dài hơn các paccaya phụ.
Tác giả: Pyi Phyo Kyaw
Núi Dinh, mùa khô 2026, Sammaditthi dịch, biên tập

