Sattabbhantara Sīmā ở trong rừng

Sīmā là khu vực cương giới hay kiết giới được chư tăng ấn định cụ thể tại một nơi nào đó để thực hiện các tăng sự cùng nhau như lễ thọ Đại giới, lễ Bố-tát, lễ Tự tứ, lễ dâng y Kaṭhina,… Vì vậy trong Giáo Pháp một khu vực được ấn định là sīmā là điều không thể thiếu vì các Tăng sự đều diễn ra ở bên trong khu vực sīmā.

Sīmā là khu vực giới hạn được lập nên bởi sự hoà hợp của Tăng khi thực hiện Tăng sự. Trong Luật tạng đề cập nhiều loại sīmā, nhưng chia làm hai loại chính:

  1. Baddha sīmā là sīmā được lập nên bởi Tăng bằng nhị tác bạch tuyên ngôn trong một khu vực giới hạn.
  2. Abaddha sīmā là sīmā được hình thành một cách tự nhiên mà không thông qua tăng sự nào của Tăng. Abaddha sīmā là khu cương giới được chư tăng giả định tạm thời giữa làng, khu rừng hay giữa sông hồ,mà không cần tuyên ngôn và vật mốc,để thực hiện các tăng sự.Abaddha sīmā có bốn loại
    1. Gāma sīmā (khu vực làng được nhà nước xác định ranh giới)
    2. Udakukkhepa sīmā (sīmā được xác định ranh giới bằng việc té nước)
    3. Sattabbhantara sīmā (khu vực sīmā rộng 7 abbhantara)
    4. Visumgāma sīmā (sīmā trong khu làng được vua ban)

Ở bài này chúng ta chỉ tìm hiểu về Sattabbhantara sīmā, thuộc về Abaddhasīmā, là sīmā được hình thành tự nhiên ở rừng. 

Theo tạng Luật, Mahavagga, chương lễ Uposatha có nói về các sīmā được hình thành tự nhiên không cần tuyên ngôn và vật mốc như sau:

(“65. Này các tỳ khưu, khi ranh giới chưa được ấn định chưa được thiết lập, vị (tỳ khưu) sống nương tựa vào ngôi làng hoặc thị trấn nào, trong trường hợp ấy ranh giới làng của ngôi làng ấy hoặc ranh giới thị trấn của thị trấn ấy là (ranh giới) đồng cộng trú chung một lễ Uposatha.

  1. Này các tỳ khưu, nếu ở nơi không phải là làng, ở trong rừng, trong trường hợp ấy (khu vực) bảy abbhantara ở xung quanh là (ranh giới) đồng cộng trú chung một lễ Uposatha.
  2. Này các tỳ khưu, toàn bộ dòng sông không phải là ranh giới, toàn bộ biển cả không phải là ranh giới, toàn bộ hồ thiên nhiên không phải là ranh giới. Này các tỳ khưu, trong dòng sông, trong biển cả, trong hồ thiên nhiên, (khu vực) do việc ném nước ra xung quanh của người đàn ông (có sức mạnh) trung bình là (ranh giới) đồng cộng trú chung một lễ Uposatha trong trường hợp ấy.”)

Như vậy trong trường hợp các tỳ khưu ở trong rừng, nếu không có baddhasīmā thì sīmā được sử dụng tạm thời có thể là Sattabbhantarasīmā. 

Ba từ kết hợp tạo nên thuật ngữ sattabbhantarasīmā: satta (bảy), abbhantara (khoảng cách/diện tích trong bán kính), và sīmā (ranh giới). Chiều dài của một abbhantara là 28 sải tay. Một abbhantara (chiều dài 28 sải tay) khi nhân với bảy sẽ bằng chiều dài 196 sải tay. Chiều dài sải tay này đo mọi hướng từ các tỳ khưu ngoài cùng của hội chúng. Nói cách khác, phép đo này được thực hiện bằng cách kéo dài 196 sải tay từ mỗi góc của các tỳ khưu ngoài cùng trong hội chúng. 

Chu vi 196 sải tay này phải khớp hoặc vượt quá theo mọi hướng để nó trở thành một sattabbhantarasīmā hợp lệ.  Nếu, theo bất kỳ hướng nào, chiều dài 196 sải tay chạm hoặc chồng lên ranh giới làng hoặc ranh giới nước, khu vực đó không thể được tính là một sattabbhantarasīmā. Số lượng tỳ khưu càng nhiều, không gian mở rộng ra ngoài từ trung tâm càng lớn, nhưng chiều dài tối thiểu 196 sải tay cho mỗi hướng sẽ vẫn được giữ nguyên. Nếu một hội chúng tỳ khưu khác đang họp tại một không gian gần ranh giới thì phải giữ khoảng cách giữa bảy abbhantara. Điều này có nghĩa là (28×7) = chiều dài 196 sải tay ở giữa.

Phép đo chiều dài 196 sải tay, hay sự tương đương của nó, phải chính xác cho từng hướng chính. Tuy nhiên, phép đo chính xác phụ thuộc vào phép đo chính xác giữa mét và chiều dài sải tay. Chiều dài bảy 196 sải tay theo mỗi nước có sự khác nhau, theo Myanmar là 89 mét, theo Thái Lan là 98 mét trong khi phép đo của Sri Lanka chỉ là 80 mét.


Theo thuật ngữ Luật tạng Pali-Việt (Sư Giác Nguyên dịch)

Sattabbhantara-sīmā: Khi các tỷ kheo muốn làm Bố Tát trong một khu rừng mênh mông thì khu vực bán kính bảy Abbhantara chung quanh chỗ tăng hội lúc đó trở thành một khu vực Sīmā tạm thời, không cần tuyên ngôn kiết giới hay vật mốc làm dấu ranh. Mỗi Abbhantara được xác định tương đương với hai mươi tám khuỷu tay của người trung bình. Vậy bảy Abbhan-tara là 196 khuỷu tay (gọi theo chữ cũ là hắc tay).


Theo pháp kết giới sīmā ngài Bửu Chơn

Abbhantara: Ở trong rừng không phải là làng xóm, trong khoảng chung quanh chỗ vị tỳ khưu cư ngụ có sīmā 7 abbhantara mỗi phía. Đức Phật Ngài cho phép các thầy tỳ khưu ở trong rừng như vầy: “Agāmake bhikkhave arañña samantā sattabbhantarā ayaṃ tattha samānasaṃvāsā ek’uposathā” – Này các thầy tỳ khưu, tỳ khưu ở trong rừng không phải là xóm làng thì có sīmā 7 abbhantara chung quanh chỗ ấy chư tăng phải hòa hợp lại để làm tăng sự như lễ Phát lộ”

Bài liên quan